Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông non profit organization http://seasfoundation.org/component/content/frontpage Tue, 22 Aug 2017 22:21:09 +0000 Joomla! 1.5 - Open Source Content Management vi-vn Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng http://seasfoundation.org/articles/from-members/4445-2017-08-22-07-12-04 http://seasfoundation.org/articles/from-members/4445-2017-08-22-07-12-04

- Nhân việc bộ Lịch sử Việt Nam không dùng từ “ngụy quyền Sài Gòn” để chỉ chính thể Việt Nam cộng hòa trước 1975, TS sử học Nguyễn Nhã cho rằng việc thừa nhận này có lợi trước nhất cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng
TS Nguyễn Nhã phát biểu trong một tọa đàm về chủ quyền biển đảo - Ảnh: L.Điền

Như tôi đã nhiều lần phát biểu trong đó có hội thảo xây dựng bộ lịch sử trên, rằng để đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa mà pháp lý quốc tế hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi Trung Quốc bắt đầu tranh chấp chủ quyền năm 1909 cho Paracels (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa là đất vô chủ - res -nullius) thì sự chiếm hữu phải mang tính thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình.

Từ năm 1954 - 1975 chỉ có chính quyền ở miền Nam Việt Nam mới có quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này ở vị trí dưới vĩ tuyến 17, cũng đã từng được rất nhiều nước thừa nhận, nên chính quyền Việt Nam cộng hòa phải được chính thức thừa nhận mới bảo đảm tính pháp lý quốc tế liên tục

TS Nguyễn Nhã

TS Nguyễn Nhã cho rằng, về pháp lý quốc tế cũng như về mặt lịch sử, Việt Nam cộng hòa là một thực thể chính trị rất hiển nhiên không thể chối cãi. Có thể khi còn đấu tranh chính trị vì lợi ích chính trị thì không công nhận nhau cũng là chuyện thường tình.

Song chính trị thì có thể thay đổi, nhất là khi đất nước đã được thống nhất và đang có nhu cầu thống nhất lòng người, đoàn kết dân tộc để phát triển hùng cường và đấu tranh chống các nguy cơ từ nguy cơ trở thành thuộc quốc hay nguy cơ tụt hậu”.

Trong cái nhìn triển vọng về việc thừa nhận chính thể Việt Nam cộng hòa, ông Nhã cũng lưu ý rằng “Hiện nay có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, như ý nguyện lúc sinh thời của Thủ tướng Võ Văn Kiệt”.

Không chỉ thế, theo ông Nhã, “... Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển”.

Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng
TS Lê Trung Tĩnh - Ảnh: LTT cung cấp

Việc từ bỏ cách gọi "ngụy quân", "ngụy quyền" và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.

Mặt khác điều này có những tác động tích cực đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng công pháp quốc tế.

TS Lê Trung Tĩnh
 

Tác động tích cực với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông

Ngày 18-8, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn.

Một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.

Như lời trả lời phỏng vấn báo chí, PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sáchLịch sử Việt Nam, đã nói: "Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn".

Nhiều tác giả, đặc biệt là Quỹ Nghiên cứu Biển Đông qua các bài viết của TS Dương Danh Huy, đã đi sâu về mối quan hệ giữa sự công nhận một hay hai quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 và lập luận pháp lý bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Các nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trước Trung Quốc.

Và đó cũng là quan điểm có thể chấp nhận về mặt chính trị hiện nay, so với việc chỉ công nhận một quốc gia tại miền Bắc hay tại miền Nam.

Nhận định Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia cũng là điều được chấp nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế theo nghiên cứu của nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng.

Giáo sư James Crawford, giáo sư hàng đầu về công pháp quốc tế và là một thẩm phán tại Tòa án Công lý quốc tế, trong tác phẩm The Creation of States in International Law, đã cho rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia.

Theo ông, việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam.

