Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Thursday, Oct 30th

Last update10:39:12 AM GMT

You are here: Tư liệu nghiên cứu Lập luận lịch sử, pháp lý Quan điểm của Trung Quốc Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp quốc tế theo cách nhìn nhận của Trung Quốc (phần đầu)

Tranh chấp Biển Đông: Luật pháp quốc tế theo cách nhìn nhận của Trung Quốc (phần đầu)

Email In PDF.
Tạp chí “Tri thức thế giới” số 4 có bài viết của tác giả Trương Hải Văn, Tiến sĩ luật học, Nghiên cứu viên, Phó ban nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được tự rơi vào trong chiếc bẫy, theo đó cứ mỗi khi bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” hoặc bàn đến luật quốc tế là cho rằng Trung Quốc đuối lý nên phải né tránh. Theo tác giả bài viết thì từ lâu nay, Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kiềm chế, không làm cho vấn đề Nam Hải (Biển Đông) nóng lên, không muốn nói đến, thậm chí là né tránh nhưng thực tế Trung Quốc tuyệt đối không phải vì không có căn cứ pháp luật. Nội dung như sau:
Ngày 27-1-2012 Ngoại trưởng Philíppin Rosario đã đưa ra tuyên bố xác nhận tin từ một số báo chí trước đó về việc Philíppin cho phép Mỹ mở rộng đóng quân tại nước này. Trong tuyên bố của Rosario còn nói đến việc Philíppin sẽ cùng với Mỹ tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp nhiều hơn. Ngoài ra, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin Voltaire T.Gazmin cùng ngày cũng cho biết Chính phủ Philíppin đang xem xét chấp nhận đề nghị của Mỹ để cho quân đội Mỹ bố trí tàu chiến và tàu trinh sát mới hơn. Ông Voltaire T.Gazmin nói “nếu thiếu sức mạnh răn đe này thì lãnh thổ của chúng tôi sẽ bị xâm lược. Hôm nay đã có người láng giềng tốt đó (nước Mỹ), chúng tôi sẽ không thể tiếp tục bị lừa gạt nữa”.
Trước biểu hiện trên của Philíppin, các chuyên gia bình luận rằng điều này có thể sẽ có hiệu ứng kiểu mẫu nào đó trong số các nước hữu quan ở Nam Hải, khiến cho tình hình khu vực này phức tạp hơn.
Trước đó ngày 14/1 tại Bắc Kinh, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tổ chức Hội nghị quan chức cấp cao lần thứ tư về việc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, các bên đã nhất trí cho rằng cần nắm vững thời cơ có lợi nhân kỷ niệm 10 năm ký kết, thúc đẩy thực hiện toàn diện “Tuyên bố” nói trên. “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” đã tồn tại được 10 năm nhằm mục đích “tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác, cùng bảo vệ hòa bình ổn định Nam Hải” nhưng vẫn cần phải được “thúc đẩy” và tiếp tục “đẩy mạnh” hơn nữa. Để đẩy mạnh hợp tác thực chất, tại hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN lần thứ 14 tháng 10 năm ngoái, một trong những đề xướng của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về việc làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất giữa Trung Quốc và ASEAN là mở rộng hợp tác thực chất trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc-ASEAN, đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường biển, liên hệ thông suốt với nhau, an ninh hàng hải và cứu hộ trên biển, tấn công tội phạm xuyên quốc gia. Trung Quốc đã đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ cho quỹ này.
I- Tình hình Nam Hải hiện nay rốt cuộc là thế nào?
1/ Nhìn nhận vấn đề Nam Hải từ những góc độ khác nhau
Tác giả bài viết cho rằng nếu nhìn từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia thì tình hình Nam Hải vẫn ổn định. Nói như vậy cũng có nghĩa là quan hệ giữa các nước khu vực Nam Hải cùng nước ngoài khu vực như Mỹ... với Trung Quốc, vẫn đang duy trì quan hệ chính trị, ngoại giao bình thường, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Nam Hải không lớn. Nhưng nếu nhìn từ góc độ khác thì vấn đề sẽ rất nhiều.
