оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно

Liệu Trung Quốc có thể tôn trọng luật biển?

Email In PDF.

Bài viết của GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh, đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia), phân tích hành vi của Trung Quốc trong các tranh cấp biển đảo với các nước láng giềng, từ đó đánh giá về khả năng tôn trọng luật biển của nước này.
GIỚI THIỆU
Nơi đâu có con người, nơi đó có xung đột và hợp tác. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, dường như các xung đột trên biển đang xảy ra thường xuyên hơn. Một dấu hiệu của điều này là Hải quân Nhật Bản đang bắt giữ ngư dân Trung Quốc, trong khi Hải quân Trung Quốc, đến lượt mình, lại bắt giữ ngư dân Việt Nam.
Rất nhiều nhân tố châm ngòi cho các xung đột trên biển ở Đông Á, Một nhân tố liên quan đến tranh chấp lãnh thổ nổi lên từ các xung đột trong lịch sử. Các tranh chấp xung quanh Quần đảo Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc và Quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể được cho là sự kế thừa của chủ nghĩa thực dân Nhật trước Thế chiến thứ hai. Vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc gần đây diễn ra trong vùng nước liền kề quần đảo Điếu Ngư, vẫn đang dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.
Một nhân tố khác liên quan đến luật về phân định ranh giới biển trong các hiệp định quốc tế. Sau khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực năm 1994,[1] các tranh chấp biên giới ngày càng gia tăng và gay gắt. Công ước cho phép các quốc gia có đường bờ biển mở rộng vùng biển nằm trong quyền tài phán của mình lên đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở nơi lãnh hải được xác định. Quyền tài phán này được chia thành một vùng lãnh hải 12 hải lý và một thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể kéo dài lên đến 350 hải lý. Đáng chú ý là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển mới được tạo ra theo Công ước về Luật biển. Nếu những vùng biển này không được thiết lập, sẽ không có tranh chấp biển nào giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, vì vùng nước này phân cách hai nước này bởi một khoảng cách là 360 hải lý. Trong những trường hợp này, xung đột biển đã bị làm trầm trọng thêm bởi sự tranh giành gay gắt về nguồn năng lượng ở các vùng biển. Trong việc theo đuổi phát triển kinh tế nhanh, các quốc gia ven biển phải đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.
Sự mở rộng các vùng biển thông qua các hiệp định quốc tế đã làm phức tạp thêm xung đột trên biển. Công ước về Luật biển bao gồm các điều khoản cụ thể về các vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo với các kích thước khác nhau. Theo tính toán, một đảo không thể duy trì sự sống của con người có thể có một vùng lãnh hải rộng 1.550km2, trong khi một đảo lớn mà có thể duy trì đời sống kinh tế hay sự cư trú của con người có thể có một vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 420.000km2.[2] Đây là một trong số các lý do tại sao có sự gia tăng các yêu sách đối với các đảo nhỏ; thậm chí cả các đá nhỏ cũng gây ra tranh chấp giữa các nước. Các đá đó bản thân nó không quan trọng – nhưng có các nguồn tài nguyên sống còn nằm trong các vùng biển xung quanh chúng.
TRANH CHẤP TRÊN BIỂN
Thông thường, có ba loại tranh chấp trên biển ở Đông Á: tranh chấp chủ quyền đối với các đảo nhỏ; tranh chấp phân định ranh giới biển giữa các nước láng giềng; và tranh chấp xung quanh việc phân chia và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Đối với loại tranh chấp đầu tiên, không có viễn cảnh nào cho một giải pháp hợp lý trong tương lai gần, bởi vì các quốc gia tranh chấp đã cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo nhỏ và không có dấu hiệu nào cho thấy bất cứ bên nào sẽ nhượng bộ. Điều phức tạp hơn là thực tế, những yêu sách về chủ quyền này có liên hệ rất mật thiết với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều này có thể thấy từ sự phản đối mạnh mẽ liên tục diễn ra ở Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư và ở Hàn Quốc đối với quần đảo Dokdo, chống lại Nhật Bản trong cả hai trường hợp. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2007, các cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phản ứng lại các hành động đơn phương của hải quân Trung Quốc ở trong và xung quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Do vậy, bất cứ giải pháp nào cho các tranh chấp lãnh thổ trên biển này tiếp tục vẫn ở một tương lai xa vời.