Ngoài ra sau này trong Hiệp định Paris 1973, Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa cũng được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định đối nội và đối ngoại, đáp ứng được các điều kiện có chính phủ và khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.

Thật ra việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính thể quan trọng trong việc gìn giữ chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa đã được lãnh đạo Việt Nam đề cập trong các phát biểu quan trọng.

Nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phát biểu trước Quốc hội ngày 25-11-2011 đã lặp lại không dưới ba lần từ "Việt Nam cộng hòa" và khẳng định: "Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp".

"Năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì hải quân chúng ta đã tiếp quản năm hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản".

Cũng cần nhắc lại là ngày 19 và 20-1-1974, trong trận hải chiến Hoàng Sa với Trung Quốc, 74 binh sĩ Việt Nam cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam.

Đó đơn giản là những người con của nước Việt, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam cùng với Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Ý nghĩa của điều đó rất rõ và trường tồn đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã từng đấu tranh 1.000 năm để có một lãnh thổ, và 1.000 năm để giữ gìn lãnh thổ.

TS Lê Trung Tĩnh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Tiền đề thống nhất nhân tâm

Chiến tranh đã chấm dứt từ năm 1975. Đã đến lúc dân tộc phải tiến hành công cuộc hòa giải. Thống nhất đất nước phải là tiền đề cho thống nhất nhân tâm, thống nhất tinh thần dân tộc...

Có như thế dân tộc mới mạnh, mới đoàn kết để chống xâm lược, để giữ gìn giang sơn, đất trời và biển.

Ai cũng vui mừng vì đã đến lúc ta phải gọi cho đúng tên các thực thể dân tộc trong quá khứ.

Việt Nam cộng hòa là một thực thể lịch sử. Thừa nhận chính thể Việt Nam cộng hòa như nó đã tồn tại ta sẽ làm giàu có thêm cho dân tộc vì đã có một nền giáo dục, một nền văn học, pháp chế, kinh tế... mà chúng ta cần nghiên cứu để thừa kế những giá trị và gạt bỏ những khuyết điểm, những yếu kém...

Và trên hết là hòa giải dân tộc, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc trong cuộc cạnh tranh và sống còn trong một thế giới còn nhiều thách thức.

Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc 

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20170820/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong/1372210.html
]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 22 Aug 2017 07:12:04 +0000
Ấn, Nhật, Mỹ, Việt : Bốn nước ngáng chân Trung Quốc tại Biển Đông http://seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-vietnam/4411-2017-07-18-08-23-55 http://seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-vietnam/4411-2017-07-18-08-23-55

Theo tác giả Ralph Jennings trên Forbes, một năm sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế La Haye, Trung Quốc lại càng thống trị Biển Đông hơn, bất chấp đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan. Đó là vì Trung Quốc bác bỏ phán quyết, nhưng đã tăng cường hợp tác kinh tế với một số nước để chắc chắn rằng không ai có thể gây phiền nhiễu.

Trung Quốc có quân đội đứng thứ ba thế giới và tổng sản phẩm nội địa thứ nhì thế giới, khiến khó thể đối phó với việc Bắc Kinh kiểm soát Biển Đông, đặc biệt đối với các quốc gia Đông Nam Á nhỏ yếu hơn. Nhưng không phải tất cả đều bó tay, mà theo nhà báo Ralph Jennings, có bốn quốc gia sau đây có thể tạt một gáo nước lạnh vào tham vọng kiểm soát vùng biển 3,5 triệu kilomet vuông giàu tài nguyên và mang tính chiến lược này.

1 - Ấn Độ

Ấn Độ không yêu sách chủ quyền Biển Đông, nhưng hy vọng ngăn chận được sự bành trướng của Trung Quốc. Quốc gia đồng minh của phương Tây với trang bị vũ khí hùng hậu, có hai khu vực biên giới tranh chấp với Trung Quốc đã đưa ra chính sách Hướng Đông năm 2014 để cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á vốn đang tăng trưởng nhanh chóng. Giả sử rằng Ấn Độ có thể hành động về kinh tế, nhưng có thể còn hơn thế nữa.