Ví dụ, xét từ góc độ kiểm soát và sử dụng quyền phát ngôn thì hai năm trở lại đây, vấn đề Nam Hải bị nhào nặn trở thành một trong những vấn đề nóng ở khu vực. Trước năm 2010 chỉ cần Trung Quốc phản đối mạnh thì dù các nước xung quanh Nam Hải hay ngoài Nam Hải cũng đều không thể công khai bàn vấn đề tranh chấp Nam Hải tại các cơ chế hay hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN. Một số nước ASEAN như Việt Nam ... cùng với Mỹ, Nhật Bản... (là các nước ngoài khu vực), có thể tìm ra những tình huống và cơ hội để ngang nhiên bày đặt vấn đề Nam Hải, thậm chí chỉ trích Trung Quốc, Trung Quốc về cơ bản đều bị động và đáp lại một cách giản đơn, chưa bao giờ chủ động gây chuyện. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng là không kìm nén được mới phản bác lại cái gọi là ngôn luận về “bảo vệ tự do hàng hải ở Nam Hải” của Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải hiện nay là bị động, đương nhiên đó chủ yếu bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và chừng mực của chúng ta.
Xét từ góc độ khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thì vài năm gần đây, theo con số thống kê chưa hoàn toàn đầy đủ, mỗi năm các nước ven Nam Hải đã khai thác một khối lượng đến trên 5 triệu tấn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Nam Hải, trong khi Trung Quốc đến nay còn chưa có lấy một giếng dầu ở vùng biển tranh chấp này. Vấn đề vẫn không chỉ có thế mà một thời kỳ rất lâu trước đó, các nước như Philíppin và Việt Nam khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của nước phương Tây vào khai thác, thăm dò, thường còn kiêng dè đến phản ứng của Trung Quốc, nếu Trung Quốc phản ứng mạnh sẽ có phần thu hẹp khai thác hoặc dịu giọng, còn nay thì mạnh bạo rõ rệt, ngang ngược bày đặt. Ví dụ, hồi tháng 5 tháng 6 năm 2011, cái gọi là vấn đề Nam Hải nóng lên, chính là do Việt Nam bày trò “giặc kêu bắt giặc” mà thành chuyện. Hiện nay Philíppin và Việt Nam liên tục lợi dụng việc Trung Quốc băn khoăn không muốn dư luận quốc tế làm ầm ĩ vấn đề Nam Hải, mỗi khi muốn hợp tác với công ty dầu khí phương Tây thăm dò, khai thác ở vùng biển tranh chấp thuộc Nam Hải, các nước này lại tạo dư luận trước, để khi Trung Quốc đưa tàu hải giám đến làm nhiệm vụ ngăn chặn, sẽ tuyên bố Trung Quốc đã gây rắc rối cho việc thăm dò khai thác trên biển của họ. Nói như vậy cũng có nghĩa là trước đây Việt Nam và Philíppin chỉ vụng trộm khai thác, thăm dò nguồn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Nam Hải, hiện nay không chỉ trắng trợn khai thác mà còn phản công trả đũa, đổ vấy trách nhiệm cho Trung Quốc gây căng thẳng cho tình hình Nam Hải. Đối với hành động nghiêm trọng tương tự như vậy của một số nước xung quanh, Trung Quốc hiện nay chủ yếu vẫn áp dụng phương thức kháng nghị ngoại giao, đồng thời cũng thực thi một số hành động chấp pháp bảo vệ chủ quyền. Tuy nhiên nếu nhìn từ hiệu quả thực tế thì những biện pháp này không đủ để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình mà các nước xung quanh cướp đoạt nguồn tài nguyên dầu khí ở vùng biển tranh chấp đang ngày càng mạnh lên.
Xét từ phương diện đánh bắt ngư nghiệp, hiện nay thuyền đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên bị bắt giữ ở Nam Hải và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Khi bị nước xung quanh bắt giữ, ngư dân Trung Quốc sẽ bị phạt và tịch thu tàu, bị phạt tiền nặng và phải ngồi tù, đứng trước rủi ro khuynh gia bại sản.