Việc phân định giới hạn biên giới biển như đã đề ra trong Công ước về Luật biển cũng đã là một nguồn gây ra căng thẳng, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trung Quốc đã thừa nhận là họ có những tranh chấp về việc phân định ranh giới chưa giải quyết được với hai nước Triền Tiên, Nhật Bản, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã ký Hiệp định về việc phân định biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng vẫn không có bước tiến nào trong việc thỏa thuận biên giới biển giữa Trung Quốc và một nước láng giềng nào. Một số cuộc đối thoại liên quan vẫn đang diễn ra, như giữa Trung Quốc và Hàn Quốc; thường có báo cáo là đã đạt được thỏa thuận chung chung nào đó giữa hai quốc gia, nhưng chưa từng khi nào đạt được tiến bộ đáng kể nào trong lĩnh vực này.[3] Mặc dù các nước ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán ở thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hai vùng biển này lại đặc biệt quan trọng vì chúng có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và có thể dần dần được chuyển thành lãnh thổ có chủ quyền. Một sự biến chuyển tương tự đã từng xảy ra trong trường hợp vùng biển truyền thống - hay còn gọi là Lãnh hải - đã được mở rộng thành 12 hải lý chiều rộng 3 hải lý ban đầu.
Cùng với các yêu sách chồng lấn đối với các đảo nhỏ, những lập trường pháp lý khác nhau về việc phân định biên giới cũng là nhân tố cản trở các Hiệp định về biên giới biển. Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc đã tìm cách mở rộng phạm vi thềm lục địa với Nhật Bản, nhưng Nhật Bản kiên trì đường phân định ở giữa. Cho đến nay, chưa thấy dấu hiệu hòa hợp nào về vấn đề này.
May mắn là, nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc quản lý các nguồn tài nguyên biển, cùng với việc ký kết Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc - Nhật Bản năm 1997, Hiệp định về nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, và Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000. Những Hiệp định này được soạn thảo để quản lý các nguồn cá ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, và Biển Nhật Bản. Theo đó, các khu vực quản lý đánh bắt cá chung đã được xác lập và duy trì. Mặc dù vậy, các nguồn tài nguyên biển vẫn còn là một nguồn của xung đột. Các biện pháp đơn phương của một quốc gia có thể bị một quốc gia khác coi là có ý đồ xấu. Ví dụ, khi Trung Quốc ra Nghị định tuyên bố một mùa cấm đánh cá ở Biển Đông - trong suốt mùa hè, Việt Nam coi việc này là sự can thiệp vào chủ quyền của mình.
Trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, tình hình còn phức tạp hơn. Cần nhớ lại rằng, vào năm 1974, một Hiệp định giữa Nhật Bản với Hàn Quốc cùng phát triển dầu mỏ và khí đốt tại Biển Hoa Đông đã gặp phải phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba ở cùng vùng biển này đã làm tê liệt các cuộc đàm phán. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản đã tranh cãi về mỏ dầu khí Chunxiao, cách đường yêu sách trung tuyến đơn phương của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông chỉ 5km. Vụ tranh chấp ít ra đã được giải quyết một phần bởi một Hiệp định giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng sáu năm 2008: thiết lập một vùng phát triển chung ở Biển Hoa Đông liền kề với đường yêu sách trung tuyến của Nhật Bản, và cho phép các Công ty của Nhật phát triển mỏ dầu Chunxiao theo Luật của Trung Quốc.[4] Kết quả của Hiệp định phù hợp với tinh thần và các điều khoản của Công ước về Luật biển, đó là khuyến khích các quốc gia đưa ra những thỏa thuận dự phòng trong khi chờ giải quyết đường biên giới trên. Tuy nhiên, thật không may là, những sự kiện gần đây đã dẫn tới việc chậm trễ thực hiện Hiệp định.
Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ các yêu sách trên biển của Nhật Bản đối với Okinotorishima, một rặng đá ngầm ở 20025' Bắc và 136005' Đông từ với cực Nam của Nhật Bản. Do bào mòn của nước biển, bề mặt của đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên đã dần dần thu hẹp lại. Kết quả là Đảo Bắc (Kitakojima) chỉ nhô lên có 16 centimet và Đảo Đông (Higashikojima) chỉ nhô lên có 6 centimet bên trên mực nước biển khi thủy triều lên.[5] Nếu cứ để yên như vậy, đá ngầm này có thể bị nước biển nhấn chìm. Từ năm 1987, Nhật Bản bắt đầu đầu tư lớn (khoảng 300 triệu USD) để gia cố, nâng cao đá ngầm này để lấy đó làm cơ sở đòi hỏi thêm các quyền tài phán trên biển. Nếu thành công, Nhật Bản có thể tuyên bố chủ quyền một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 400,000 km2 và một thềm lục địa rộng khoảng 740,000 km2 xung quanh đá ngầm này.[6] Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại của mình rằng việc thừa nhận yêu sách của Nhật Bản đối với thềm lục địa từ đảo Okinotorishima "sẽ tạo ra một tiền lệ có thể dẫn tới sự xâm lấn biển ngoài khơi trong Khu vực ở mức độ lớn hơn nữa".[7] Có vẻ như là yêu sách trên biển của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc trong việc đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển tai các vùng biển liền kề quanh đảo đá ngầm.
VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
Ở Biển Đông, tranh chấp về quần đảo Trường Sa là vấn đề gai góc nhất. Tranh chấp này đã tồn tại từ lâu, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Philippines, và Brunei. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thường không có nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ như vậy.
Là người chơi chính, những nỗ lực và hợp tác của Trung Quốc là không thể thiếu để giải tỏa căng thẳng trong khu vực. Khi đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, ban đầu Trung Quốc rất miễn cưỡng tham gia đàm phán ở cấp độ đa phương với ASEAN mặc dù đã đạt được một bộ quy tắc ứng xử song phương với Philippines năm 1995. Tuy nhiên, Trung Quốc đã dần dần thay đổi thái độ và bắt đầu xem xét khả năng và những lợi ích của việc đàm phán một bộ quy tắc ứng xử cấp khu vực. Sự thay đổi này có thể do hai lực đẩy cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên trong Trung Quốc, có sự thúc đẩy hướng tới một chính sách đối ngoại thực dụng "ổn định khu vực láng giềng" (wending zhoubian) được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Dựa trên điều này, Trung Quốc phải duy trì một môi trường ổn định ở Biển Đông. Từ bên ngoài, nỗ lực và sức ép của các nước ASEAN đã thuyết phục được Trung Quốc rằng hợp tác với ASEAN là tất yếu nếu Trung Quốc muốn có một môi trường ổn định ở vùng này. Kết quả là năm 1999 Trung Quốc đã đưa ra đề xuất của riêng mình về bộ quy tắc ứng xử như là đáp ứng lại đề xuất của ASEAN.[8] Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để phác thảo ra một Bộ Quy tắcỨng xử Chung cho khu vực Biển Đông.[9]
Ngày 4 tháng Mười một năm 2002, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC 2002) ở Phnom Penh, Campuchia,[10] Có lẽ đây là văn kiện đáng kể nhất từng được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Tuyên bố được soạn thảo nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung của Hội nghị Nguyên thủ Quốc gia/Người đứng đầu Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc năm 1997.Tuyên bố tái khẳng định cam kết của các bên nhằm sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển để xây dựng lòng tin và hợp tác. Các bên bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các bên dự định hợp tác trên các lĩnh vực sau:
· Bảo vệ môi trường biển
· Nghiên cứu khoa học biển
· An toàn hàng hải và giao thông liên lạc trên biển
· Các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ
· Chông tội phạm quốc tế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong buôn bán ma túy, cướp biển có vũ trang và buôn lậu vũ khí.
Các quốc gia ký kết cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, tiếp tục đàm phán về Biển Đông và kiềm chế để tránh các hành động khiêu khích.
