оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно
You are here: Tư liệu nghiên cứu Lập luận lịch sử, pháp lý Quan điểm của Trung Quốc ục Hải dương Quốc gia Trung Quốc nói về Luật Biển Việt Nam

ục Hải dương Quốc gia Trung Quốc nói về Luật Biển Việt Nam

Email In PDF.
Ngày 21/6, trang mạng của Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc đăng bài phân tích của chuyên gia Sơ Chấn Á, chuyên viên Viện nghiên cứu chiến lược phát triển biển thuộc Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc, trong đó cho rằng Quốc hội Việt Nam thông qua “Luật biển Việt Nam”, đưa quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và các vùng biển phụ cận vào cái gọi là “chủ quyền” và “quyền quản lý” của Việt Nam, đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển của Trung Quốc, đồng thời tập trung phân tích một số nội dung xung quanh “Luật biển Việt Nam”. Nội dung cụ thể như sau:
1/ Khái quát “Luật biển Việt Nam ”
Ý tưởng xây dựng luật biển của Việt Nam đã được chuẩn bị từ lâu, ngay từ năm 1998, kế hoạch lập pháp đã được đưa vào lộ trình của Quốc hội Việt Nam. Tháng 1/2007, Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, mục đích đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành “cường quốc hải dương”. “Luật biển Việt Nam ” chính thức ra đời, là bước đi quan trọng và kết quả tất yếu của Việt Nam nhằm gấp rút đẩy mạnh chiến lược biển đã vạch ra.
“Luật biển Việt Nam” là một bộ luật mang tính tổng hợp, có tính chất của luật cơ bản, trên cơ sở lập pháp biển Việt Nam trước đây đã đề ra các quy định có tính hệ thống hơn trong việc bảo vệ chủ quyền và quyền lợi biển, ngoài ra còn có những quy định mang tính toàn diện trong việc coi trọng phát triển kinh tế biển, tăng cường quản lý và bảo vệ biển.
Nội dung trọng tâm của bộ luật này bao gồm: thứ nhất, xác định rõ phạm vi của bộ luật gồm các vùng biển quản lý, các hải đảo, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa và các quần đảo khác do Việt Nam tuyên bố chủ quyền, nhấn mạnh “phát huy sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam, áp dụng các biện pháp cần thiết” để bảo vệ chủ quyền, quyền lợi chủ quyền và quyền quản lý của Việt Nam tại các vùng biển, hải đảo và quần đảo. Thứ hai, căn cứ vào “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển” xác định rõ chế độ vùng biển của Việt Nam, quy định áp dụng Luật đường cơ sở để xác định đường cơ sở lãnh hải, đặc biệt đề cập đến khái niệm “quần đảo” mà các quốc gia lục địa rất ít sử dụng. Thứ ba, tăng cường phát triển kinh tế biển, đẩy mạnh triển khai hợp tác vùng biển quốc tế. Bốn là xác định rõ lực lượng tuần tra và kiểm soát trên biển.
2/ “Luật biển Việt Nam ” viết lãnh thổ Trung Quốc đi ngược lại luật pháp quốc tế
Việt Nam lần này cố ý đưa lãnh thổ Trung Quốc vào Luật biển Việt Nam là hành vi sai lầm, coi thường chủ quyền lãnh thổ vốn có của Trung Quốc, đi ngược lại với “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông” (DOC). Điều này đã xâm phạm nghiêm trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi biển của Trung Quốc, đã đi ngược lại với nguyên tắc và tinh thần căn bản của luật pháp quốc tế, là phi pháp và không có hiệu lực.
+ Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo Tây Sa và Nam Sa.
Nhìn từ góc độ lịch sử, các ghi chép và sự thật lịch sử hàng nghìn năm chứng minh Trung Quốc là quốc gia phát hiện sớm nhất, khai thác sớm nhất, quản lý các đảo tại Nam Hải sớm nhất. Trung Quốc đã phát hiện các đảo Nam Hải từ đời Hán, thời Đường-Tống đã phát hiện địa danh cổ chuyên chỉ quần đảo Nam Sa, dưới thời Nguyên đã đến quần đảo Nam Sa, bản đồ của thời Minh-Thanh đã đưa quần đảo Nam Sa vào lãnh thổ bờ cõi Trung Quốc. Năm 1948, Chính phủ Trung Quốc khi đó đã đánh dấu đường đứt đoạn Nam Hải và phát hành công khai bản đồ này, xác định rõ chủ quyền của các đảo, bãi ngầm trong phạm vi đường đứt đoạn cũng như quyền lợi tài nguyên trong vùng biển này. Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập năm 1949 đã kế thừa và tiếp tục sử dụng đường đứt đoạn đó. Trước thập niên 70 của thế kỷ 20, các quốc gia xung quanh Nam Hải và cộng đồng quốc tế không có bất cứ ý kiến trái chiều nào đối với quyền lợi của Trung Quốc tại Nam Hải, điều đó đồng nghĩa với việc ngầm thừa nhận nó.
