- Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc trên biển Đông, việc Tổng thống Philippines Gloria Arroyo ký ban hành Luật đường cơ sở mới, những phản đối gay gắt lẫn nhau của các bên liên quan tới tranh chấp biển Đông… làm nóng lên tình hình biển Đông?
- Xung đột biển Đông hiện nay phần nhiều là hành xử theo thông lệ hơn là leo thang xung đột.
Chúng ta không thấy những động thái chiếm đóng như trước và trên thực tế, mức độ căng thẳng về quân sự thấp hơn trước rất nhiều.
Những tuyên bố chủ quyền và phản đối tuyên bố lẫn nhau không phải là dấu hiệu gia tăng căng thẳng mà chỉ là các hoạt động mang tính ngoại giao, thủ tục. Nếu không phản đối có nghĩa là anh từ bỏ chủ quyền của mình và công nhận tuyên bố của nước kia.
Trong quá khứ, Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vũ lực để xử lý tranh chấp, như chiếm Hoàng Sa năm 1974, chiếm một số điểm trên Trường Sa năm 1988. Trung Quốc cũng là nước đòi hỏi nhiều nhất với tuyên bố hình chữ U.
Cũng cần nhớ rằng, trong quá khứ, Trung Quốc đã lựa chọn dùng vũ lực với Việt Nam trong bối cảnh miền Bắc Việt Nam bị cô lập những năm 1970s và khi chiếc ô của Xô Viết bị đe dọa những năm 1980s.
Vào thời điểm này, không có lí do gì để Trung Quốc dùng quân sự. Các bên tranh chấp đã có nhiều sáng kiến hợp tác cùng khai thác, cả song phương và đa phương.
Tuy nhiên, hiện nay, không một quốc gia tranh chấp nào muốn xử lý vấn đề bằng vũ lực, dù Trung Quốc là nước ít có tinh thần hợp tác nhất. Trong những năm 2007 - 2008, Trung Quốc đã có nhiều hành động ngăn cản các công ty dầu lửa nước ngoài hợp tác với Việt nam. Một số công ty đến vùng biển này theo lời mời hợp tác của Việt Nam đã rút lui dưới áp lực của Trung Quốc. Đó không phải là hành động thân thiện cho lắm.
Điều quan trọng là các bên sử dụng nỗ lực song phương để ngăn xung đột leo thang.
Thời hạn đăng kí thềm lục địa mở rộng với UB ranh giới thềm lục địa (13/5/2009) đang tới gần. Điều gì sẽ xảy ra khi các nước có những chồng lấn trong bản đăng kí?
- Quan điểm của Indonesia, Malaysia tương đối rõ. Trung Quốc chắc chắn sẽ tuyên bố chủ quyền toàn bộ biển Đông. Philippines còn chưa rõ ràng bởi trong hai dự luật gần đây, một của Hạ viện và một của Thượng viện Philippines có sự khác biệt về phần biển họ đòi chủ quyền.
Hy vọng sau ngày 13/5 sẽ thấy rõ ràng hơn quan điểm của từng bên.

Tuyên bố chủ quyền của các bên liên quan trong tranh chấp biển Đông
Quốc tế hóa: phương án bất khả thi?
- Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng, thay vì nỗ lực đa phương để giải quyết căng thẳng ở biển Đông, cần quốc tế hóa xung đột này, đưa ra tòa án công lý quốc tế chẳng hạn. Theo ông, khả năng đó như thế nào?
- Trước đây, năm 2003, Singapore và Malaysia đã từng đưa vụ việc tranh chấp chủ quyền ở 2 đảo vốn tranh chấp từ năm 1979. Tòa án công lý quốc tế đã phán xét đảo lớn thuộc Singapore, đảo nhỏ thuộc Malaysia.
Trong trường hợp Hoàng Sa và Trường Sa, đến thời điểm này, đây vẫn là phương án bất khả thi.
Muốn đưa vụ việc ra tòa án công lý quốc tế, trước hết, các bên liên quan phải đồng ý đệ trình hồ sơ lên, điều mà theo quan sát là không bao giờ xảy ra. Ở đây, cách tiếp cận đa phương không có sự khác biệt lớn so với tiếp cận song phương.
Vả lại, sẽ không có lợi gì cho các bên liên quan để đưa tranh chấp này ra trước tòa án quốc tế. Các bên chưa nhìn thấy cơ hội đảm bảo phần thắng trong cuộc tranh cãi này. Hơn nữa, các phán quyết của Tòa án Quốc tế chỉ mang ý nghĩa chính trị hơn là có hiệu lực thi hành, và mọi việc đều tùy thuộc vào thiện chí của các nước.
