Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Friday, Dec 19th

Last update10:34:50 AM GMT

You are here: Tư liệu nghiên cứu Lập luận lịch sử, pháp lý Quan điểm của Trung Quốc Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp quốc tế theo cách nhìn nhận của Trung Quốc (phần cuối)

Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp quốc tế theo cách nhìn nhận của Trung Quốc (phần cuối)

Email In PDF.
3/ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không thể được dùng để chứng minh thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
Nhận định vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ phải căn cứ theo các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế ở rất nhiều phương diện chứ tuyệt đối không phải quy định trong một công ước nào đó. Đây là một kiến thức thông thường hết sức rõ ràng trong lý luận và thực tiễn về luật pháp quốc tế. Căn cứ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ít nhất bao gồm những quy tắc và nguyên tắc theo luật quốc tế như quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc xác định thời gian, quy tắc xác định ngày tháng then chốt, quy tắc không truy ngược quá khứ, nguyên tắc cấm phản ngôn và quy tắc quyền lợi mang tính lịch sử.
Một điều hết sức cần thiết phải chỉ rõ là những quy tắc nói trên đều không phải là quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ quy định trong bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” thì trong Lời nói đầu của Công ước đã chỉ rõ là “trong điều kiện tính đến chủ quyền của tất cả các nước, xây dựng một trật tự pháp luật về biển...”. Như vậy có nghĩa là trật tự biển được xây dựng theo yêu cầu của công ước nói trên là xuất phát từ một tiền đề, đó là không thay đổi chủ quyền quốc gia đã có.
Một trong những căn cứ của luật quốc tế trong việc phán đoán quy thuộc chủ quyền lãnh thổ là quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc này không quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ ý nghĩa lịch sử thì quy tắc có được lãnh thổ đã bao hàm rất nhiều quy tắc liên quan, bao gồm phát hiện, chiếm trước, chiếm lĩnh hữu hiệu và quản lý hữu hiệu v.v., đòi hỏi phải xuất phát từ nhiều góc độ và phương diện để phán đoán một quốc gia có chủ quyền đối với một phần lãnh thổ nào đó có hợp pháp hay không, mọi việc làm của quốc gia đó có hiệu lực theo luật quốc tế hay không. Từ các thời Tống, Nguyên, Thanh đến nay Trung Quốc đã trải qua nhiều thực tiễn qua các thời kỳ xã hội, qua nhiều triều đại, nhất là các đời chính phủ ở thời kỳ cận đại và hiện đại, đặc biệt bao gồm những thực tiễn về việc phát hiện, chiếm trước, quản lý hữu hiệu, đã có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Nam Hải một cách hữu hiệu.
Còn một điều vẫn phải nói rõ rằng tiêu chuẩn và yêu cầu về luật quốc tế qua các thời kỳ lịch sử đối với một quốc gia có một lãnh thổ hợp pháp hay không là không giống nhau. Ví dụ, luật quốc tế thời cổ đại là ai có sức mạnh cưỡng chiếm, người ấy sẽ có được lãnh thổ, luật quốc tế thời cận đại cũng cho phép dùng vũ lực cưỡng đoạt chủ quyền lãnh thổ. Chẳng hạn như sau khi chiếm lĩnh nhiều đảo ở Nam Thái Bình Dương, nước Pháp đã có được chủ quyền ở những đảo đó. Nhưng luật quốc tế ở thời kỳ hiện đại là cấm dùng vũ lực để có được lãnh thổ, ví dụ rõ nhất là Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã chiếm các bãi, đảo ở Nam Sa và Đài Loan của Trung Quốc, những việc làm đó đều thuộc về hành vi trái phép. Vì thế, sau khi thất bại, Nhật Bản đã phải trả lại các vùng lãnh thổ chiếm đóng nói trên. Chính phủ Quốc dân ở Trung Quốc lúc đó đã đưa hạm đội với tàu đi tiên phong là tàu “Thái Bình” đến Nam Hải tiếp nhận những bãi, đảo đã bị Nhật Bản chiếm đóng. Đảo Thái Bình chính là được đặt tên theo con tàu đó. Trong nhiều đảo ở Nam Hải hiện nay, có rất nhiều bãi và đảo đều được đặt theo tên các tàu thuyền, thuyền trưởng hoặc nhân vật lịch sử đã đến các đảo ở Nam Hải để tuyên thị và bảo vệ chủ quyền. Ví dụ như bãi cát Đôn Khiêm chính là tên của Thuyền trưởng Lý Đôn Khiêm chỉ huy tàu chiến có tên hiệu là “Trung Nghiệp” mà Chính phủ Trung Quốc năm 1946 đã điều ra tiếp nhận quần đảo Nam Sa.
