The WOCIC Mentioned in a Paper in the UN University
Ngày 28-21 tháng 8, năm 2000, Hội Thảo Toàn cầu của Đại học LHQ (có trụ sở tại Tokyo - ND) được tổ chức tại Sapporo (Hokkaido), Nhật Bản. Tôi trình bày một bài báo về vấn đề lãnh thổ và giải quyết theo luật, không phải theo quyền tự cho mình đúng và vũ lực. Trước các thính giả, tôi phân phát một số tài liệu trước bao gồm một đoạn trích về Tòa án Công dân Thế giới. Đây là một cuộc tiếp xúc vui mừng và cũng là không vui mừng đầu tiên của một thành viên WOCIC với hệ thống Liên Hợp Quốc.
Khi tôi được Ủy ban Đại học LHQ gồm các học giả ở Hokkaido chỉ định làm một trong những báo cáo viên tôi trân trọng cảm ơn vì đã tuyển chọn tôi làm người báo cáo, nhưng tôi vô cùng ngạc nhiên khi bị một người tài trợ của Đại học LHQ yêu cầu tôi thu hồi lại các bài trích về WOCIC đã lưu hành mặc dù rằng WOCIC đã được thành lập ở Sapporo vì sự bất lực của các quốc gia quan tâm giải quyết các vấn đề lãnh thổ tồn đọng lâu ngày và cũng bởi vì sự khiếm khuyết của hệ thống tòa án quốc tế trong thế kỷ 20!
Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi bị yêu cầu thu hồi những tư liệu quan trọng như vậy từ thính giả. Tôi không thể nghĩ rằng Đại học LHQ lại có những nhân vật gây cản trở tự do khoa học và sự tiến bộ của loài người.
Dường như không phải ngẫu nhiên mà theo tờ báo Hokkaido Shimbun ra ngày 16/6/2001, vào mùa hè năm nay Chủ tịch Ủy ban Đại học LHQ của Hội thảo Toàn cầu ở thành phố Otaru tỉnh Aiuchi bình luận thái độ của Đại học LHQ bởi vì thiếu tinh thần tôn trọng nhân quyền: Đại học LHQ không thích nội dung định trình bày của một trong những báo cáo viên, ông Arudo Debido từ Châu Mỹ, mà ông đã định đọc bài báo cáo của mình trong một phòng tắm công cộng đóng kín cửa cho người nước ngoài ở thành phố Otaru ở Nhật Bản. Chủ tọa Toshikazi Aiuchi không đồng tình với Đại học LHQ, và sự chuẩn bị cho Hội thảo Toàn cầu ở Hokkaido đã không thành công.
Dẫu sao thì bản tóm tắt và toàn văn bài báo tôi đã trình bày vào mùa hè năm trước cho ở dưới đây:
Tóm tắt về giải quyết tranh chấp biên giới
Các tranh chấp biên giới có thể phát sinh liên quan đến các dạng thu được lãnh thổ như sau:
nhượng bộ = cession (譲渡),
chiếm giữ = occupation (先占),
phát triển thêm = accretion (添付),
chinh phục = subjugation (征服) và
thời hiệu = prescription (時効)
Khi tranh chấp biên giới xảy ra thì các bên cần phải tìm một giải pháp bằng
thương lượng = negotiation (交渉),
thẩm tra = enquiry (審査),
hòa giải = mediation (仲介),
điều trần = conciliation (調停),
tài phán trọng tài = arbitration (仲裁裁判),
giải quyết bằng tư pháp = judicial settlement (司法的解決),
giải quyết qua các cơ quan hoặc nhà đương cục trong vùng hoặc những cách thức hòa bình mà các bên cùng lựa chọn (tham khảo Đoạn văn 1, Điều khoản 33 Hiến chương LHQ)
Sự thực là nhiều tranh chấp biên giới được giải quyết bằng cách thức hòa bình như vậy và LHQ đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp biên giới. Thật đáng chú ý rằng trong thế kỷ 20 chừng 50 vấn đề lãnh thổ đã được giải quyết bằng tài phán trọng tài và bằng tư pháp vì thất bại trong thương lượng qua con đường ngoại giao.
