Tham luận của TS. Ian Storey, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Xing-ga-po.
"...căng thẳng đang gia tăng trên Biển Đông và đang tạo ra những hệ lụy đáng lo ngại đối với hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực. Trong bài tham luận của tôi chiều nay, tôi muốn đề cập tới những biến chuyển gần đây thông qua việc xem xét ba chủ đề lớn:
thứ nhất là những nguyên nhân sâu xa của những căng thẳng đang leo thang, đặc biệt là vai trò của Trung Quốc; thứ hai là những phản ứng nước đôi của ASEAN đối với những va chạm ngày càng tăng trong vòng hai năm qua và những hạn chế của các cơ chế quản lý tranh chấp ASEAN đã thiết lập với Trung Quốc; thứ ba là những hệ lụy của việc căng thẳng gia tăng đối với ổn định khu vực..."
...kể từ năm 2007, tình hình căng thẳng trở lại, đặc biệt giữa Trung Quốc với Việt Nam, cũng như giữa Trung Quốc và Philippin. Tại sao như vậy? Là quốc gia mạnh nhất trong số các bên tranh chấp, hành vi của Trung Quốc là yếu tố quyết định cho tranh chấp này, và từ 2007-2008, các động thái của Trung Quốc trở nên cứng rắn hơn. Điều này có thể do một vài nhân tố sau.
Thứ nhất, nhu cầu vô đáy của Trung Quốc đối các nguồn năng lượng là một động lực chính đối với tranh chấp này. Trung Quốc không chỉ đa dạng hóa các nguồn năng lượng ở xa từ Trung Đông, mà còn khai thác nguồn dầu mỏ cũng như phát triển công nghệ cho phép các công ty dầu khai khai thác ở khu vực biển sâu và ngoài khơi xa. Một mối quan ngại khác là nhu cầu muốn đảm bảo an toàn tuyến đường biển (SCLOCs) cung cấp những nguồn năng lượng sống còn cho Bắc Kinh từ Trung Đông và Châu Phi thông qua những huyết mạch hàng hải ở Đông Nam Á, đặc biệt là eo biển Ma-lắc-ca, Sunda và Lombok-Makassar, những nơi mà các nhà phân tích Trung Quốc coi là điểm yếu chiến lược của họ.
Thứ hai, Trung Quốc đã tìm cách củng cố những yêu sách pháp lý của họ trong khu vực và bác bỏ lập luận của các bên yêu sách khác. Cuối năm 2007, Đại hội Đại biểu toàn quốc Trung Quốc đã thông qua một đạo luật mới thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý các yêu sách của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa và Trường Sa, một hành động dẫn đến các cuộc phản đối chống Trung Quốc ở Việt Nam. Trung Quốc đã bác bỏ yêu sách chủ quyền của Hà Nội ở Biển Đông và thậm chí còn gây sức ép đối với các công ty năng lượng nước ngoài không được triển khai các dự án ở vùng biển ngoài khơi Việt Nam. Năm 2007 và 2008, các bản báo cáo cho biết giới quan chức Trung Quốc đã bóng gió ám chỉ tới việc sẽ có những hành động (tuy chưa cụ thể) đối với một số công ty nước ngoài, bao gồm công ty BP và ExxonMobil nếu những công ty này không ngừng triển khai các dự án dầu khí ở vùng biển ngoài khơi phía nam Việt Nam. Động thái này đã chính thức được Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Mỹ thừa nhận. Việc chính phủ Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ năm 1999 cũng nhằm để củng cố quyền chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực này.
Thứ ba, các hoạt động của các bên yêu sách khác cũng đẩy Trung Quốc theo đuổi một chính sách cứng rắn hơn. Đầu năm nay, Trung Quốc đã rất nỗ lực để ngăn Philippin không triển khai luật về đường cơ sở sửa đổi ban hành tháng 3/2009 nhưng cuối cùng đã thất bại. Hành động này của Philippin đã bị Bắc Kinh lên án mạnh mẽ. Thêm vào đó, đầu tháng 5/2009, Trung Quốc phản ứng tức khắc và mạnh mẽ đối với việc Malaixia và Việt Nam đứng tên chung trong bản yêu sách nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) và một bản bổ sung của Việt Nam. Yêu sách về CLCS làm tranh chấp Biển Đông lại thêm phần phức tạp hơn..."