Việc nhận định chủ trương quyền lợi của các nước ở Nam Hải hoàn toàn không phải chỉ có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, mà còn phải dựa vào một quy tắc quan trọng khác trong luật quốc tế là quy tắc xác định thời gian, nghĩa là một hành vi nào đó trong lịch sử chỉ cần phù hợp với luật quốc tế ở thời kỳ lúc đó, thì hành vi đó sẽ là hành vi hợp pháp hữu hiệu. Cùng với quá trình phát triển của những quy tắc liên quan trong luật pháp quốc tế, những hành vi liên quan đến những quy tắc này cũng phải đổi mới và phát triển theo. Hàng trăm năm trước đây người Trung Quốc đã thông qua các phương thức phát hiện và chiếm hữu để có được quyền lợi sơ bộ đối với các đảo Nam Hải mà lúc đó chưa thuộc về bất cứ nước nào. Sau đó chính phủ qua các nhiệm kỳ đã thông qua các phương thức đặt tên cho các đảo và công bố bản đồ tương ứng, hoạch định các đảo đó vào khu vực hành chính địa phương, đưa tàu ra tuyên bố chủ quyền và tuần tra, tổ chức và quản lý các hoạt động của xã hội đến Nam Hải đánh bắt cá, đối phó với các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, xây dựng luật hiện đại, từng bước có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Nam Sa. Thực tiễn qua các thời đại ở Trung Quốc không chỉ hoàn toàn phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ lúc đó, mà cũng phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ theo luật quốc tế cận đại và hiện đại. Vì thế, theo quy tắc về xác định thời gian thì việc Trung Quốc có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Nam Hải là hợp pháp, hữu hiệu. Trong tất cả các nước tranh chấp ở Nam Hải, chỉ có Trung Quốc là có căn cứ lịch sử dài đến mấy trăm năm. Mọi nhận định của quốc tế liên quan đến tranh chấp lãnh thổ đều cho thấy ý nghĩa phán định của những căn cứ lịch sử đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia là có vai trò to lớn. Vì thế, không thể nói một cách đơn giản rằng đã có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” mới thì căn cứ lịch sử sẽ không còn hiệu lực. Ví dụ như vụ phân xử của Tòa án quốc tế về đảo Pedra Branca theo cách gọi của Xinhgapo hoặc đảo Pulau Batu Puteh theo cách gọi của Malaixia: Như mọi người đều biết, Xinhgapo là được độc lập từ Malaixia nên Tòa án quốc tế khi xử vụ tranh chấp này đã đưa ra tất cả mọi căn cứ mà hai bên có được, bao gồm cả những chứng cứ lịch sử phong phú để phân tích, thẩm định, cuối cùng xác định đảo trên thuộc về Xinhgapo. Tòa án quốc tế từ xưa đến nay không thể không xem xét đến căn cứ lịch sử để quyết định chủ quyền thuộc về ai trong một vùng lãnh thổ tranh chấp. Đến học giả phương Tây cũng đều thừa nhận, đối với vụ tranh chấp chủ quyền các đảo ở Nam Sa, những tư liệu Trung Quốc có được là phong phú nhất, chứng cứ chắc chắn nhất, các nước khác như Philíppin, Malaixia và Brunây căn bản lại không có. Đó chính là thực tế để cho thấy vì sao Mỹ phụ họa, giúp các nước như Philíppin nhấn mạnh một cách phiến diện và lặp đi lặp lại rằng giải quyết vấn đề Nam Hải cần phải lấy “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” làm căn cứ, ra sức làm mờ nhạt đi, thậm chí xóa bỏ những nhân tố căn bản có vị trí quan trọng trong giải quyết vấn đề tranh chấp Nam Hải.