Hồi tháng Năm, Ấn Độ đã triển khai một hệ thống cảnh báo sóng thần tại Biển Đông, mặc dù Trung Quốc đã cho vận hành một hệ thống như thế. Năm 2014, chi nhánh hải ngoại của tập đoàn nhà nước ONGC đạt được thỏa thuận với Việt Nam về việc khai thác một vùng biển chồng lấn với “đường lưỡi bò” do Bắc Kinh tự vẽ. Trung Quốc không phản đối hệ thống cảnh báo sóng thần của Ấn Độ, nhưng kém vui hơn về thỏa thuận dầu khí.

 

2 – Nhật Bản

Là đối trọng của Trung Quốc tại châu Á, Nhật Bản năm 2014 đã tặng cho Việt Nam sáu chiếc tàu và năm ngoái đã đồng ý cho Philippines thuê năm phi cơ quân sự. Đây chỉ là hai trong số những ví dụ về việc Tokyo hỗ trợ các nước có tranh chấp Biển Đông với Bắc Kinh.

Một số người coi Nhật Bản là một quốc gia được phương Tây ủy nhiệm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Từ ngày 1/5, chiếc tàu chở trực thăng Izumo của Nhật bắt đầu hộ tống một tàu tiếp liệu của Mỹ, và có thể hoạt động tại Biển Đông trong tháng Tám với những chuyến cập cảng và tập trận với Ấn Độ, Hoa Kỳ tại vịnh Bengal.

Trung Quốc tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Tokyo quản lý, và rất lo lắng trước việc Nhật Bản tăng cường quân sự trong tương lai. Thế nên không có gì đáng ngạc nhiên khi một phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc hồi tháng Ba thông qua Tân Hoa Xã đã tuyên bố Nhật Bản không nên gây rắc rối trong khu vực.

3 – Hoa Kỳ

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho đến tháng Tư vẫn có một cách nhìn khác về sự bành trướng trên biển của Trung Quốc, với hy vọng Tập Cận Bình giúp được một tay trong việc ngăn chận Bắc Triều Tiên triển khai hỏa tiễn đạn đạo. Nhưng sự hợp tác này có vẻ không mang lại được kết quả, nên từ cuối tháng Năm Hải quân Mỹ đã lại tiến hành hai chuyến tuần tra vì tự do hàng hải trên Biển Đông, để chứng tỏ vùng biển này không phải là ao nhà của Trung Quốc. Bắc Kinh phản đối cả hai hoạt động hải hành này.

Hoa Kỳ không hề đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông, nhưng Bắc Kinh lo sợ vì nước Mỹ với thực lực quân sự hùng mạnh có thể dễ dàng thành lập các liên minh quân sự với các nước Đông Nam Á. Ví dụ chính là cuộc tuần tra hải quân chung với Philippines kể từ năm 2014.

4 – Việt Nam

Đây là quốc gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông duy nhất có khả năng đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc, từ việc bồi đắp đảo nhân tạo cho đến quân sự hóa các đảo. Cũng như các nước Đông Nam Á khác, Việt Nam giao thương nhiều với Trung Quốc với tổng giá trị trao đổi lên đến 95,8 tỉ đô la trong năm 2015.