DOC 2002 chứa đựng nhiều yếu tố từ đề xuất của Trung Quốc đưa ra trước đó. Việc ký kết của Trung Quốc có thể được coi như một cử chỉ thiện chí. Một dấu hiệu của việc đó là sau khi ký DOC, Trung Quốc và Philippines giảm bớt tầm quan trọng của các cuộc tập trận Hải quân gần vùng biển tranh chấp, tuyên bố rằng các cuộc tập trận đó đó không liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có những bước thụt lùi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hiệu quả DOC năm 2002. Thứ nhất, có những quốc gia vẫn tiếp tục những hành động đơn phương trái với lời kêu gọi tự kiềm chế đã nêu trong DOC. Các hành động này bao gồm việc đến thăm các đảo tranh chấp, cũng như việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất ở các đảo. Thứ hai, chương trình chung ba bên giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam sau khi hoàn thành phần thứ nhất thì nay đã ngừng các hoạt động, và có lẽ hình như khó có thể thấy chương trình đó sẽ được khôi phục lại trong một tương lai gần.
Thứ ba, gần đây Trung Quốc đã có sự chuyển hướng thái độtừ chủ nghĩa đa phương quay trở lại chủ nghĩa song phương. Như năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN khi đó đã phát biểu do ASEAN bao gồm cả các nước có yêu sách lẫn các nước không có yêu sách nên tổ chức này không thể là diễn đàn thích hợp cho việc thảo luận vấn đề Biển Đông. Do vậy, chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua đàm phán song phương.[11] Sự thay đổi này có chút gì đó gây ngạc nhiên vì Trung Quốc trước đó không lâu vẫn ủng hộ mạnh mẽ DOC, coi như đó là cử chỉ thiện chí phù hợp với cách hành xử đa phương. Trung Quốc thậm chí còn tổ chức một số hội nghị thực thi ở nước mình. Câu hỏi lớn là liệu chủ nghĩa song phương có thực sự hiệu quả để giải quyết vấn đề Biển Đông hay không.
Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong an ninh khu vực. Sẽ có một số lo ngại như liệu Trung Quốc có chọn cách tiếp cận cứng rắn cho vấn đề Biển Đông không. Trong một điều trần tại Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 13/1/2010, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đô đốc Robert Willard nói rằng Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tuần tra trên Biển Đông và đã "cho thấy sẵn sàng đụng độ với các nước trong khu vực ở biển cả và ở các chuỗi đảo đang tranh chấp"[12] Nếu các kịch bản được mô tả này là đúng, thì các quốc gia Đông Nam Á có lý do để lo lắng. Và điều này sẽ phá hoại tinh thần của DOC.
May mắn là, các nước ASEAN và Trung Quốc mới đây đã thỏa thuận nối lại đối thoại về việc thực thi có hiệu quả DOC. Họ đang hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).[13]
HỢP TÁC CHỐNG CƯỚP BIỂN TRONG KHU VỰC
Cướp biển là mối đe dọa thường xuyên đối với an ninh biển của toàn thể thế giới. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2009 toàn thế giới có 406 vụ cướp biển, nhiều nhất kể từ năm 2003. Cướp biển ở Biển Đông cũng tăng lên vào năm 2009 - từ Tháng 1 đến tháng 9 năm 2009, có đến mười vụ so với 3 vụ cùng thời kỳ năm 2008.
Trung Quốc đã nhận thấy rằng họ không thể một mình chống lại cướp biển ở các vùng biển liền kề. Hợp tác khu vực là cần thiết thì mới có hiệu quả. Nhằm mục đích này, Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác trong các vẫn đề an ninh phi truyền thống với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 11 năm 2002. Hiệp định này đòi hỏi hợp tác toàn diện giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề an ninh phi truyền thồng và xác định các kiểu hợp tác ưu tiên. Các ưu tiên đó bao gồm "chống vận chuyển ma túy trái phép, buôn lậu người kể cả phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm tin học." Trong cả hợp tác đa phương và song phương, có các mục tiêu sau:
· Tăng cường trao đổi thông tin
· Tăng cường trao đổi nhân sự, đào tạo và nâng cao việc xây dựng năng lực
· Tăng cường hợp tác thực tiễn trong các vấn đề an ninh phi truyền thống
· Tăng cường nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh phi truyền thống
· Khảo sát các lĩnh vực và các mô hình hợp tác khác [14]
Thêm vào đó, Tuyên bố DOC năm 2002 [15] nhằm mục tiêu ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang trên biển. Thực ra, dựa vào Tuyên bố này, Trung Quốc đã bảo trợ nhiều hội thảo về các vấn đề an ninh phi truyền thống. Ví dụ Viện Nghiên cứu Hải Nam Trung Quốc đã tiến hành hội thảo đào tạo về an ninh biển ở eo biển Malacca cho các quan chức chính phủ các nước Đông Nam Á vào tháng 12 năm 2007.