Chủ trương chủ quyền của các nước ở Nam Hải còn đề cập đến một nguyên tắc luật pháp quan trọng, đó là nguyên tắc luật pháp không truy ngược quá khứ. Ý nghĩa chính của nguyên tắc này là không thể dùng luật pháp của thế hệ sau để phán xét hành vi trước đây hợp pháp hay không hợp pháp. Chỉ riêng ví dụ về đường đứt đoạn ở Nam Hải, trước năm 1949 Chính phủ Quốc dân của Trung Quốc đã chính thức đặt tên và công bố bản đồ kèm theo đường đứt đoạn cho các bãi đảo ở Nam Hải, còn thông qua nhiều thực tiễn trên các phương diện về khai thác sử dụng tài nguyên như đưa tàu chiến đến Nam Hải tuyên bố chủ quyền, tổ chức và quản lý nghề cá, nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Nam Hải. Sau năm 1949, Chính phủ Trung Quốc cũng kế thừa chủ trương của Chính phủ Quốc dân, vẫn tiếp tục đánh dấu đường đứt đoạn ở Nam Hải trên bản đồ chính thức của nhà nước, đồng thời cũng thông qua thực tiễn trong nhiều phương diện về lập pháp để nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Nam Hải. Ai cũng biết là “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” từ năm 1994 mới bắt đầu có hiệu lực. Xem xét từ phương diện tài nguyên hiện hữu, nếu tính từ năm 1914 khi đường đứt đoạn ở Nam Hải bắt đầu xuất hiện thì đường đứt đoạn này đến nay đã được gần 100 năm, sớm hơn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 80 năm, hoặc nếu chỉ tính từ khi Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố năm 1947 thì đến nay cũng đã được 65 năm, sớm hơn thời gian có hiệu lực của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 47 năm! Hơn nữa, đường đứt đoạn ở Nam Hải còn đề cập đến vấn đề về luật quốc tế khác phức tạp như quyền lợi mang tính lịch sử, vượt xa cả những nội dung được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Vì thế tính hợp pháp của đường đứt đoạn ở Nam Hải tuyệt đối không đơn giản sử dụng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để phán đoán và phủ nhận. Nói “Đường đứt đoạn ở Nam Hải của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’” thì bản thân cách nói đó rõ ràng đã thiếu căn cứ theo luật pháp quốc tế, là hết sức sai lầm.
4/ “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền ”
Về bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, có nhà lý luận cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Tác giả bài viết cho rằng có lợi hay không có lợi là tương đối chứ không tuyệt đối. Nhìn nhận từ điều kiện địa lý tự nhiên của vùng biển xung quanh Trung Quốc, nếu so sánh với những nước ven biển nhìn ra đại dương mênh mông trên thế giới thì Trung Quốc là nước bất lợi về mặt địa lý, vùng biển xung quanh Trung Quốc bị bao vây bởi lãnh thổ của rất nhiều nước lân bang, không thể được hưởng quyền lợi 200 hải lý như “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” dành cho các nước ven biển. Xét từ góc độ này thì việc thực hiện công ước nói trên là bất lợi đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời, đối với những nước láng giềng ven biển có bờ biển liền với Trung Quốc và hướng sang Trung Quốc cũng cùng đối mặt với những bất lợi như vậy. Nhìn từ góc độ luật pháp thì đối với tất cả mọi nước ký kết, quyền lợi và nghĩa vụ được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đều bình đẳng, các nước xung quanh có thể tuyên bố vùng biển quản lý 200 hải lý, Trung Quốc đại lục và các đảo của Trung Quốc cũng có thể tuyên bố có quyền lợi bình đẳng như vậy, nếu có vùng biển chồng lấn sẽ phát sinh vấn đề phân định ranh giới biển. Ngoài ra trong giải quyết vấn đề phân định ranh giới biển, các bên cũng ở cùng địa vị như nhau chứ không có vấn đề về việc chỉ bất lợi đối với Trung Quốc.