Năm 2011 Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng bắt bớ, thậm chí sẵn sàng áp dụng phương thức bạo lực đối xử với ngư dân Trung Quốc, cuối cùng dẫn đến hậu quả là hai bên đều có người thương vong nghiêm trọng. Trong khi đó, Trung Quốc trước sau vẫn kiềm chế, chưa bao giờ xử phạt nghiêm khắc đối với những ngư dân và tàu cá của một số nước cạnh Nam Hải đánh bắt trái phép.
Xét từ góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Nam Hải đã có thay đổi to lớn, quan hệ chiến lược giữa các nước ngoài Nam Hải có bước phát triển mới. Nhìn trên tổng thể, về cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên do Trung Quốc đứng đầu, bên kia là Mỹ và một số nước quanh Nam Hải như Việt Nam. Mối quan hệ đó được biểu hiện cụ thể qua hai phương diện sau:
Một là, quan hệ giữa thế lực ngoài khu vực và các nước thuộc vùng biển xung quanh Nam Hải ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 2010 đến nay Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc không ngừng che giấu củng cố quan hệ đồng minh quân sự với Hàn Quốc, Nhật Bản và Philíppin, đồng thời nhiều lần diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố ký thỏa thuận với Ôxtrâylia thành lập căn cứ hải quân tại nước này và đưa lính tác chiến đến đóng ở đó. Một số nước cạnh Nam Hải cũng vậy, quan hệ quân sự Việt-Mỹ hiện nay là thời kỳ tốt nhất kể từ chiến tranh Việt Nam đến nay; Việt Nam cũng đã xây dựng và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, các nước này đều cam kết rõ cần phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản, và đã nâng quan hệ lên đến tầm cao đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Nam Hải. Điều đặc biệt phải chú ý quan tâm là các mối quan hệ đối tác chiến lược này không còn là lời nói ngoại giao, mà đã được đưa vào trong hiệp định ký kết chính thức.
Hai là, xét từ tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Nam Hải, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông, bao gồm phương châm và sách lược mà Việt Nam đối phó trong tranh chấp Nam Hải, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác ở Nam Hải như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc.
2/ Vì sao vấn đề Nam Hải gần đây nóng lên? Xu thế phát triển như thế nào?
Một vấn đề đáng phải suy xét sâu xa là từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay tranh chấp Nam Hải đã diễn ra hàng chục năm nhưng về cơ bản các nước khác và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, nghĩa là có tranh chấp nhưng không thổi phồng. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Nam Hải bị khuấy nóng lên, dường như hai năm qua Nam Hải đang không ngừng xuất hiện tranh chấp mới. Sự thực là, cái gọi là vấn đề Nam Hải hiện nay là bị người ta khuấy lên. Nhưng ai khuấy? Vì sao lại phải khuấy lên như vậy?
Tác giả bài viết này cho rằng việc khuấy cho vấn đề Nam Hải nóng lên là một thủ đoạn mà Mỹ và một số nước tranh chấp Nam Hải đã phối hợp với nhau để giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vào vấn đề Nam Hải, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Nam Hải, và cũng để giúp các nước như Việt Nam tranh đoạt và củng cố lợi ích thực tế ở Nam Hải. Hơn nữa, nhìn từ tình hình hiện nay thì cách làm của các nước nói trên tỏ ra đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay Mỹ và Việt Nam cũng như nước khác đã lợi dụng mặt bằng đối thoại trên nhiều cấp độ của ASEAN, triển khai thế tiến công dư luận đối với Trung Quốc, đã hình thành môi trường dư luận cùng “lên án” Trung Quốc. Xét từ môi trường dư luận hiện nay thì dường như vấn đề Nam Hải là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia gồm có một số nước Đông Nam Á và một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, là cuộc xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc và “lợi ích chung” của cả một số nước nói trên ở Nam Hải. Tình hình như trên tỏ ra không phù hợp với sự thực khách quan. Xu thế về so sánh lực lượng như vậy ở khu vực Nam Hải từ trước đến nay chưa hề có.