Những nỗ lực này ở khu vực lên tới đỉnh điểm trong Hiệp định quan trọng nhất khu vực về chống cướp biển: Hiệp định Hợp tác Khu vực về chống Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP) ký tháng 11/2004. Hiệp định có hiệu lực từ tháng chín năm 2006, bắt buộc các nước ký kết phải:
· Ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển và cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển
· Bắt giữ cướp biển hoặc những kẻ phạm vào việc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển
· Bắt giữ tàu biển hoặc máy bay dùng vào việc cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển
· Cứu hộ những tàu biển nạn nhân và những nạn nhân của cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển[16]. Ngăn chặn cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển tới hết mức có thể phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia tương ứng và phù hợp với nguồn lực và năng lực của mình
· Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau cũng như dẫn độ nhằm tiêu diệt và trừng trị cướp biển.
Ngoài các điều khoản này ra, hiệp định còn thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin (ISC). Trung tâm chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2007 tại Singapore.[17]
ReCAAP là hiệp định quốc tế đặc thù đầu tiên nhằm ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển. Bởi vì điều này còn mới mẻ nên nó trở thành khuôn mẫu cho các giàn xếp pháp lý khác ở khu vực. Có tin là một Bộ Quy tắc ứng xử tương tự cũng đã được ký kết ở Tây Ấn Độ Dương.
Đặc biệt để xử lý riêng về vấn đề eo biển Malacca, chính phủ Singapore và IMO đã cùng triệu tập "Hội nghị về Eo biển Malacca và Singapore: Nâng cao An toàn, An ninh và Bảo vệ Môi trường". Tại Hội nghị này, Cơ chế Hợp tác cho Eo biển Malacca và Singapore đã được thành lập năm 2007. Cơ chế bao gồm Diễn đàn Hợp tác, Ủy ban Dự án Hợp tác, và Quỹ Hỗ trợ Hàng hải. Trung Quốc là một trong số các nước ở khu vực bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ cho sáng kiến này.
PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN
Thỏa thuận chính thức duy nhất liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là Hiệp định giữa Trung Quốc – Việt Nam về việc phân định biên giới biển ở Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được trường hợp này, cần xem xét bối cảnh rộng hơn của quan hệ biên giới Việt-Trung.
Hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, sau một thời gian dài căng thẳng tiếp theo cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt năm 1979. Các vấn đề biên giới tiếp tục là một vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương; thực tế, cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt đã bắt đầu với vô số vụ va chạm có vũ trang dọc theo biên giới. Chính vì vậy mà cả hai bên đều đưa vấn đề biên giới thành ưu tiên số một để giải quyết các tranh chấp sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tháng 10 năm 1993, hai bên ký kết một hiệp định đưa ra những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ. Theo đó, hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp trong tiến hành các cuộc đàm phán.
Cũng nên nhớ rằng, trong khi Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 phân định biên giới Trung -Việt áng chừngkhông có sự phân giới chính xác nào diễn ra. Đây chính là một nguồn gốc gây ra căng thẳng và xung đột. Năm 1999, cuối cùng thì hai quốc gia cũng đạt được một thỏa thuận về biên giới trên đất liền. Cuối năm 2008, đường phân giới đã hoàn thành.