Nhưng về cơ bản, Việt Nam không ưa Trung Quốc và không run sợ trước những cơn giận của người láng giềng khổng lồ, dù có quân đội nhỏ hơn. Có thể kể nhiều thế kỷ tranh chấp biên giới, trận chiến Hoàng Sa đẫm máu năm 1974 (nay quần đảo này do Trung Quốc kiểm soát), và sự đối đầu trên biển cách đây ba năm do Trung Quốc cho kéo một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa. Việt Nam có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Ấn Độ và Nhật Bản nếu cần. Do vậy Việt Nam vẫn tiến hành xác quyết chủ quyền các đảo nhỏ của mình và khoan dầu tại các khu vực có thể bị dính vào “đường 9 đoạn” mà Trung Quốc vẽ ra để yêu sách chủ quyền tại Biển Đông. Bắc Kinh rất bực tức – một tướng Trung Quốc đã bỏ ngang chuyến thăm Hà Nội vào tháng trước – nhưng Việt Nam có đủ quyết tâm và sự hỗ trợ để đương cự.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170717-an-nhat-my-viet-bon-nuoc-ngang-chan-trung-quoc-tai-bien-dong

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 18 Jul 2017 08:23:55 +0000
Chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và quy luật sinh tồn của muôn loài http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4383-2017-06-19-08-48-49 http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4383-2017-06-19-08-48-49 LTS: Tiến sĩ Trần Công Trục gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài bình luận đặc biệt của ông về chuyến thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Tòa soạn xin giới thiệu bài viết này đến quý bạn đọc và trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Công Trục! Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

1. “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” và quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam dưới thời Donald Trump

1.1.Diễn tiến quan hệ Việt - Mỹ

Sau Chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã huy động tới ba triệu người Mỹ tham gia một cuộc chiến vô nghĩa kéo dài hàng mấy chục năm, Việt Nam không còn là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thập niên 80 và 90.

Việc tái lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt năm 1995 là một dấu mốc hết sức to lớn trong quan hệ song phương, nhưng không phải là một sự xoay chuyển lớn trong chủ trương của Hoa Kỳ. 

Theo ông Burghadt, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam từ năm 2001 đến 2004, quan hệ đôi bên đã được siết chặt hơn vào cuối thập niên 90, chủ yếu nhắm vào các cơ hội kinh doanh, nhưng tiến độ vẫn chậm chạp. 

Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 2001, khi chính quyền Tổng thống George W. Bush có quan điểm khắt khe hơn với Trung Quốc so với thời ông George H.W. Bush và Bill Clinton. 

Tổng thống Bill Clinton năm 1997 đã cam kết hướng tới việc “ xây dựng quan hệ đối tác chiến lược” với Bắc Kinh, nhưng ứng cử viên George W. Bush năm 1999 cho rằng, Trung Quốc cần được coi là «đối thủ chiến lược», chứ không phải là «đối tác chiến lược».

alt
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Bà Condoleezza Rice, Cố vấn An ninh quốc gia của ông George W. Bush, trong một bài viết năm 2000 nhận định Trung Quốc có «các lợi ích cốt lõi không thể giải quyết, đặc biệt về Đài Loan và Biển Đông»;

Bắc Kinh «bực tức trước vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á-Thái Bình Dương», và «muốn thay đổi cán cân quyền lực tại châu Á sang hướng có lợi cho mình». 

Quan điểm địa- chính trị này đã giúp nâng cao vai trò của Việt Nam trong chính sách Mỹ.

Tháng 7/2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 8,  chấp nhận các tiêu chí thực tiễn hơn để đánh giá một chính phủ nước ngoài là «đối tác» hay «đối tượng”. 

Bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam năm 2003 đã mở đường cho việc tham gia trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo. Hà Nội đẩy nhanh việc thương lượng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trở thành thành viên năm 2006;

Đến năm 2008, Việt Nam sẵn sàng chấp nhận đề nghị của chính quyền Bush về việc tham gia Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP.

Bắt đầu từ cuối những năm 2000, những thách thức không ngừng tăng lên từ phía Trung Quốc, đặc biệt là thái độ hung hăng của Bắc Kinh trên Biển Đông, đã tạo động lực mới cho mối quan hệ đối tác Việt-Mỹ. 