Nhìn từ góc độ pháp lý, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc và quy tắc của luật pháp quốc tế về lãnh thổ giành được, luật thời gian thực tế, quyền lợi mang tính lịch sử. Trung Quốc còn thông qua luật biển không ngừng tái khẳng định các quần đảo tại Nam Hải bao gồm quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc. “Tuyên bố của Chính phủ Nước CHND Trung Hoa về lãnh hải” năm 1958 đã xác định rõ chế độ lãnh hải Trung Quốc. Theo Điều 1 của Tuyên bố này, “Quy định này phù hợp cho tất cả lãnh thổ của nước CHND Trung Hoa”, bao gồm đại lục Trung Quốc và các đảo duyên hải... Đài Loan và các đảo xung quanh của nó, các đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Điều khoản “lãnh thổ cấu thành” tại Điều 2 “Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp” năm 1992 đã tái khẳng định “lãnh thổ lục địa bao gồm đại lục Trung Quốc và các đảo duyên hải, Đài Loan và các đảo phụ thuộc gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác đều thuộc Trung Quốc”. Trong quy định của “Quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc” năm 2012 về bảo vệ khu vực hải đảo rõ ràng đưa quần đảo Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa vào khu vực bảo vệ.
+ Cơ quan Lập pháp Việt Nam đưa lãnh thổ Trung Quốc vào luật không có tính hợp pháp.
Việc điều 1 “Luật biển Việt Nam ” đưa quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa vào phạm vi chủ quyền là lần đầu tiên Việt Nam đưa ra quy định rõ ràng đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa vào trong bộ luật biển cơ bản ở cấp cao nhất. Hành động của Việt Nam chẳng qua là nhằm tạo ra “tranh chấp Tây Sa”, củng cố “căn cứ pháp lý” cái gọi là “chủ quyền” Nam Sa. Cách làm này của Việt Nam không có căn cứ pháp lý, cơ bản không thể hình thành căn cứ luật quốc tế có hiệu lực.
Thứ nhất, mưu toan thông qua lập pháp đưa lãnh thổ nước khác làm của riêng mình, không thể tạo ra hiệu lực pháp luật. Điều 2 “Hiến chương Liên Hợp Quốc” quy định các nước thành viên Liên Hợp Quốc không được xâm hại sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia hoặc bất cứ nước thành viên nào. Như đã nêu ở trước, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc. Một loạt văn bản pháp luật của Trung Quốc kể trên cũng cho thấy rõ Trung Quốc xưa nay cũng hết sức coi trọng thông qua lập pháp để cố định sự thật chủ quyền. Việc Việt Nam bất chấp lịch sử và sự thật, đưa lãnh thổ vốn có của Trung Quốc vào trong luật Việt Nam đã xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, là phi pháp và không có hiệu lực. Ý đồ của Việt Nam là lấy hình thức lập pháp để hợp pháp hoá lãnh thổ xâm chiếm phi pháp, hành vi phi pháp này làm sao có thể tạo ra quyền lợi hợp pháp?
Thứ hai, hành vi trái với nguyên tắc cấm phản ngôn là vô hiệu. Trước năm 1974, bất kể trong tuyên bố, trong công hàm hay trên báo chí, bản đồ và sách giáo khoa, Chính phủ Việt Nam đều chính thức thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1956, trên diễn đàn ngoại giao, Việt Nam đã công khai bày tỏ căn cứ vào tư liệu của phía Việt Nam , nhìn từ góc độ lịch sử, quần đảo Tây Sa và Nam Sa nên thuộc về Trung Quốc. Điều này cho thấy Việt Nam đã sớm thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Từ đó đến nay, Việt Nam đã lật lọng, bất chấp lập trường và cam kết nhà nước trước đây, đưa quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc vào trong luật Việt Nam. Điều này đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cấm phản ngôn trong luật pháp quốc tế, là phi pháp và không có hiệu lực.