Hiệp định Vịnh Bắc Bộ cho thấy hai bên đã có nỗ lực như nhau để phân định đường biên giới trên biển. Hiệp định này được ký kết sau nhiều vòng đàm phán vào năm 2000. Theo Hiệp định này, chiều dài của đường phân định khoảng 500 km. Đường này có 21 mốc địa lý, trong đó từ mốc 1 đến 9 phân định lãnh hải và các điểm từ 9 đến 21 phân định các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và các thềm lục địa của hai nước ở Vịnh Bắc Bộ.[18] Vì đây là Hiệp định đầu tiên thuộc dạng này mà Trung Quốc đạt được với các nước láng giềng, Hiệp định này có thể là một tấm gương tốt. Với Việt Nam, Hiệp định biên giới biển này cũng được đánh giá là toàn diện mà nước này đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nó lại chỉ là cái thứ hai trong ba hiệp định biên giới Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng.

Trung Quốc và Việt Nam cũng ký đã một hiệp định mới về quản lý nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định này quy định sử dụng hợp lý và phát tiển bền vững các nguồn cá và thiết lập Vùng đánh cá chung rộng khoảng 30.000 km2. Theo một khảo sát khoa học, việc đánh bắt cá bền vững ở Vịnh là 600.000 tấn mỗi năm; song trong những năm gần đây, lượng cá đánh bắt của cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đạt tới một triệu tấn. Do đó, sự quản lý bền vững song phương các nguồn cá là một biện pháp được đón nhận để ngăn ngừa suy kiệt nguồn tài nguyên cá.
Vịnh Bắc Bộ là một vùng biển chung nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bằng cách ký kết các hiệp định nói trên, hai quốc gia đã mở ra một giai đoạn mới cùng hợp tác trên biển trong quan hệ song phương. Nhằm thực hiện hiệu quả các hiệp định, hai bên đã tiến hành tuần tra chung và khảo sát khoa học. Cùng với đó, hai bên cũng đã ký một hiệp định khung về hợp tác thăm dò dầu khí trong tương lai ở Vịnh Bắc Bộ.
QUẢN LÝ CÁC NGUỒN CÁ
Ngoài Việt Nam, Trung Quốc cũng đã kýcác hiệp định về nghề cá với Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù các hiệp định này mới nhìn có vẻ không có giá trị lắm, song trên thực tế chúng có đóng góp lớn đề thúc đẩy các quan hệ ngoại giao trên biển.
Đối với Trung Quốc và Nhật Bản, hiệp định về nghề cá là một bước quan trọng tiến tới giải quyết vấn đề biên giới biển. Việc Công ước LHQ về Luật Biển có hiệu lực vào năm 1994 dẫn tới hỗn loạn hoàn toàn. Vì nơi rộng nhất của Biển Hoa Đông cũng chỉ nhỏ hơn 400 hải lý, nên chiều dài của các Vùng đặc quyền kinh tế EEZ được gán cho trong hiệp định thực tế có nghĩa là các vùng biển của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ chồng lấn lên nhau. Tình trạng này không bền vững; các bên cần điều chỉnh nhằm tránh các xung đột về lợi ích trong việc đánh bắt cá.
Sau một số vòng thương lượng, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được một Hiệp định về quản lý nghề cá ở Biển Hoa Đông tháng chín năm1997.[19] Hiệp định này có hiệu lực vào tháng sáu năm 2000. Hiệp định có một số điều khoản quan trọng nhằm đáp ứng với tình hình đã thay đổi. Trước hết, hiệp định tái khẳng định nguyên tắc bảo vệ và bảo tồn nguồn cá. Điều này chiểu theo các điều khoản tương ứng trong Công ước LHQ về Luật Biển và những đòi hỏi về môi trường của Agenda 21. Hai bên đồng ý hợp tác để tiến hành nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn các tài nguyên sống ở biển.[20] Khi tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá tại EEZ của một nước khác, ngư dân phải tôn trọng các biện pháp bảo tồn và các luật liên quan khác của nước đó. Các quốc gia cần thông tin cho nhau về các luật và quy định tương ứng về bảo tồn nghề cá.[21]
Hai là, Trung Quốc cho ngư dân Nhật Bản quyền được đánh bắt cá trên EEZ của mình và ngược lại. Các nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi quốc gia cấp giấy phép đánh bắt cá cho người và tầu đánh cá của nước bên kia và có thể thu một khoản phí thích hợp khi cấp các giấy phép đó. Việc cấp phép cần tuân theo các điều khoản tương ứng của Hiệp định. Tuy nhiên, cần phải cấp bao nhiêu giấy phép và bao nhiêu tấn cá được phép đánh bắt là một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi tiếp tục đàm phán. Hơn nữa, Hiệp định cũng không bao gồm khu vực EEZ nằm ở phía nam 270 Bắc và phía tây của 125030' Đông trong Biển Hoa Đông, là các vùng có Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư đang tranh chấp.