Vì thế, mục đích làm cho vấn đề Nam Hải nóng lên chính là để bóp méo hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc để tạo môi trường dư luận, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam cùng các nước tranh chấp Nam Hải khác xây dựng đại liên minh chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc ở hướng Nam Hải. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011 liên minh này đã dần có hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là các loại quan hệ đối tác chiến lược đã được kết thành giữa các nước tranh chấp Nam Hải như Việt Nam và Philíppin với thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ như đã nói trên, đặc biệt là quan hệ hợp tác quân sự không ngừng được tăng cường.
Tuy nhiên các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ. Một mặt, về phương diện an ninh, các nước này đều hy vọng dựa vào Mỹ để kiềm chế Trung Quốc, nhưng mặt khác về phương diện kinh tế, ở mức độ khác nhau các nước này phải dựa vào Trung Quốc để có được lợi ích kinh tế thực sự. Có hai ví dụ rõ nhất gần đây, một là tháng 10 năm 2011 Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Trung Quốc, trong khi ký kết thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo giải quyết tranh chấp Nam Hải, Chủ tịch nước Việt Nam cũng đồng thời đi thăm Ấn Độ, ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai nước ở Nam Hải. Hai là vào tháng 7 năm 2011 Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, sau khi tìm kiếm được lợi ích kinh tế từ Trung Quốc trở về lại lập tức tuyên bố đưa công ty dầu mỏ phương Tây vào khai thác ở khu vực tranh chấp thuộc Nam Hải. Việt Nam và Philíppin là các nước cạnh Nam Hải hết sức khéo lợi dụng cơ hội nhà lãnh đạo hai nước đi thăm lẫn nhau, vừa ca ngợi tình cảm hữu nghị với Trung Quốc, lại vừa nhân cơ hội để thực hiện hành động thăm dò, điều tra khai thác trên biển, tranh đoạt lợi ích thực tế. Nói tóm lại, trong vấn đề đối phó tranh chấp Nam Hải, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược và kế hoạch hành động, cũng có sách lược đấu tranh, rất giỏi lợi dụng thiện chí và chính sách kiềm chế của Trung Quốc để mưu tìm lợi ích tối đa ở ngoài khơi Nam Hải.
Đương nhiên không thể phủ nhận được rằng xét từ phương diện lợi ích chiến lược thì các nước cạnh Nam Hải và thế lực ngoài khu vực như Mỹ đều hy vọng dựa vào vấn đề tranh chấp Nam Hải, triệt để làm to chuyện với Trung Quốc.
Ngoài ra, tác giả bài viết cũng cho rằng tính đến cuối năm 2011, tình hình Nam Hải căng thẳng đã diễn biến đến bước ngoặt. Có hai lý do chủ yếu, một là mục đích thổi phồng vấn đề Nam Hải của Mỹ và các nước như Việt Nam cơ bản đã đạt được, tức đã tạo ra được môi trường dư luận hết sức bất lợi cho Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, xây dựng được đại liên minh chiến lược cùng chống Trung Quốc và bao vây Trung Quốc ở hướng Nam Hải. Hai là từ tháng 1 năm 2012, Campuchia trở thành nước chủ tịch luân phiên mới của ASEAN, ở mức độ nào đó thực tế này sẽ làm yếu đi mức độ lợi dụng các diễn đàn ASEAN để công kích Trung Quốc của Mỹ và Việt Nam.
Tuy nhiên, như mọi người đều biết, việc tranh chấp chủ quyền các đảo, bãi ngoài khơi và hoạch định ranh giới biển là vấn đề khó khăn mang tính toàn cầu. Ví dụ, nước Mỹ cần phải lần lượt đàm phán về khoảng 37 đường biên giới biển với ít nhất 13 nước láng giềng trên biển (là các nước Anh, Hà Lan, Canađa, Cuba, Mêhicô, Panama, Vênêxuêla, Nhật Bản, Inđônêxia, Philíppin, Niu Dilân, quần đảo Tây Samoa và Tônga) ở 5 khu vực (châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và châu Đại Dương), ngoài phân định đường biên giới trên biển ở vịnh Maine với Canađa, phần lớn các đường biên giới còn lại chưa được giải quyết. Nhật Bản cũng tồn tại vấn đề phân định biên giới biển với tất cả các nước láng giềng, và còn có tranh chấp chủ quyền về các đảo với Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc, tất cả đều chưa được giải quyết hoàn toàn.