Ngay cả khi đã ra tòa và có phán quyết, theo lý thuyết, nếu một bên từ chối thi hành phán quyết của tòa, vấn đề có thể được chuyển lên cho Hội đồng Bảo an LHQ xử lý. Với xung đột biển Đông, vụ việc sẽ đi vào bế tắc bởi Trung Quốc với tư cách thành viên thường trực Hội đồng Bảo an sẽ có quyền phủ quyết
(Trung Quốc từng nhiều lần từ chối đề nghị của các nước liên quan trong tranh chấp biển Đông về việc đệ trình hồ sơ lên tòa án quốc tế: Năm 1932, khi Pháp đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Toà án Quốc tế, Trung Quốc đã từ chối. Khi Trung Quốc chiếm một số đảo Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988 và Việt Nam cố gắng đưa tranh chấp ra Hội đồng Bảo an LHQ, Trung Quốc đã dùng vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ để cản trở mọi sáng kiến của Hội đồng.
Philippines trong dự luật mới thông qua cũng đã kèm điều kiện bảo lưu không áp dụng chế độ tài phán của tòa án công lý quốc tế. Điều đó có nghĩa các nước, nếu muốn, cũng không thể đưa Philippines ra kiện ở tòa án này. - PV)
- Vậy còn khả năng yêu cầu sự hỗ trợ pháp lý từ cơ quan tài phán quốc tế trong việc giải thích luật quốc tế thì sao? Hiện nay, những khái niệm như vùng biển quốc tế, đảo, và đá vẫn còn những cách giải thích khác nhau và Trung Quốc có thể lợi dụng điểm này để mở rộng vùng chủ quyền.
- Luật pháp quốc tế luôn có nhiều cách diễn giải. Một nghị quyết của Liên hiệp quốc cũng có bao nhiều là cách hiểu đấy thôi. Đây là lĩnh vực mà các luật sư quốc tế của ASEAN có thể ngồi lại với nhau, cùng thảo luận. Trong giải thích luật, những cơ chế như tòa án quốc tế cũng có thể giúp ích.
Cần một cơ chế khác DOC
- Cụ thể vai trò của ASEAN trong việc trở thành đối trọng cùng Việt Nam xử lý vấn đề biển Đông là gì?
Tôi không cho rằng cần lôi kéo cả ASEAN vào việc này dù Việt Nam là thành viên của tổ chức. Tôi không nghĩ là cơ chế của ASEAN hay ASEAN + 1 có thể giúp gì nhiều ngoài việc tạo ra những dạng thức tuyên bố và hành xử.

Các tuyến hàng hải quan trọng đều đi qua biển Đông. Ảnh: uscc.gov
Việt Nam có lợi ích riêng trong xử lý tranh chấp biển Đông nhưng không phải nước thành viên nào cũng vậy. Điển hình như Thái Lan, họ không có lợi ích trong biển Đông trong khi còn có quan hệ khác với Trung Quốc. Campuchia cũng tương tự, đừng mong họ bảo vệ Việt Nam trong vấn đề biển Đông, và quan hệ của họ với Trung Quốc quan trọng hơn với Việt Nam.
Theo tôi, vấn đề này phải giải quyết riêng rẽ giữa các nước có bờ biển liên quan: Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines…
Hơn nữa, ASEAN không thể có vai trò gì nhiều, vì quan điểm của các nước thành viên với tranh chấp đã có sự khác biệt. Tuyên bố chủ quyền của các nước thành viên có sự chồng lấn. Giả sử ASEAN phản đối quan điểm của Trung Quốc, liệu điều này đồng nghĩa với việc ASEAN ủng hộ quan điểm của nước nào, Việt Nam, Philippines, hay Malaysia, Indonesia? Ủng hộ nước này đồng nghĩa với việc ASEAN phản đối những nước khác cùng khối.
Điều này cũng khiến việc đưa vấn đề lên tầm quốc tế khó khăn hơn, bởi muốn đưa lên thì phải có sự đồng thuận của các nước trong khối.
ASEAN và Trung Quốc đã có tuyên bố về ứng xử trên biển Đông DOC, đưa ra những nguyên tắc hành xử, nhưng nguyên tắc chỉ là nguyên tắc và nó có những hạn chế nhất định. DOC trong nhiều trường hợp chỉ là một văn bản thỏa thuận không hơn.
Điều cần làm hiện nay là đàm phán để có những đường ranh giới rõ ràng mà các nước đều có thể chấp nhận được. Và ASEAN cần một cơ chế khác, tốt hơn DOC để có thể đóng góp hiệu quả trong giải quyết vấn đề.
- Vai trò của Mỹ thì sao, thưa ông? Bởi, cách đây hơn hai tuần, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ tới Việt Nam cho biết hai nước đang thảo luận về tình hình an ninh ở biển Đông.
Việt Nam cũng có thể có sự cộng tác với Mỹ song liệu đây có phải là mối quan hệ thực sự đáng tin cậy? Mỹ có thể hợp tác với Việt Nam để thăm dò tài nguyên, bảo vệ môi trường ở biển Đông nhưng sẽ không có hoạt động gì liên quan tới an ninh, quân sự.
Trong các nước ASEAN có liên quan đến biển Đông, Mỹ có quan hệ gần gũi với Philippines hơn nhưng cũng không hề có bất cứ hợp tác quân sự nào ở biển Đông. Có thể do Philippines không muốn và cũng có thể do Mỹ không muốn dính líu gì.