Thứ ba, đi ngược lại cam kết nhà nước liên quan là không áp dụng hành động đơn phương. Hai nước Trung-Việt đều là nước ký kết DOC. Một trong những nội dung trung tâm của DOC là tại quy định của Điều 5, “các bên cam kết duy trì kiềm chế, không áp dụng hành động khiến tranh chấp phức tạp hoá, mở rộng hoá và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực”. Việt Nam cố tình đưa quần đảo Tây Sa và Nam Sa vào luật, trực tiếp vi phạm quy định của điều khoản trên. Điều này cho thấy Việt Nam thiếu tôn trọng và chấp hành thành ý của DOC, không có thiện ý thực hiện tuyên bố này.
3/ Phân tích nội dung liên quan của “Luật biển Việt Nam ”
Ngoài việc đưa quần đảo Tây Sa và Nam Sa vào phạm vi chủ quyền của mình, nội dung liên quan của “Luật biển Việt Nam ” cũng không có lợi cho Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển.
+ Việt Nam khoác lên mình “sự hợp pháp” đối với các vùng biển chủ trương phi pháp:
Quy định của vùng biển liên quan tại “Luật biển Việt Nam” cấy ghép nhiều cụm từ “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển”, đồng thời lựa chọn nhiều quy định tương đối có lợi cho Việt Nam, những quy định này tạo ra những “căn cứ pháp lý” cho các vùng biển đòi chủ quyền tại Nam Hải, như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và ngoài thềm lục địa, phủ định đường đứt đoạn Nam Hải của Trung Quốc. Ví dụ, bộ luật này nhấn mạnh “các đảo không thích hợp cho cuộc sống nhân loại hoặc hoạt động khai thác kinh tế không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”, ám chỉ quần đảo Tây Sa và Nam Sa không thể có quyền lợi về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa:
+ Tạo căn cứ pháp lý nhằm cản trở hoạt động bình thường của Trung Quốc tại Nam Hải.
“Luật biển Việt Nam” xác định rõ lực lượng tuần tra và kiểm soát trên biển tăng cường tuần tra, kiểm soát và chấp pháp chủ quyền đối với các vùng biển chủ trương quản lý, với nhiệm vụ chủ yếu là hạn chế và cản trở Trung Quốc khai thác và quản lý bình thường tại Nam Hải. Quy định khu vực an ninh 500 m đối với đảo nhân tạo, thiết bị và kết cấu xung quanh là ý đồ nhằm thiết lập trướng ngại pháp lý đối với các hoạt động tuần tra chấp pháp của tàu thuyền Trung Quốc.
+ Tạo môi trường pháp luật để thúc đẩy quốc tế hoá vấn đề Nam Hải:
Nhiều điều khoản của “Luật biển Việt Nam” quy định rõ ràng phải tôn trọng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức nước ngoài và cá nhân triển khai hoạt động thăm dò, khai thác, nghiên cứu khoa học, công trình, thiết bị tại các vùng biển, như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa… của Việt Nam. Việt Nam thông qua lập pháp, cố gắng lôi kéo và khuyến khích các công ty và tổ chức nước ngoài tham gia các hoạt động thăm dò, khai thác, điều tra tại vùng biển quản lý của Trung Quốc, nhằm thực hiện “ràng buộc lợi ích” với các quốc gia ngoài khu vực.
“Luật biển Việt Nam” ra đời đã tăng cường lập trường đơn phương của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải, tạo nên thách thức nghiêm trọng đối với Trung Quốc, xu thế tất yếu khiến cục diện Nam Hải nghiêm trọng hơn. Các nước xung quanh như Nhật Bản, Việt Nam đã liên tiếp cho ra các luật biển mang tính tổng hợp, nhằm thống nhất các hành động trên biển. Luật biển Trung Quốc hiện có chỉ giới hạn trong lĩnh vực chuyên môn hoặc lập pháp chuyên ngành, trong phương diện quản lý tổng hợp và điều hòa tổng thể vẫn tồn tại lỗ hổng lập pháp, khó có thể đáp ứng nhu cầu trong việc duy trì, bảo vệ chủ quyền trong bối cảnh tình hình ngày càng phức tạp. Vì vậy, nhanh chóng thúc đẩy tiến trình lập pháp về luật cơ bản hải dương Trung Quốc, gấp rút cho ra đời luật cơ bản hải dương đã trở thành nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Trung Quốc./.