Một năm sau tuyên bố tại diễn đàn ASEAN ở Hà Nội tháng 7/2010, rằng «Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia» trên Biển Đông, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nêu ra chiến lược mới của Mỹ được gọi là «xoay trục», theo đó Hoa Kỳ muốn triển khai quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. 

Trong chuyến đi Việt Nam tháng 7/2012, bà Clinton đã mời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm chính thức Hoa Kỳ. Người Mỹ hy vọng chuyến thăm chưa có tiền lệ này được thực hiện vào năm 2013.

Nhưng người thực hiện chuyến công du này của lãnh đạo Việt Nam không phải là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mà là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, và kết quả là bản Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện Việt-Mỹ.

alt
Lực lượng chức năng Việt Nam đấu tranh yêu cầu phía Trung Quốc rút giàn khoan 981 khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam và không có tranh chấp trong khủng hoảng năm 2014, ảnh: The Japan Times.

Mùa hè năm 2014, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan lớn nhất trị giá 1 tỉ đô la, mang tên Hải Dương 981, cắm sâu vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Sự kiện này gây ra phong trào phản đối Trung Quốc kéo dài nhiều tháng tại Việt Nam.

Đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất giữa hai nước trên Biển Đông, kể từ sau vụ Trung Quốc thảm sát hơn 70 thủy thủ Việt Nam Cộng hòa năm 1974 và chiếm sáu thực thể địa lý ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa năm 1988.

Cũng vào thời điểm này, Việt Nam quyết định đẩy nhanh việc chuẩn bị cho chuyến công du của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tiến hành vào tháng 7/2015.

Việc Tổng thống Barack Obama phá vỡ mọi rào cản nghi thức để đón tiếp trang trọng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn không có chức vụ chính thức trong chính quyền, là một sự kiện mang tính đột phá trong quan hệ giữa 2 nước có chế độ chính trị khác biệt nhau.  

Chuyến thăm chính thức nước Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm giảm  mối nghi ngại về sự đe dọa của Hoa Kỳ đối với thể chế chính trị của Việt Nam.

Và tiếp đến là chuyến công du Việt Nam của ông Obama tháng 5/2016, với việc bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí áp đặt lên Việt Nam từ nhiều thập niên qua, càng làm tăng thêm sự tin cậy giữa hai cựu thù.

Trong cuộc cạnh tranh địa- chính trị giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, việc giữ thăng bằng quan hệ ngoại giao và chính trị giữa Washington và Bắc Kinh là chủ trương thực tế của Việt Nam.

Trong tình hình đó, lãnh đạo của Hoa Kỳ thời kỳ mới - Tổng thống Donald Trump cho dù đã tuyên bố chuyển hướng từ chính sách “xoay trục châu Á-Thái Bình Dương” sang “làm cho Mỹ vĩ đại trở lại”, vẫn nhận thấy rằng:

Mỹ vẫn cần phải tăng cường năng lực cả kinh tế lẫn quân sự; chứng tỏ sức mạnh của Mỹ trước Trung Quốc; và cần duy trì quan hệ hữu nghị với Việt Nam.

Các mục tiêu này cần được thực hiện qua một loạt các chính sách rộng rãi, chứ không giới hạn ở quan hệ song phương Mỹ-Việt;

Chú trọng mặt luật pháp chứ không phải dựa theo hiện trạng đối với Biển Đông và phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam.

Cụ thể là, Hoa Kỳ và Việt Nam cần có một hiệp định thương mại và đầu tư vững chắc, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế và làm tăng sức mạnh quân sự một cách gián tiếp, mang lại lợi ích địa- chính trị lâu dài.

Tuy một thỏa thuận đa phương như TPP khó có thể đạt được, Hoa Kỳ và Việt Nam có thể thương lượng một hiệp định thương mại song phương mới.

Nó không chỉ nhằm cải thiện tình trạng giao thương Mỹ-Việt hiện nay mà còn cho cả môi trường kinh tế Việt Nam. Ví dụ năm 2016, Việt Nam xuất siêu 32 tỉ đô sang Hoa Kỳ, nhưng lại nhập siêu 28 tỉ đô la từ Trung Quốc.