Vẫn còn tồn tại một số vấn đề cơ bản trong hệ thống giải quyết tranh chấp biên giới một cách hòa bình: 1) Hội đồng Bảo an LHQ đôi khi không thể đóng vai trò quyết đình bởi quyền phủ quyết, 2) không giống như trong các thủ tục pháp lý quốc gia, không có một tòa án công lý quốc tế nào trên thế giới trong thời điểm hiện nay có quyền hạn phán xử bắt buộc hoàn toàn.
Kết quả là các quốc gia đã nhiều lần chủ quan hoặc tự cho mình quyền hành động, và hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề lãnh thổ tồn đọng lâu dài. Với những tình huống như vậy, một cách không chính thức, thì các tòa án công lý quốc tế dân sự tiếp tục xuất hiện đây đó trên thế giới.
Một trong những tòa án gần đây là Tòa án Công dân Thế giới thường trực toàn cầu "The World Citizens' Court" (một tổ chức phi chính phủ quốc tế trung lập) đã được ra đời vào tháng 5/2000 tại Sapporo, và nhiều công dân đã đệ trình vấn đề lãnh thổ tới Tòa án.
Có những vấn đề lãnh thổ khác mà vẫn chưa được giải quyết. Theo sự phát quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về các trường hợp thềm lục địa Biển Bắc năm 1969, các bên tranh chấp phải bắt đầu thương lượng để đạt mục đích thỏa thuận vời nhau và khi họ không thể tiến tới một hiệp định nào thì các vùng tranh chấp phải được phân chia một cách công bằng. Sự phát quyết này đáng chú ý theo nghĩa là các quy tắc giải quyết có tính cách chung. Các tòa án quốc tế phát triển nhiều nguyên tắc và quy tắc quan trọng khác nhau về vấn đề lãnh thổ.
1. Giới thiệu
Kính thưa quý vị!
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi tới Đại học Liên Hợp Quốc và Uỷ ban trù bị của Hội thảo Toàn cầu UNU đã cho tôi một cơ hội để báo cáo về các tranh chấp lãnh thổ và các phương tiện giải quyết hòa bình. Đồng thời tôi vui mừng là hôm nay tôi có thể nói chuyện về chủ đề này với những thanh niên tham dự trong Hội thảo toàn cầu này bởi vì thế kỷ 21 tùy thuộc vào thế hệ trẻ.
Hôm nay tôi muốn đưa ra một bài thuyết trình ngắn về các vấn đề nêu trên ở dạng tổng hợp chủ yếu đứng trên quan điểm của luật pháp quốc tế, đôi khi trích dẫn vấn đề lãnh thổ Nga-Nhật và những trường hợp lãnh thổ khác của thế kỷ 20. Cuối cùng, từ thực tế, tôi muốn đề cập đến một chút lý do tại sao Tòa án Công dân Quốc tế vĩnh cửu và phổ quát tạo nên một kỷ nguyên mới được ra đời trong mùa xuân này ở thành phố Sapporo.
Mùa xuân ấm áp là một mùa tốt cho tất cả những gì được sinh ra, và mùa hè nóng lực là thời điểm sinh vật sống phát triển nhanh chóng. Một ngày trong mùa hè tôi tìm thấy trong khu vườn của tôi một cây nho nhỏ xâm nhập sang vườn hàng xóm của tôi. Tôi nói với hàng xóm của tôi là "Xin lỗi, cây nho của tôi dường như đã say rượu trước khi chuyển thành rượu vang" Sau đó, thì tôi làm một cái giàn cho cây nho leo và gắn cái giàn đó nằm trong khu vực tôi coi là của tôi.
Chúng ta hãy giả sử rằng đối với các công dân đang có tranh chấp đạt tới một thỏa thuận về ranh giới của họ trong một thời gian dài bởi vì mỗi bên đều tiếp tục khăng khăng là mình đúng còn người đối phương thì sai. Những người hàng xóm làng giềng mà không đồng ý được với nhau thì khó sống được với nhau. Do vậy điều có thể xảy ra là một trong những người có tranh chấp mang ra tòa án công lý ở nước mình nếu anh ta muốn giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới. Điều đó hoàn toàn tự nhiên và hợp lý bởi vì tòa án công lý là người bảo vệ pháp luật sau cùng.