Thứ ba là, Hiệp định thành lập một Ủy ban Liên hợp về Nghề cá Trung-Nhật để thực hiện Hiệp định. Ủy ban gồm có bốn thành viên, mỗi bên cử ra hai người. Các quyết định dựa trên sự đồng thuận của các thành viên. Cả hai quốc gia phải tôn trọng các khuyến nghị của Ủy ban đưa ra và tiến hành các biện pháp phù hợp với các quyết định đó. Ủy ban có thể được triệu tập hàng năm hoặc ở Trung Quốc hoặc ở Nhật Bản. Nếu cần, cũng có thể có những cuộc họp bất thường.[22] Những dàn xếp tương tự cũng có trong các hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc và giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Cuối cùng, Hiệp định về nghề cá cũng tạo ra một số bước tiến trong việc phân định biên giới biển bằng việc thiết lập một khu vực áp dụng các biện pháp tạm thời (Provisional Measures Zone - PMZ). PMZ nằm ở giữa Biển Hoa Đông, cách đường cơ sở của Trung Hoa đại lục và bờ biển của đảo Ryukyu 52 hải lý. Giới hạn phía Bắc của đường này là vĩ tuyến 30040'Bắc và giới hạn phía Nam của đường này là vĩ tuyến 270 Bắc. Hai bên đồng ý bảo vệ các nguồn hải sản sống trong khu vực PMZ, dựa trên các quyết định của Ủy ban Liên hợp về nghề cá. Mỗi quốc gia chịu trách nhiệm đối với người của nước mình đánh bắt cá trong vùng PMZ, nhưng không nên áp đặt các biện pháp đối với người của nước kia đang hoạt động ở đó.
Việc thiết lập một khu vực đánh bắt cá chung là một dạng thức điển hình về hợp tác đánh bắt cá được thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Do vậy, khu vực PMZ Trung-Nhật không có gì mới. Cái mới ở đây là, khu vực PMZ này là khu vực đầu tiên giữa Trung Quốc và Nhật Bản - nó cho thấy việc hợp tác trên biển giữa hai quốc gia đã đi vào một thời kỳ mới.
KẾT LUẬN
Trong quan hệ quốc tế, xung đột và hợp tác luôn tồn tại cùng với nhau. Trung Quốc và các nước láng giềng không phải là ngoại lệ. Ta chỉ có thể hy vọng rằng xung đột trong khu vực có thể giảm thiểu đến mức tối đa và hợp tác ngày càng được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa.
Công ước LHQ về Luật Biển đã thiết lập một chế độ hoạt động theo pháp luật cho các đại dương. Công ước được mô tả như là một bản "hiến pháp” cho các dại dương.[23] Tuân thủ luật pháp quốc tế là một trong những đòi hỏi đối với các quốc gia trong quan hệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển làm được nhiều hơn là chỉ đưa ra những điều luật. Một điều khoản đặc biệt yêu cầu các quốc gia thành viên phải phối hợp các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu khoa học của mình trong khu vực.[24] Điều khoản này có lẽ ở điểm nào đó cũng được mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh biển.
Vì Trung Quốc đang trỗi dậy, nước này chắc chắn đang hướng lợi ích của mình ra biển. Cần nhớ lại rằng năm 2005, Trung Quốc kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Zheng He,[25] một nhà hàng hải vĩ đại triều Minh (1368-1644), người đã lãnh đạo các hạm đội của Trung Quốc qua bảy cuộc viễn du tới Tây Phi đầu thế kỷ thứ 15. Làm lễ kỷ niệm Zheng He biểu hiện ý định của chính phủ Trung Quốc làm sống lại vinh quang hải quân Trung Quốc trong quá khức. Mặt khác, hải quân Trung Quốc hiện nay đang mở rộng hoạt động của mình ra ngoài vùng biển khơi và đang bàn xem liệu có nên trang bị tàu sân bay không. Rõ ràng là Trung Quốc đang quyết tâm trở thành cường quốc biển một lần nữa.
