оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно

Di sản các yêu sách hàng hải của Trung Quốc

Email In PDF.

 

Raul "Pete" Pedrozo

 

Đã có nhiều bài viết trong những ngày qua về phán quyết mang tính lịch sử của Tòa Trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, trong đó đã bác bỏ hoàn toàn các yêu sách và hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong khi phán quyết của Tòa đã giáng một đòn mạnh lên đường chín đoạn và hành vi gây hấn của Trung Quốc đối với các nước có tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông, cộng đồng quốc tế không nên quên thực tế rằng các các yêu sách của Bắc Kinh tại đây chỉ là một phần trong nỗ lực chung của nước này nhằm thay đổi nguyên trạng và trật tự pháp lý dựa trên quy tắc mà đã chi phối đại dương trong hàng thế kỷ.

Mặc dù là một bên ký kết Công ước từ năm 1996, Trung Quốc đã thường xuyên vi phạm các điều khoản của Công ước này. Gần như tất cả các văn bản pháp luật được thực thi trong nước đều không phù hợp với UNCLOS và tập quán quốc tế. Việc Bắc Kinh từ chối không tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng tài đơn giản một lần nữa khẳng định sự coi thường của Trung Quốc đối với trật tự pháp lý thế giới dựa trên quy tắc, một yếu tố đã đóng góp trực tiếp cho sự tăng trưởng và phồn thịnh chưa từng có tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong 70 năm qua. 

Vào năm 1996, Trung Quốc đã tuyên bố hai bộ đường cơ sở thẳng, một dọc bờ biển Trung Quốc đại lục và một quanh quần đảo tranh chấp Hoàng Sa. Năm 2012, Trung Quốc thiết lập đường cơ sở thẳng quanh nhiều cấu trúc thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Phần lớn bờ biển của Trung Quốc đại lục không đạt các tiêu chuẩn địa lý quy định trong Điều 7 thuộc UNCLOS để thiết lập đường cơ sở thẳng, cụ thể là đường bờ biển bị khoét sâu hay lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc bờ biển. Hơn nữa, hầu hết các đường cơ sở đều đi chệch khá xa hướng chung của bờ biển và các vùng nước bên trong đường cơ sở không gắn kết chặt chẽ với đất liền để được đặt dưới chế độ nội thủy. Việc sử dụng đường cơ sở thẳng để bao trùm quần đảo Hoàng Sa và Senkaku cũng không phù hợp với UNCLOS. Trên thực tế, Trung Quốc đã vẽ đường cơ sở thẳng áp dụng cho quần đảo quanh các nhóm đảo đang tranh chấp này. Tuy nhiên, là một quốc gia đất liền, Trung Quốc không được phép thiết lập đường cơ sở quần đảo cho bất kì đảo nào mình kiểm soát.

Do đó, trừ một số ít ngoại lệ, đường cơ sở của Trung Quốc nên là ngấn nước thủy triều thấp nhất theo Điều 5 của UNCLOS. Tuy nhiên, bằng cách tuyên bố đường cơ sở thẳng bất hợp pháp, Trung Quốc đã biến hàng nghìn dặm hải lý vuông thành lãnh hải mà lẽ ra là vùng biển quốc tế và một diện tích đáng kể thành nội thủy mà lẽ ra là lãnh hải. Các vùng nước mở rộng này đã làm bất ổn định khu vực vì xâm lấn vào các tuyên bố thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác tại biển Hoàng Hải, biển Hoa Đông và Biển Đông, cũng như cản trở các quyền và quyền tự do đi lại của cộng đồng quốc tế tại các vùng nước này.

Trung Quốc cũng tuyên bố vịnh Bột Hải và eo biển Hải Nam (Quỳnh Sơn) vùng nước nội thủy. Cả hai yêu sách này dường như đều được dựa trên cơ sở quyền lịch sử. Để chứng minh tuyên bố vịnh lịch sử hoặc vùng nước lịch sử, một quốc gia cần phải thể hiện quyền kiểm soát hiệu quả, liên tục đối với vịnh/vùng nước đó, cũng như được các nước khác thừa nhận việc thực thi quyền đó. Vịnh Bột Hải chưa được liệt kê vào bất kì danh sách vịnh lịch sử chính thống nào, và cả Mỹ và Anh đều phản đối yêu sách này vào năm 1958. Do đó, yêu sách này không nhận được sự thừa nhận đầy đủ của chính phủ nước ngoài theo yêu cầu của luật pháp quốc tế. 