Xét từ thực tiễn quốc tế thì công việc hoạch định biên giới biển hoặc giải quyết một tranh chấp nào đó về biển, thông thường đòi hỏi thời gian hàng chục năm, là “cuộc chiến lâu dài đặc biệt”. Hơn nữa, với những kiến thức thông thường và là một nguyên tắc quan trọng như mọi người đều biết thì việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là trách nhiệm chung của các bên tranh chấp, đòi hỏi các bên cùng nỗ lực và có thiện chí, tuyệt đối không phải bất cứ nước đương sự nào đơn phương có thiện chí và kiềm chế mà có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề. Vì thế, cũng như rất nhiều vùng biển quốc tế khác, trong thời gian tương đối dài tới đây vấn đề tranh chấp Nam Hải sẽ vẫn là một đề tài quan trọng để các nước hữu quan công kích Trung Quốc, tại vùng biển tranh chấp cục bộ ở Nam Hải khả năng mâu thuẫn bị kích hoạt gay gắt cũng vẫn tiếp tục.
II- Tính chất hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc về quyền lợi ở Nam Hải
Hiện nay xuất hiện một luận điệu cho rằng Trung Quốc không chiếm ưu thế pháp lý trong vấn đề Nam Hải. Thậm chí có người còn cho rằng “đường đứt đoạn Nam Hải” của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp. Tuy nhiên, sự thực là như thế nào?
Những năm gần đây Mỹ, Nhật Bản cùng với các nước Nam Hải như Philíppin, Việt Nam và Malaixia trong những khung cảnh khác nhau đã nhiều lần tuyên bố “phải căn cứ theo luật quốc tế, trong đó có ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ để giải quyết vấn đề tranh chấp Nam Hải”. “Trung Quốc phải tuân thủ quy tắc luật quốc tế”, “đường đứt đoạn theo chủ trương của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’”, thậm chí có một số người gọi là học giả còn đề xuất “phải lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ để giải quyết vấn đề Nam Hải”. Những cách nói như trên thoạt nghe có vẻ khác nhau nhưng trên thực tế dụng ý và mục đích là như nhau, đó là chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về vấn đề Nam Hải là không phù hợp với luật quốc tế, yêu cầu Trung Quốc từ bỏ chủ trương về quyền lợi ở Nam Hải. Nhưng có một sự hiểu biết thông thường cơ bản là luật quốc tế phải yêu cầu các nước tuân thủ chứ không thể chỉ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ. Bởi dung lượng bài viết có hạn, tác giả bài viết không thể xuất phát từ góc độ chuyên ngành pháp luật quốc tế để trả lời những vấn đề nói trên, mà chỉ dẫn một số ví dụ từ hai phương diện để làm rõ vấn đề, xem Mỹ, Nhật Bản, cùng với Philíppin đã “tôn trọng” và “tuân thủ” luật pháp quốc tế như thế nào.
1/ Mỹ và Nhật Bản là những ví dụ điển hình về không tôn trọng và không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”
Hiện nay cả thế giới đã có hơn 160 nước phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, trong đó ngoài bao gồm tuyệt đại đa số các nước ven biển, còn có rất nhiều nước trong nội địa. Tuy nhiên Mỹ là nước đến đâu cũng chỉ trích nước khác không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nhưng đến nay vẫn từ chối phê chuẩn Công ước này. Nguyên nhân căn bản là, nếu phê chuẩn thì hải quân Mỹ sẽ bị hạn chế hoặc bị ảnh hưởng ở mức độ rất lớn chứ không thể được tự do hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Vì thế, có một vấn đề khiến người ta rất nghi hoặc là với tư cách là nước không tôn trọng và không phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, chỉ chọn những điều khoản có lợi chứ không tuân thủ những điều khoản không có lợi cho mình trong công ước này để thi hành, vậy nước Mỹ có tư cách gì để chỉ trích Trung Quốc là nước đã ký kết tham gia công ước?