Tuy nhiên, những tham vọng này có thể khiến các nước láng giềng nghi ngờ liệu Trung Quốc có thực sự là thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế hay không, đặc biệt đối với các vấn đề an ninh biển. Một hình ảnh quá quyết đoán có khả năng phá hoại mục đích của Trung Quốc biến cả Biển Hoa Đông và Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, hợp tác và hài hòa. Vì lý do đó mà cần đề xuất một kiểu "quyền lực thông minh" đối với chính sách biển của Trung Quốc. Nếu làm được điều này, Trung Quốc có khả năng tạo thành một tấm gương tốt cho các quốc gia khác ở châu Á noi theo. Nếu các quốc gia trong khu vực cùng hành động thì hòa bình và an ninh trên biển mới có thể được duy trì dài lâu.
GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh
Quang Hưng dịch
Bản gốc tiếng Anh “CAN CHINA RESPECT THE LAW OF THE SEAS?: An Assessment of Maritime Agreements Between China and its Neighbors” Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

[1] Toàn văn có tại http://www.un.org/Depts/los/conventi...s/closindx.htm, truy cập 4 Tháng 11 năm 2010.
[2] Li Haiqing, "Reflections on Our Strategy for Ocean Development in East Asian Seas," Ocean Development and Management (tiếng Trung) 1 (2005): 10.
[3] Cuộc họp lần thứ 13 giữa Trung Quốc và Hàn Quốc được tổ chức tại Qingdao, Trung Quốc vào ngày 4/7/2008.
[4] Toàn văn Hiệp định, xem: http://www.chinadaily.com.cn/china/2...nt_6774860.htm,, truy cập ngày 19/6/2008.
[5] Yann-huei Song, "Okinotorishima: “A ‘Rock’ or an ‘Island’? Recent Maritime Boundary Controversy between Japan and Taiwan/China,” Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea, ed. Seoung-Yong Hong and Jon M. Van Dyke (Leiden: Martinus Nijhoff, 2009), 148.
[6] Qin Jize, Li Xiaokun và Cheng Guangjin, "Japan Atoll Expansion ‘Hurt Neighbors’," China Daily, 11/2/2010, truy cập ngày 14/10/2010 http://www.chinadaily.com.cn/world/2...nt_9461259.htm
[7] "Proposal for the inclusion of a supplementary item in the agenda of the nineteen Meeting of States Parties: Note verbale Dated 21 May 2009 from the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General”, SPLOS 196, 22/5/2009, truy cập ngày 14/10/2010, http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UND...df?OpenElement
[8] Hai đề xuất này được in lại trong Selected Foreign and Chinese Articles on the South China Sea(2001), ed. Hainan Research Institute for the South China Sea (Hainan: Haikou, 2002) (in Chinese), 180-183.
[9] Các bản dự thảo Quy tắc ứng xử của cả ASEAN và Trung Quốc được in lại trong Collection of Selected Foreign and Chinese Papers on the South China Sea, 180-183.
[10] Toàn văn có tại http://www.aseansec.org/13163.htm, truy cập ngày 18/10/2010.
[11] “Beijing: South China Sea Territorial Disputes Not on ASEAN Agenda,” VOA News, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2009, http://www.voanews.com/english/2009-10-21-voa20.cfm, truy cập ngày 11/11/2009.
[12] "Choppy Waters: East and south, China makes a splash," Economist bản in ngày 21/1/2010, truy cập ngày 15/10/2010 http://www.economist.com/world/asia/...ry_id=15331153.
[13] Xem "Press Release on the 13th ASEAN – China Summit,”" Hà Nội, ngày 29/10/2010, truy cập ngày 1/11/2010, http://asean2010.vn/asean_en/news/36...N-CHINA-summit

theo HSO