Tương tự, yêu sách của Trung Quốc đối với eo biển Hải Nam là nội thủy cũng đã gặp phải sự phản đối của nhiều nước. Eo biển này cũng được liệt kê là eo biển lớn trong các danh sách chính thống và được quy định trong UNCLOS là eo biển dùng cho hàng hải quốc tế và áp dụng quyền qua lại liên tục. Do đó, Trung Quốc không thể ngăn cản hàng hải quốc tế di chuyển qua Hải Nam bằng cách tuyên bố eo biển này là vùng nội thủy. 

Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra yêu sách lãnh hải 12 hải lý vào năm 1958. Yêu sách này được tái khẳng định trong một bộ luật năm 1992 mà cũng thiết lập vùng tiếp giáp lãnh hải. Nhìn chung, bộ luật năm 1992 này phù hợp với UNCLOS. Tuy nhiên, có hai điều khoản trong luật này mà rõ ràng không thống nhất với Công ước, tập quán quốc tế và thực hành nhà nước. Mặc dù thừa nhận quyền qua lại vô hại của “các tàu nước ngoài phi quân sự”, Điều 6 của luật này yêu cầu tàu chiến nước ngoài và các tàu chính phủ khác hoạt động vì mục đích phi thương mại phải “xin phép” trước trước khi thực hiện quyền qua lại vô hại qua vùng nước lãnh hải. Trong khi đó, Điều 17 của UNCLOS áp dụng cho toàn bộ các loại tàu (bao gồm tàu chiến và các tàu chính phủ khác) không đặt điều kiện thông báo hoặc đồng ý trước cho quyền qua lại vô hại. Tàu chiến thực hiện quyền qua lại vô hại bị cấm không được triển khai một số hoạt động quân sự nhất định trong vùng lãnh hải, nhưng việc không thông báo hoặc không được sự đồng ý trước không phải là một trong những hoạt động cấm được liệt kê trong Điều 19 của UNCLOS.

Điều 4 trong bộ luật 1992 của Trung Quốc thiết lập vùng nước tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý cũng có vấn đề tương tự. Trong khu vực này, Trung Quốc yêu sách thực thi quyền kiểm soát cần thiết để phòng chống hoặc trừng phạt việc vi phạm “các quy định pháp luật về an ninh, hải quan, tài khóa, vệ sinh dịch tễ hoặc kiểm soát xuất - nhập cảnh trong vùng lãnh thổ, nội thủy hoặc lãnh hải”. Điều kiện liên quan đến hải quan, tài khóa, vệ sinh dịch tễ và kiểm soát xuất - nhập cảnh (nhập cảnh) là phù hợp với UNCLOS; nhưng điều kiện liên quan đến “an ninh” thì không. 

Trung Quốc ra tuyên bố yêu sách vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý vào năm 1998. Mặc dù phần lớn bộ luật năm 1998 dường như tuân theo các yêu cầu của UNCLOS, một số điều khoản của luật này không rõ ràng và áp dụng không nhất quán với Công ước. Ví dụ, Điều 11 của luật này cho phép quyền tự do hàng hải và hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc ngụ ý điều chỉnh các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng này dựa trên một loạt các tranh luận pháp lý thay thế mà đã phát triển trong hai thập kỷ qua, từ tranh luận về an ninh quốc gia và “các mục đích hòa bình” đến nghiên cứu khoa học hàng hải (MSR) và tranh luận dựa trên quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. 

Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ra một lập trường chưa từng có nhằm phân biệt quyền tự do hàng hải đối với tàu thuyền thương mại và quyền tự do hàng hải đối với tàu hải quân. Trung Quốc cho rằng tàu hải quân chỉ được hưởng “quyền tự do qua lại” (ziyou hangxing) tại vùng biển cả. Trong vùng EEZ, tàu chiến được hưởng một quyền hạn chế hơn về “qua lại hòa bình” (ziyou hengxing). Do đó, khi hoạt động trong vùng EEZ, Trung Quốc khẳng định rằng tàu chiến Mỹ không được thực hiện các hoạt động quân sự và phải tính tới lợi ích an ninh của Trung Quốc. Chỉ cần phân tích UNCLOS và lịch sử đàm phán xây dựng Công ước này cũng đủ để bác bỏ lập trường của Trung Quốc và công nhận sự thực hành nhà nước từ lâu đời rằng mọi quốc gia có toàn quyền thực hiện các hoạt động quân sự bên ngoài vùng lãnh hải của một nước khác theo luật pháp quốc tế. 