3.1 Chiếm đóng: Những quy tắc và luật lệ về chiếm đóng sẽ được áp dụng cho vấn đề đã nói tới một mức độ nào? Một sự kiện lịch sử có một bất kỳ ý nghĩa quyết định là Nga hay Nhật tìm ra những hòn đảo tranh chấp đó trước và chiếm đóng có hiệu quả?
Dường như với tôi rằng những sự kiện trước khi thế kỷ 19 không hợp pháp, cũng không có ý nghĩa quyết định bởi vì kể từ đó các hiệp ước quốc tế đã được ký kết, và chủ quyền đối với quần đảo phụ thuộc vào việc giải thích đúng của các hiệp ước quốc tế hiện hành và các quy phạm pháp luật hiện nay có kết quả từ tập quán quốc tế.
Từ quan điểm của luật pháp quốc tế hiện đại, có thể, thực tế lịch sử và pháp lý mà Ainu là người dân bản địa là tương đối quan trọng hơn nhiều so với một thực tế nêu trên của chiếm đóng các đảo bởi vì trong khi các quy tắc về chiếm đóng không được áp dụng cho các đảo đang tranh chấp, cộng đồng quốc tế công nhận rõ ràng hơn trước khi quyền bản địa trong hình thức chung. Vào đầu thế kỷ 21 Liên Hợp Quốc sẽ thông qua một tuyên bố chủng tộc bản địa.
3.3.1 Thừa nhận rằng Nhật Bản là một quốc gia hà nước xâm lược trước và trong Chiến tranh Thế giới II, Nhật có phải là một quốc gia xâm lược Liên Xô, quốc gia tuyên bố và tiến hành cuộc chiến tranh chống Nhật Bản vi phạm hiệp ước trung lập năm 1941 không? hoặc
3.3.2 Sự trung lập của Liên Xô có trái ngược với nghĩa vụ để ngăn chặn sự xâm lược của Nhật không?
3.3.3 Giả sử rằng Liên Xô cũng cam kết hành động tích cực trong ý nghĩa nêu trên, thì Hiến chương của Liên Hiệp Quốc, Điều 107 và Công ước Vienna về hiệp ước, Điều 75 biện minh cho tất cả các hành vi của Liên Xô không?
Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc, Điều 107 quy định rằng "Không có gì trong Hiến chương hiện tại sẽ làm mất hiệu lực hoặc ngăn cản hành động liên quan tới bất kỳ một nhà nước nào trong chiến tranh thế giới thứ hai đã từng là kẻ thù của bất kỳ nước nào tham gia ký kết vào Hiến chương hiện tại, đã được đưa ra hoặc uỷ quyền như là kết quả của cuộc chiến tranh đó do các chính phủ có trách nhiệm cho hành động như vậy". Nói nôm ra, theo cách mà công ước Vienna năm 1969 cung cấp.
3.4 Khu vực quần đảo Kurile
Các đảo Kunashiri và Shikotan có bao gồm trong "quần đảo Kurile" mà Nhật Bản đã từ bỏ theo Hòa ước Hòa bình San Francisco năm 1951 ký kết với 48 quốc gia không?
Vào thời điểm ký kết Hòa ước, Chính phủ Nhật Bản và Mỹ theo cách đó, sau đó thay đổi cách không giải thích theo cách khác. Tuy nhiên, các ý kiến của các luật gia có thẩm quyền và đại đa số các trường hợp trên thế giới cho thấy rằng các ý định của các bên ký kết hợp đồng tại thời điểm phê chuẩn là quan trọng hơn cách diễn giải đơn phương được thông qua sau đó bởi một số bên.
Năm 1909 trong bản án của trường hợp Ngư trường Bắc Đại Tây Dương giữa Anh và Mỹ, tòa án trọng tài cho rằng ý niệm pháp luật "tất cả các vịnh" (liên tưởng "quần đảo Kurile" - tác giả) phải được hiểu theo ý nghĩa tổng quát mà có thể được tưởng tượng hợp lý được nghĩ rằng là do các nhà đàm phán hòa ước trong các tình huống chung vào lúc đó.