Hiệp định mới cần nhắm đến việc giảm xuất siêu sang Mỹ qua việc tăng nhập khẩu thiết bị, hàng hóa kỹ thuật cao từ Hoa Kỳ và giảm nhập siêu hàng chất lượng thấp từ Trung Quốc.

alt
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ảnh: Báo Công an Nhân Dân.

Tuyên bố chung nhân chuyến công du sang Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thể hiện rõ xu hướng tất yếu và tích cực này.

Có thể nói Tuyên bố chung này đã một lần nữa đã chứng minh kết quả của chủ trương chiến lược và những bước triển khai chủ trương đó của Việt Nam trong quan hệ với các siêu cường.

Bởi vì, nó dựa trên nền tảng của nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi; vì  lợi ích của các bên và phù hợp với các quy luật khách quan trong sự phát triển của các quan hệ chính trị, kinh tế…giữa các quốc gia có phương thức sản xuất và thể chế chính trị khác nhau… 

1.2. Xác lập quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” với Việt Nam

Đến nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc đang nhanh chóng thu ngắn khoảng cách, sẵn sàng trở thành siêu cường ngang hàng, thậm chí vượt Mỹ, trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

Trước tình hình đó, để duy trì vị trí siêu cường số một đang trước nguy cơ bị ảnh hưởng, lung lay, thậm chí bị rơi vào tay Trung Quốc, Hoa Kỳ rất cần đến các “đồng minh” trong vùng.

Nếu Việt Nam trở thành “đồng minh” của Mỹ thì cán cân sẽ nghiêng về phía Mỹ.

Bởi vì, trong lịch sử,Việt Nam là một quốc gia duy nhất có khả năng và kinh nghiệm kháng cự, đối phó với Trung Quốc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cả trong thời chiến lẫn thời bình.

Do hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế… của Việt Nam, “đồng minh” này có thể không đòi hỏi những cam kết tương tự như Hoa Kỳ đã ký kết với các đồng minh khác trong khu vực.

Nó có thể được gọi là «quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện».

Theo nhận xét của nhiều học giả, Washington và Hà Nội đang tiến đến hướng này. Chuyên gia Alexander Vuving kết luận, muốn thành công trong đối sách với Việt Nam, Hoa Kỳ cần phải thực hiện ba mục tiêu:

Một hiệp định thương mại đầu tư cho tương lai; buộc Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông và hoàn thành liên minh Mỹ-Việt, làm vô hiệu hóa ưu thế của Bắc Kinh tại Đông Nam Á.

Tuyên bố chung Mỹ-Việt năm 2017 đề ra việc hợp tác trong nhiều lĩnh vực, từ quan hệ ngoại giao cho đến kinh tế thương mại; từ công nghệ, giáo dục đến quốc phòng và an ninh;

Từ văn hóa, thể thao, du lịch cho đến giải quyết hậu quả chiến tranh; từ môi trường, y tế đến vấn đề nhân quyền …về cơ bản, đã thêm một lần nữa đánh dấu bước phát triển mới, tích cực, theo chiều hướng nói trên.

2. Tác động của chuyến công du thành công của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Theo đánh giá của dư luận, kể cả từ những góc nhìn tiêu cực, đều công nhận rằng chuyến công du Mỹ vừa qua của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thành công tốt đẹp.

alt

Cuộc hội ngộ, tương phùng giữa những chính nhân quân tử

Thành công đó đã được cụ thể hòa bằng một bản Tuyên bố chung, bao gồm đầy đủ các nội dung chủ yếu và cần thiết của mối quan hệ đối tác (chiến lược) toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tuyên bố chung vừa mang tính định hướng chiến lược, vừa thể hiện một cách rõ ràng, công khai về lập trường của cả hai bên đối với những vấn đề song phương, khu vực và quốc tế.