Các hoạt động MSR của nước ngoài cũng được Trung Quốc điều chỉnh trongLuật Thăm dò và Đo đạc bản đồ 2002. Bất kì hoạt động thăm dò và đo đạc bản đồ của một thực thể nước ngoài nào cũng cần có sự cho phép trước của Hội đồng Nhà nước và Quân đội Giải phóng Nhân dân, và không liên quan tới các bí mật quốc gia hay gây đe dọa tới an ninh Trung Quốc. “Thăm dò và đo đạc bản đồ” được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm bất kì hoạt động thu thập dữ liệu nào trong vùng EEZcủa Trung Quốc. Trung Quốc theo đó khẳng định rằng các hoạt động thủy đạc quân sự và tình báo, giám sát và thăm dò (ISR) của Mỹ đe dọa đến an ninh nước này,giống với hoạt động MSR và do đó chịu sự quản lý của Quân đội Giải phóng Nhân dân. Lập trường của Trung Quốc không hề có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế và không nhất quán với sự thực hành nhà nước và ngôn ngữ của UNCLOS. 

UNCLOS phân biệt một cách rõ ràng hoạt động MSR và các hoạt động thu thập dữ liệu biển khác, như thủy đạc và các hoạt động ISR (Điều 19, 40, 54, 56, 87 và Phần XIII). Theo đó, trong khi các nước ven biển có thẩm quyền đối với hoạt động MSR trong vùng EEZ, và có thể điều chỉnh các hoạt động MSR và thăm dò trong vùng lãnh hải, vùng nước quần đảo, eo biển quốc tế và tuyến đường biển quần đảo, nhưng các nước này không có thẩm quyền đối với hoạt động thủy đạc và ISR trong vùng EEZ. Các dạng thu thập dữ liệu biển được coi là quyền t do hàng hải tại vùng biển cả và các quyền sử dụng biển khác phù hợp với luật pháp quốc tế, và có thể được thực hiện một cách tự do tại vùng EEZ của nước ngoài mà không cần thông báo hoặc cho phép của nước ven biển phù hợp với Điều 58 của UNCLOS.

EEZ được đưa ra với mục đích chủ yếu để các quốc gia ven biển kiểm soát tốt hơn các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật tiếp giáp với bờ biển các nước này, bao gồm quyền tài phán đối với việc lắp đặt, sử dụng các cấu trúc ngoài khơi, hoạt động MSR, bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Ngoài các quyền chủ quyền hạn chế của các quốc gia ven biển đó, tất cả các nước được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, lắp đặt cáp ngầm, đường ống, và các quyền sử dụng biển phù hợp với luật pháp quốc tế liên quan tới những quyền tự do kể trên trong vùng EEZ. Điều 55, 56, 58 và 86 của UNCLOS điều chỉnh các quyền lợi mâu thuẫnnhau của các quốc gia ven biển và các quốc gia sử dụng biển bên trong EEZ, tối đa hóa quyền kiểm soát của quốc gia ven biển đối với tài nguyên thiên nhiên mà không làm cản trở quyền tự do hàng hải và các quyền sử dụng biển khác phù hợp với luật pháp quốc tế. Các thông lệ quốc gia từ lâu đã khẳng định thuật ngữ "các quyền sử dụng biển khác phù hợp với luật pháp quốc tế" không chỉ dùng để chỉquyền hàng hải và quyền hàng không. Các cuộc diễn tập và hoạt động quân sự đã luôn được coi là "các quyền sử dụng biển khác phù hợp với luật pháp quốc tế", và tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền tiến hành các hoạt động như vậy trong vùng EEZ.

Cuối cùng, vào tháng 11/2013, Trung Quốc thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên phần lớn biển Hoa Đông. Tất cả các máy bay đi vào khu vực đó phải gửi kế hoạch bay  duy trì liên lạc với cơ quan chức năng Trung Quốc, mở hệ thống nhận phát tín hiệu radar, và phải khai báo quốc tịch và số hiệuđăng ký. Máy bay nào không tuân theo các thủ tục khai báo hoặc hướng dẫn của cơ quan chức năng Trung Quốc sẽ phải chịu "các biện pháp phòng ngự khẩn cấp". Tuyên bố thiết lập ADIZ đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía Nhật Bản , Hàn Quốc và Mỹ, và chỉ vài ngày sau khi thành lập đã bị máy bay quân sự các nước này thách thức.