Trường hợp Đông Greenland năm 1931 giữa Đan Mạch và Na Uy cũng là thú vị. Tòa án Công lý quốc tế thường trực đã phán "ý nghĩa địa lý của từ "Greenland", tức là tên được dùng theo thói quen trên các bản đồ để gọi tên toàn bộ hòn đảo, phải được coi là ý nghĩa thông thường của từ này."
Theo bản án đã nói không chỉ trong quá trình đàm phán ngoại giao mà còn bởi các hiệp ước năm 1819 (liên tưởng Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951), Na Uy công nhận từ bỏ chủ quyền đối với toàn bộ Greenland và hậu quả là không có thể tiến hành chiếm đóng bất kỳ phần nào.
Trong trường hợp Kutana Arica năm 1925 giữa Peru và Chile tòa án không công nhận yêu cầu của Peru muốn từ bỏ trách nghĩa vụ theo hiệp ước 1883.
Có những điểm khác trong sự căng thẳng về vấn đề lãnh thổ Nhật-Nga. Một số trong những điểm này là mơ hồ, và những điểm là tương đối rõ ràng. Không có cá nhân cũng có một quốc gia nào có thể thể là một Chúa Trời toàn năng đặc biệt. Đó là các tòa án công lý quốc tế là thích hợp nhất và có thẩm quyền để làm rõ các quyền hiện tại và các nhiệm vụ của các đối tượng của luật pháp quốc tế.
4. Phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ
Ranh giới rất quan trọng là các tranh chấp liên quan tới ranh giới thường xuyên và thường dẫn đến cảm giác kích thích, xung đột vũ trang và thậm chí cả chiến tranh nữa. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 19, một xu hướng bắt đầu ưu tiên áp dụng để giải quyết tranh chấp như vậy một cách hòa bình. Các quốc gia Mỹ La Tinh đã thông qua học thuyết "uti pssidetis" nhằm mục đích tránh và giải quyết các tranh chấp biên giới. Theo một trong từ điển luật pháp quốc tế, nguyên tắc của uti possidetis được gọi là nguyên tắc công nhận nguyên trạng, có nghĩa là công nhận đơn vị hành chính cũ của thuộc địa cũ khi chúng trở thành các quốc gia độc lập.
Theo luật pháp quốc tế hiện đại, các cuộc chiến tranh đều bị cấm. Vì vậy, khi một vụ tranh chấp biên giới diễn ra, thì các bên phải tìm một giải pháp do theo phương pháp hòa bình, có thể kể tên như là: đàm phán, thẩm vấn, trung gian, hòa giải, trọng tài, giải quyết tư pháp, dùng đến các đại lý/cơ quan khu vực hoặc sắp xếp, hoặc phương tiện là hòa bình khác theo sự lựa chọn riêng của họ (cf. Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Điều 33, Đoạn 1).
Sự thực là nhiều tranh chấp biên giới đã được giải quyết bằng thương lượng và các phương tiện hòa bình khác và Liên Hợp Quốc đóng vai trò rất lớn trong việc giải quyết tranh chấp ranh giới.
Trong trường hợp ngoại giao thất bại giải quyết tư pháp là một trong những hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng, văn hóa, hợp lý vì nhiều lý do. Cũng cần lưu ý rằng ngay cả trong thế kỷ 20, khoảng 50 vấn đề lãnh thổ đã được đệ trình lên tòa án công lý quốc tế (bao gồm cả phân xử) khi các chính trị gia và nhà ngoại giao không thể giải quyết được.
Mặt khác, ở đó vẫn còn một số vấn đề cơ bản trong hệ thống giải quyết hòa bình các tranh chấp biên giới:
(1) Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là đôi khi không thể đóng một vai trò quyết định do quyền phủ quyết.
(2) Không giống như trong hệ thống pháp lý quốc gia, không có tòa án công lý quốc tế trên thế giới hiện nay có thẩm quyền bắt buộc hoàn toàn.
Kết quả là, các quốc gia nhiều lần hành động chủ quan hoặc tự cho mình có quyền đúng, và ngay cả bây giờ vẫn còn một số vấn đề lãnh thổ tồn tại lâu dài. Ngoài các sự kiện này, các bên xung đột đôi khi quá dân tộc chủ nghĩa và ích kỷ chủ nghĩa, nên một số người trong số họ có thể trở thành hiếu chiến, gây ra các xung đột vũ trang hoặc chiến tranh.