Đương nhiên, không thể phủ nhận được rằng về khách quan quả có một tình huống đã dẫn đến cách nói sai lầm như trên, nghĩa là Malaixia, Brunây vốn là những nước không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nhưng bởi “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã có quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý đã khiến các nước này chủ trương vùng biển quản lý rộng 200 hải lý, từ đó cũng hoạch định một số đảo trong quần đảo Nam Sa vào phạm vi 200 hải lý do họ quản lý. Vì thế có người cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Quan điểm như vậy kỳ thực là hết sức sai lầm, là cách giải thích và lạm dùng quy chế về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”.
Các phần 5 và 6 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã quy định thành quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, theo đó nước ven biển chỉ có được hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, chủ yếu bao gồm: Quyền lợi chủ quyền có mục đích thăm dò và khai thác, nuôi trồng bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thủy vực hải dương, lòng biển và đáy biển (bất kể là tài nguyên sinh vật hay không phải sinh vật); Quyền lợi chủ quyền đối với các hoạt động khai thác và thăm dò mang tính kinh tế về nước biển, hải lưu và sức gió; Quyền quản lý trong việc kiến tạo và sử dụng đảo nhân tạo, trong kiến tạo và sử dụng các công trình thiết bị, và quản lý trong các phương diện nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển.
Một sự thực pháp luật không được phép nhầm lẫn là không chỉ là hai phần trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên mà bất cứ phần nào và điều khoản nào trong công ước cũng đều không quy định nước ven biển nào được dựa vào công ước để quy hoạch lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ của mình. Vì thế, tất cả các nước ký kết đều có thể dựa vào công ước để thực hiện hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nhưng tuyệt đối không có quyền dựa vào đó để tranh đoạt chủ quyền của nước khác đã được hoạch định trong đó.
“Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền”. Mỗi từ ngữ trong luật pháp đều có nội hàm và ý nghĩa pháp luật của bản thân từ đó, tuyệt đối không thể làm lẫn lộn hoặc thay thế một cách giản đơn. Đó đều là kiến thức pháp luật quốc tế thông thường. Vì thế Malaixia đã lấy cớ là quyền lợi được “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cho phép, chủ trương quy hoạch một số đảo thuộc quần đảo Nam Sa trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ thành lãnh thổ của họ. Đòi hỏi về loại chủ quyền lãnh thổ như vậy là cực kỳ hoang đường, cũng là phi pháp. Thử xem xét, nếu cách xác định như vậy là ổn thì thế giới sẽ ra sao? Và cùng cách suy diễn theo lý lẽ như vậy thì Trung Quốc cũng chẳng có thể hoạch định những vùng lãnh thổ của nước khác trong phạm vi 200 hải lý thuộc lãnh thổ Trung Quốc (ít nhất bao gồm các bãi, đảo phía Nam quần đảo Ryukyu và các bãi đảo phía Bắc Philíppin) vào cả trong phạm vi yêu cầu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc (như đảo Đài Loan hoặc đảo Thái Bình) được hay sao?