Luật pháp quốc tế không cấm Trung Quốc thiết lập một ADIZ trong không phận quốc tế tiếp giáp với không phận quốc gia của mình. Trên thực tế, một số quốc gia, trong đó có Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, đã thiết lập ADIZ trong không phận quốc tế ngoài bờ biển của họ. Tuy nhiên, cách thức mà Bắc Kinh thông báo, triển khai và thực thi vùng nhận diện này lại có nhiều vấn đề.

Vùng nhận diện của Trung Quốc chồng lấn với các vùng ADIZ đã có từ trước của Nhật Bản và Hàn Quốc. Không một ADIZ nào được xâm phạm vào ADIZ của một quốc gia khác. Một điểm bất thường khác của ADIZ Trung Quốc là bao trùm cả không phận các cấu trúc tranh chấp - đá Socotra và quần đảo Senkaku. Thông thường, các quốc gia không thiết lập ADIZ trên các lãnh thổ đang tranh chấp. Cuối cùng, thủ tục khai báo trong vùng ADIZ của Trung Quốc áp dụng cho tất cả các máy bay quá cảnh qua khu vực này, cho dù họ có ý định bay vào không phận quốc gia của Trung Quốc hay không. Hầu hết các quốc gia thành lập ADIZ chỉ áp dụng thủ tục khai báo đối với máy bay có ý định bay vào không phận quốc gia của họ.

Việc Trung Quốc áp dụng các quy định ADIZ đối với máy bay quá cảnh mà không có ý định bay vào vùng không phận quốc gia là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Tất cả các nước được bảo đảm quyền tự do hàng không trong không phận quốc tế trên vùng lãnh hải. Do đó, để phù hợp với các quyền tự do lâu đời về hàng hải và hàng không, Trung Quốc không thể đặt điều kiện thông báo trước cho cơ quan chức năng Trung Quốc đối với các chuyến bay quá cảnh qua không phận quốc tế.

Sự coi thường luật pháp quốc tế cũng như các hoạt động cưỡng chế đáng lo ngại của Trung Quốc đang làm suy yếu tính thượng tôn pháp luật và trật tự tự do của khu vực đại dương. Trung Quốc tìm cách xóa bỏ các quyền tự do trên biển để nắm quyền kiểm soát hoàn toàn các biển gần và thúc đẩy chiến lược chống tiếp cận/ chống xâm nhập khu vực (A2/AD). Nước này đang tìm cách thay đổi hiện trạng ở biển Hoa Đông và Biển Đông thông qua các động thái đe dọa, xâm lấn một diện tích rộng lớn trong vùng biển cả và không phận quốc tế và các hoạt động cải tạo quy mô lớn bất hợp pháp nhằm đạt được các mục tiêu bành trướng của mình. Bằng cách kiểm soát các biển gần cũng như các tuyến thông tin liên lạc chiến lược đường biển và nguồn tài nguyên dồi dào trong khu vực này, Trung Quốc sẽtiến một bước gần hơn để thúc đẩy chiến lược “cắt lát salami” và thống trị hiệu quả khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương, một nhà lãnh đạo Thái Bình Dương và một cường quốc hàng hải Thái Bình Dương, Mỹ có thể giúp đối trọng với mối đe dọa Trung Quốc bằng cách duy trì một sự hiện diện quân sự mạnh mẽ trong khu vực và tăng cường năng lực của các đối tác và đồng minh cùng chí hướng. Tuy nhiên, Mỹ không thể, và không nên, đi một mình. Quyết định của Manila tìm kiếm giải pháp từ bên thứ ba trong tranh chấp với Trung Quốc, và kết luận của Tòa Trọng tài rằng đường chín đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông không có cơ sở pháp lý, là một bước đi đúng hướng. Khi phục hồi từ thất bại tủi hổ này, Trung Quốc có thể sẽ cân nhắc điều chỉnh những yêu sách rộng lớn và cũng không kém phần quá đáng của mình./.

 

Raul “Pete” Pedrozo là Phó Tổng Tư vấn của Cơ quan tìm kiếm người Mỹ mất tích (DPAA). Trước đó, ông từng là Giáo sư Luật Quốc tế tại Trung tâm Luật pháp quốc tế Stockton thuộc Cao đẳng Chiến tranh Hải quân Mỹ, và hiện là học giả tại đây. 

Nguồn