5. Hướng tới thế giới pháp quyền - Tòa án Công dân Thế giới của các công dân dành cho các công dân
(1) các bên xung đột nên bắt đầu đàm phán cho mục đích đạt được thỏa thuận; và
(2) nếu họ không thể đạt được sự thỏa thuận thì các vùng tranh chấp phải được chia đều.
Sự phán quyến này là đáng kể theo ý nghĩa là Tòa án đã chỉ ra một cách hợp lý giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Các toà án quốc tế phát triển các nguyên tắc và quy định quan trọng khác về các vấn đề lãnh thổ. Nhưng hiện nay không có hiệp ước bắt buộc hoàn toàn hoặc cũng không có một tòa án công lý quốc tế bắt buộc hoàn toàn về tranh chấp lãnh thổ. Vì vậy, các cuộc đàm phán có thể là hư danh (không đáng kể), có thể là một vũ điệu và có thể trở thành một trò ú tim chính trị.
Có kết quả sơ bộ của cuộc cuộc khảo sát cho thấy rằng đa số người dân trên thế giới thích "sự cai trị bằng pháp luật" hơn "cai trị bằng vũ lực". Một số hệ thống hiện hành có thuận tiện cho các quốc gia tự cho mình quyền xét xử, và có thể là các hệ thống như vậy sẽ trở thành thêm tách biệt với nguyện vọng của nhân dân thế giới trong thế kỷ mới.
Đó là với những tình huống như vậy có nền tảng mà tòa án công lý quốc tế dân sự vẫn tiếp tục xuất hiện đâu đó trên thế giới. Ví dụ, tòa án Bertrand Russel xử cuộc chiến tranh Việt Nam; Tòa án quốc tế xét xử những vụ án Chernobuil có tới bảy Thẩm phán; Tòa án Công dân Thế giới ' để giải quyết các vấn đề Israel, và Tòa án Quốc tế Phụ nữ đối phó với tội phạm; và những Tòa án Công dân Quốc tế khác gần đây, ý tôi muốn nói là cũng có nhiều ví dụ khác)
Một trong những ví dụ gần đây là Tòa án Công dan Quốc tế (WOCIC) phổ quát và thường trực đã được ra đời ở Sapporo vào tháng Năm, năm 2000 và đã có hai trường hợp đệ trình tới bởi các công dân trên thế giới: 1) thứ nhất là trường hợp liên quan đến vấn đề lãnh thổ giữa Nhật Bản, Nga và Ainu; và 2) thứ hai là một trường hợp Kashmir trong đó Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc là các bên xung đột.
WOCIC là một tòa án công lý của kỷ nguyên Internet. Mọi công dân của thế giới có thể hành động theo nó. Và trong một trường hợp không chỉ có 15 chuyên gia trong luật pháp quốc tế sẽ tham gia, mà còn có nhiều thẩm phán công dân tham gia do những nguyên thủ quốc gia, thống đốc, thị trưởng, thị xã trưởng hoặc xã trưởng trên toàn thế giới tiến cử.
Tuy nhiên, rõ ràng là việc tạo ra một tòa án yếu kém không đủ để thiết lập một thế giới pháp quyền, và rằng cơ quan tư pháp có thẩm quyền quốc tế cần phải mạnh mẽ hơn các cơ quan tư pháp trong thế kỷ 20 và cần phải có quyền xét xử bắt buộc hoàn toàn như các tòa án trong hệ thống luật quốc gia. Chúng ta phải làm gì đó mới mẻ. Đối với tôi cần phải tăng cường Tòa án Công dân Quốc tế làm điểm khởi đầu. Đó không phải là sự lãng mạn của tôi, mà còn là đại đa số công dân trên thế giới mong muốn.
Tôi xin cảm ơn các quý vị đã quan tâm, và bày tỏ lòng biết ơn của tôi tới Đại học Liên Hợp Quốc và các đồng nghiệp của tôi trong Ban trù bị. Một lần nữa xin cảm ơn tất cả các quý vị
Người dịch: Nguyễn Đức Hùng (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
Link: http://www.wocit.org/UN-