Có thể nói, những nội dung của Tuyên bố chung này đã phát huy được tác dụng tích cực của nó trước những diễn biến phức tạp hiện nay ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Bắc Á và Biển Đông.

Một số sự kiện chính trị sau đây đã phản ánh những tác động tích cực nói trên:

2.1. Đối thoại Shangri-La, diễn đàn an ninh khu vực và lập trường của Hoa Kỳ đối với những căng thẳng ở Biển Đông

Diễn đàn an ninh khu vực mang tên Đối thoại Shangri-La bắt đầu từ năm 2002 dưới sự chủ trì của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) và Chính phủ Singapore.

Hội nghị này mang tên của khách sạn nơi các cuộc gặp song phương và đa phương diễn ra từ 2-4 tháng Sáu.  

Diễn đàn năm nay có sự tham dự của 12 Bộ trưởng Quốc phòng. Thủ tướng Australia, ông Malcolm Turnbull có bài phát biểu nhập đề vào tối hôm khai mạc 2/6.

Trung tướng Nguyễn Đức Hải, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an đại diện đoàn Việt Nam.

Tướng Nam phát biểu tại một phiên thảo luận có chủ đề "Các biện pháp thực chất nhằm tránh xung đột trên biển" vào chiều 3/6.

Đại tá Zhou Bo, Giám đốc Trung tâm Hợp tác Quốc tế từ Bộ Quốc phòng Trung Quốc, tham gia phiên thảo luận này.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tướng James Mattis chủ trì phiên thảo luận mở màn vào hôm 3/6 với chủ đề Hoa Kỳ và An ninh châu Á - Thái Bình Dương.

Ông Mattis phát biểu về "trật tự quốc tế" cần có cho một châu Á hòa bình, nhắc tới việc chống lại Bắc Triều Tiên và nhấn mạnh Mỹ đứng cùng với các đồng minh và các đối tác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương;

Mỹ sẽ tập trung vào việc củng cố các liên minh, tiếp sức cho các nước để họ có thể duy trì an ninh của chính họ, củng cố năng lực quân sự của Mỹ để ngăn chặn chiến tranh;

Hoa Kỳ phản đối các quốc gia quân sự hóa các hòn đảo nhân tạo và thực thi thái quá các yêu sách biển. Mỹ không thể và sẽ không chấp nhận những thay đổi đơn phương, cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng.

Câu hỏi lớn nhất trong các đại biểu châu Á tham dự diễn đàn là vai trò của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục như thế nào trong khu vực ngày càng căng thẳng này?

Sáng 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện tại châu Á - Thái Bình Dương.

Người đứng đầu Lầu Năm Góc cũng cho biết, Mỹ sẽ không chấp nhận việc Trung Quốc coi thường luật quốc tế với các hoạt động phi pháp trên Biển Đông.

alt

Mỹ đã lật bài ngửa về Biển Đông tại Đối thoại An ninh Shangri-la

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói Mỹ là "quốc gia Thái Bình Dương về cả địa lý lẫn tầm nhìn", khẳng định Washington vẫn sẽ tiếp tục duy trì các lợi ích chiến lược tại đây.

Phát biểu của ông Mattis được kỳ vọng giúp trấn an các đồng minh của Mỹ tại khu vực sau những tuyên bố của Tổng thống Donald Trump về việc giảm dần ảnh hưởng quốc tế của Washington, chủ trương "Nước Mỹ trên hết".

Người đứng đầu Lầu Năm Góc đề cập đến 3 cách thức mà Bộ Quốc phòng Mỹ áp dụng để ứng phó với các thách thức an ninh tại khu vực.

Theo đó, một là Mỹ sẽ củng cố các liên minh; hai là giúp đỡ các quốc gia trong khu vực "tự lực cánh sinh" và thứ ba là tăng cường năng lực quân sự của Mỹ tại khu vực.