Xem xét tiếp Nhật Bản, nước này đã ngang nhiên vi phạm điều 121 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” quy định rõ về mặt pháp luật các đảo và bãi đảo. Nhật Bản từ lâu đã đầu tư rất nhiều tiền và nhân lực để xây dựng, củng cố nhân tạo đối với bãi san hô Okinotori mà trên thực tế chỉ là bãi đá (tức không thể có được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế), diện tích chỉ bằng khoảng “chiếc giường đôi”, hòng biến bãi đá này thành “đảo” theo ý nghĩa pháp luật (tức có thể dựa theo luật pháp để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Năm 2009 Nhật Bản đã nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc hồ sơ hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý (hoạch định ranh giới kéo dài tối đa của thềm lục địa tự nhiên của nước mình), không những đã chính thức hoạch định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho bãi Okinotori, mà còn hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý, diện tích lần lượt là hơn 400 nghìn km 2 và hơn 700 nghìn km 2 , còn lớn hơn nhiều so với cả lãnh thổ của bản thân nước Nhật vốn chỉ khoảng hơn 300 nghìn km 2 . Đối với việc làm vi phạm rõ rệt “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên của Nhật Bản, Mỹ không chỉ im hơi lặng tiếng, không một lời đả động đến mà còn bằng mọi cách ngăn cản và phản đối việc Trung Quốc đề cập vấn đề này tại hội nghị các nước tham gia công ước.
Ngày 16/1/2012, Nhật Bản tuyên bố sẽ đặt tên cho các đảo không người ở trong đó có 4 hòn đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư, Trung Quốc đã có bất đồng nghiêm trọng đối với Nhật Bản về vấn đề này, cho biết rõ mọi việc làm đơn phương đối với đảo Điếu Ngư và các đảo phụ thuộc xung quanh đảo Điếu Ngư đều là hành động trái phép và không có hiệu lực pháp lý. Rất dễ để có thể nhận ra ý đồ của Nhật Bản rằng thông qua phương thức đặt tên trước để biểu thị nước này có chủ quyền đối với các bãi, đảo tranh chấp nói trên, tiếp theo sẽ phỏng theo cách làm đối với bãi Okinotori, coi các bãi đảo không người ở như vậy là những điểm cơ bản về lãnh hải, đạt mục đích quản lý vùng biển Hoa Đông và vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa ở phạm vi lớn hơn nữa mà họ chủ trương. Trong bối cảnh tự mình rõ ràng không tuân thủ như vậy, Nhật Bản cũng có tư cách gì để “chỉ đạo” nước khác phải tuân thủ luật quốc tế?
2/ Philíppin đã vi phạm những luật quốc tế nào?