Còn như vấn đề chồng lấn về phạm vi các khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đang tồn tại giữa Trung Quốc và các nước khác cùng tuyên bố chủ quyền ở Nam Hải thì đòi hỏi thông qua đàm phán phân định ranh giới vùng biển để giải quyết. Trên thực tế, đây cũng là vấn đề liên quan đến quan hệ giữa quyền lợi về khu đặc quyền kinh tế và quyền lợi về thềm lục địa với quyền lợi mang tính chất lịch sử. Đường đứt đoạn ở Nam Hải hoàn toàn không phải dựa vào “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để vạch ra, mà trong quá trình lịch sử gần 100 năm từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến hiện nay, đường đứt đoạn đó đã từng bước phát triển từ Bắc xuống Nam đến khoảng 4 độ vĩ Bắc. Chủ quyền mang tính lịch sử là một vấn đề phức tạp về luật quốc tế, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phủ nhận quyền lợi mang tính lịch sử, cũng chưa bao giờ quy định quyền lợi mang tính lịch sử phải được thay thế bằng khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sự thực lịch sử là trong thời gian hàng chục năm sau khi chính thức công bố đường đứt đoạn ở Nam Hải, các nước xung quanh và cộng đồng quốc tế không có phản đối gì.
Nói tóm lại, một vấn đề cốt lõi và then chốt cần phải làm lắng dịu trong vấn đề Nam Hải hiện đang sôi động là: Chủ trương có quyền lợi ở Nam Hải của tất cả các quốc gia liên quan tranh chấp Nam Hải có phải đều là hợp pháp? Sự thực không được xem thường là: Một số nước như Việt Nam và Philíppin đang đối kháng với chủ trương hợp pháp của Trung Quốc bằng chủ trương trái phép; Trong khi đó Mỹ, nước tự xưng sẵn sàng làm người điều đình tranh chấp Nam Hải, và Nhật Bản là hai nước bề ngoài ra vẻ công bằng nhưng thực chất đang cố tình làm thiên lệch, chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về Nam Hải, còn đối với các nước tranh chấp khác ở Nam Hải như Việt Nam, Philíppin và Malaixia thì họ hầu như bỏ qua tính chất phi pháp trong các hành động của các nước này về chủ trương quyền lợi ở Nam Hải. Tác giả bài viết này cho rằng trong khi phán xử về tính hợp pháp trong chủ trương quyền lợi ở Nam Hải của Trung Quốc, cũng đồng thời phải nhận định chủ trương quyền lợi của nước tranh chấp khác có hợp pháp hay không, nếu không mà chỉ phiến diện yêu cầu, thậm chỉ chỉ trích kiểu này kiểu khác đối với Trung Quốc thì đó không phải là công bằng, Trung Quốc cũng không thể chấp nhận.
Vì thế, người Trung Quốc tuyệt đối không được rơi vào chiếc bẫy này, tức Trung Quốc không nên chủ động bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, không bàn đến căn cứ luật pháp quốc tế, nghĩ rằng như vậy là Trung Quốc đã đuối lý phải né tránh. Từ lâu nay Trung Quốc một mặt áp dụng chính sách kiềm chế, không làm nóng vấn đề ở Nam Hải, không muốn nói nhiều, thậm chí là tránh không nói, nhưng mặt khác cho đến nay khi các nước xung quanh như Philíppin chưa chính thức bắt đầu đàm phán ngoại giao giải quyết vấn đề tranh chấp, thì dù là các nước đó hay Trung Quốc cũng đều không có nghĩa vụ đơn phương trình bày toàn diện với cộng đồng quốc tế chủ trương và căn cứ của mình về quyền lợi ở Nam Hải. Kỳ thực, cho đến nay bản thân Philíppin cũng chưa làm rõ được phạm vi quyền lợi ở Nam Hải mà họ chủ trương cuối cùng là ở đâu. Từ cuối năm ngoái đến nay Philíppin đã nhiều lần công khai đề xuất phải cùng với các nước ASEAN “phân định vùng tranh chấp Nam Hải và vùng tranh chấp Philíppin”.
Tác giả bài viết cho rằng trong giai đoạn hiện nay Trung Quốc cơ bản chưa cần thiết, cũng chưa có nghĩa vụ phải đơn phương trình bày hết tất cả lá bài cuối cùng của mình, chưa cần thiết công khai toàn diện, phơi bày ra tất cả mọi căn cứ pháp lý của mình, đó cần phải là những nội dung trên bàn đàm phán. Một số nước không ngừng nhào nặn hoặc chỉ trích vấn đề mang tính hợp pháp trong chủ trương về quyền lợi ở Nam Hải của Trung Quốc, kỳ thực là những biểu hiện giật mình vì chột dạ, dụng ý của họ là nhằm đẩy lệch góc nhìn, chuyển dịch tiêu điểm mâu thuẫn, nhưng làm như vậy vừa không thể làm thay đổi được tính chất phi pháp trong chủ trương Nam Hải của họ, cũng vừa không thể phủ nhận được tính hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc. Trong khi đó lập trường không nói và ít nói mà Trung Quốc áp dụng cũng tuyệt đối không có nghĩa là không có cơ sở pháp luật và căn cứ lịch sử. Tục ngữ Trung Quốc có câu “có lý không phải cứ to tiếng”. Tuy nhiên, để làm cho những người quan tâm một cách khách quan và thực lòng vấn đề Nam Hải có thể hiểu được tình hình chân thực và chuẩn xác, thay đổi và đề phòng tin đồn thất thiệt cứ thổi lên mãi, ngoài người phát ngôn báo chí, Trung Quốc còn phải tích cực chủ động lợi dụng nhiều kênh, áp dụng nhiều phương thức tuyên truyền nhiều hơn nữa trước và sau khi một số vấn đề có thể được nhào nặn trở thành điểm nóng, để làm cho vấn đề được nhìn nhận chân thực hơn. Hiệu quả tuyên truyền tích cực và hướng dẫn dư luận sẽ tốt hơn nhiều so với bị động đối phó trước những chỉ trích theo dụng ý riêng.
Nói tóm lại, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là “linh đơn thần dược” để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp biển, mà chỉ là một phần cấu thành của luật pháp quốc tế, không thể thay thế các quy tắc khác trong luật quốc tế, lại càng không thể giản đơn đánh đồng “luật quốc tế” với “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” theo cách đánh tráo khái niệm. Trong phần mở đầu của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cũng có quy định rõ ràng đối với vấn đề này, cụ thể là “các nước ký kết bản Công ước này xác nhận Công ước chưa có quy định cụ thể, cần phải tiếp tục lấy các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế nói chung để làm căn cứ chuẩn mực”. “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là căn cứ duy nhất của luật quốc tế để nhận định hoặc giải quyết vấn đề yêu sách chủ quyền lãnh thổ Nam Sa, cũng như nhận định hoặc phủ nhận tính hợp pháp trong đường đứt đoạn ở Nam Hải của Trung Quốc. Những cách nói “cần lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ giải quyết vấn đề Nam Hải”, “một số đảo-bãi thuộc quần đảo Nam Sa đều đã được hoạch định vào khu đặc quyền của các nước như Malaixia (hoặc: Đều ở trong phạm vi thềm lục địa của Malaixia), vì thế những đảo-bãi này đã được quy về quyền sở hữu nhà nước của Malaixia”, “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Nam Hải không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”... là hết sức phiến diện, thậm chí là sai lầm. Nếu không có dụng ý riêng thì ít nhất cũng là sự khiếm khuyết trong kiến thức thông thường về luật quốc tế./.
Nhận xét (0)
Viết nhận xét
Your Contact Details:
Nhận xét:
:angry::0:confused::cheer:B):evil::silly::dry::lol::kiss::D:pinch:
:(:shock::X:side::):P:unsure::woohoo::huh::whistle:;):S
:!::?::idea::arrow:
Security
Hãy nhập mã xác nhận