Hiện nay chủ trương lãnh thổ của Philíppin ở các đảo, bãi thuộc Nam Hải gồm hai bộ phận lớn: Thứ nhất, đặt tên cho một số đảo thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa) thành cái gọi là “quần đảo Kalayaan” để chủ trương thuộc về lãnh thổ của Philíppin. Hai là, chủ trương đảo Hoàng Nham của Trung Quốc cũng thuộc về quyền sở hữu của Philíppin. Trên thực tế, xét từ góc độ luật pháp quốc tế để nhận định chủ trương của Philíppin về những phần lãnh thổ nói trên có hợp pháp hay không thì đó là vấn đề rất đơn giản, tức Philíppin hoạch định những đảo, bãi này vào phạm vi lãnh thổ của họ vào lúc nào. Về vấn đề này, tác giả bài viết và một số đồng nghiệp đã tiến hành phân tích, nghiên cứu tất cả những pháp luật và điều ước về việc hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin trong lịch sử của nước này. Ví dụ, trong lịch sử, Philíppin đã lần lượt từng là thuộc địa của Tây Ban Nha và Mỹ, còn những hiệp ước hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin khi đó có “Hiệp ước Pari” năm 1898, “Hiệp ước Oasinhtơn” năm 1900; sau khi Philíppin độc lập, năm 1951 lại ký hiệp định song phương với Mỹ là “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philíppin”. Những hiệp ước nói trên đã quy định Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ cho lãnh thổ Philíppin không bị xâm lược. Vì thế trên thực tế cũng đã phân định phạm vi lãnh thổ của Philipin một cách tương ứng. Tuy nhiên, trong tất cả những hiệp ước nói trên đều không hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào trong phạm vi lãnh thổ của Philíppin. Trên thực tế, đến năm 2009, Philíppin mới cho ra đời dự luật số 2699 (gọi là “Dự luật về vấn đề liên quan đến điểm cơ bản về lãnh hải”), lần đầu tiên mới đưa “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào làm lãnh thổ của Philíppin. Như vậy rõ ràng việc làm nói trên của Philíppin là phi pháp. Cho dù không xuất phát từ góc độ chuyên ngành về luật quốc tế để phân tích, mà chỉ cần nói theo sự hiểu biết thông thường, nếu một nước thông qua quá trình lập pháp của nước mình là có thể lấy lãnh thổ của nước khác nhập vào cương vực của nước mình, lấy đó làm của mình thì bản đồ thế giới sẽ phải yêu cầu vẽ lại rất nhiều rồi. Hơn nữa, luật quốc tế còn có một quy tắc gọi là xác định ngày tháng then chốt, cũng là nói trước hết phải tìm ra được thời điểm xảy ra tranh chấp, phán quyết rõ sự thực lịch sử trước thời điểm đó là gì, đối tượng tranh chấp ở vào trạng thái như thế nào, tức là trước khi xảy ra tranh chấp, lãnh thổ đó thuộc về nước nào. Sau khi xảy ra tranh chấp thực tế như thế nào, nước có quyền lợi từ trước đó có phải đã từ bỏ quyền lợi của mình hay không, nước đương sự tranh chấp khác đã áp dụng hành động gì, có hiệu lực pháp lý quốc tế hay không. Sự thực pháp luật không thể bóp méo là: Sau năm 2009, Philíppin mới chính thức hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào lãnh thổ của nước họ về mặt luật pháp. Dù không nói đến lịch sử lâu dài, chỉ cần nói đến tình hình từ khi thành lập nước Trung Quốc mới, ngay từ năm 1958 Trung Quốc đã quy định cả bốn quần đảo ở Nam Hải với các đảo khác vào trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc rồi. Sau đó, trong “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” và trong những lần tuyên bố ngoại giao, Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ quyền của mình đối với các đảo Nam Hải, trong đó có quần đảo Nam Sa và đảo Hoàng Nham, hơn nữa đến nay vẫn chưa bao giờ từ bỏ. Trên thực tế, năm 2009 Philíppin thông qua dự luật nói trên là hành động “có tật giật mình” của kẻ gian, vì Philíppin thấy mình căn bản không có cơ sở pháp luật để chủ trương “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham thuộc chủ quyền của mình nên mới phải cho ra đời dự luật mới này để lấp đi chỗ khuyết thiếu nghiêm trọng này. Nhưng nếu chiểu theo luật pháp quốc tế thì cách làm luật nói trên của Philíppin rõ ràng không có được tính hợp pháp, dự luật nói trên cũng tuyệt đối không thể có hiệu lực. Còn nước bảo hộ của Philíppin là nước Mỹ lại không có bất cứ ý kiến bình luận gì đối với việc làm như vậy của Philíppin.
Nhận xét (0)
Viết nhận xét
Your Contact Details:
Nhận xét:
:angry::0:confused::cheer:B):evil::silly::dry::lol::kiss::D:pinch:
:(:shock::X:side::):P:unsure::woohoo::huh::whistle:;):S
:!::?::idea::arrow:
Security
Hãy nhập mã xác nhận