Như vậy, có thể thấy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã "lật bài ngửa" trong chính sách an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương qua phát biểu của ông James Mattis tại Đối thoại An ninh Shangri-la.

Về Biển Đông, tướng James Mattis nhắc lại những tuyên bố lên án Trung Quốc quân sự hóa bất hợp pháp đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và tự do hàng hải - hàng không trên Biển Đông, phá vỡ luật pháp quốc tế...

Ngoài những nội dung và thông điệp quen thuộc vẫn thấy lâu nay, nhắc lại cam kết duy trì trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông, Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên của Mỹ.

Tuy nhiên, tính toán lợi ích chiến lược của mình trong khu vực trước mối đe dọa chiến tranh hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mỹ đã một lần nữa sử dụng Biển Đông như là một con bài chiến lược để mặc cả với Trung Quốc.

Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên…
   
2.2. Phản ứng và hành xử của Trung Quốc và Mỹ                                          
2.2.1. Kế “điệu hổ ly sơn” đã bị phát giác ?

Các hoạt động thử vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Triều Tiên chính là “con bài chiến lược” mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dùng để mặc cả với Tổng thống Donald Trump về Biển Đông.

Nhưng cho đến nay, con bài này dường như bị vô hiệu hóa, bởi vì:

Thứ nhất: Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra Nghi quyết trừng phạt Bình Nhưỡng với 100% phiếu thuận, trong đó có cả Trung Quốc và Nga trong phiên họp ngày 2/6.

Nghị quyết được 15 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua.

Nghị quyết này sẽ cấm đi lại trên toàn cầu và phong tỏa tài sản của 14 cá nhân người Triều Tiên và 4 cơ quan của nước này, trong đó có ngân hàng Koryo.

Nghị quyết này đạt được sau 5 tuần đàm phán giữa Washington và Bắc Kinh.

Phát biểu sau cuộc bỏ phiếu, Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley cho rằng, nghị quyết mới được thông qua đã gửi một thông điệp rõ ràng tới Triều Tiên rằng nước này cần ngừng ngay việc thử các tên lửa đạn đạo nếu không sẽ phải đối mặt với các hậu quả.  

Như vậy, việc Trung Quốc buộc phải bỏ phiếu thông qua Nghi quyết này cho thấy “con bài chiến lược” mà họ sử dụng để mặc cả với Mỹ đã không còn tác dụng như họ mong muốn. 

alt

Biển Đông và Triều Tiên, Mỹ đã trúng kế điệu hổ ly sơn của Trung Nam Hải?

Thứ hai: Sau một thời gian chờ đợi hành động của Trung Quốc trước những vụ thử tên lửa “xịt” của Triều Tiên, có lẽ Mỹ đã nhận ra được kế sách “điệu hổ ly sơn” của Bắc Kinh và đã bắt đầu ra tay ở Biển Đông và Hoa Đông.

Khi thấy đây chỉ là kế "điệu hổ ly sơn" của Trung Nam Hải và, ông Tập Cận Bình không thực sự sử dụng đòn bẩy của mình theo mong muốn của người Mỹ, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã có những hiệu chỉnh chính sách.

Trước đối thoại Shangri-la, nhiều nhà phân tích quốc tế dự đoán vấn đề Triều Tiên có thể sẽ lấn át chủ đề quân sự hóa Biển Đông tại kỳ đối thoại quan trọng nhất trong năm về an ninh châu Á - Thái Bình Dương này.

Tuy nhiên thực tế diễn ra ngược lại, Biển Đông vẫn là một chủ đề nóng thu hút sự quan tâm và bày tỏ thái độ của các cường quốc.

Biển Đông không phải là câu chuyện của riêng các nước có yêu sách, mà là một vấn đề an ninh nóng bỏng của khu vực và toàn cầu.

Bởi lẽ, đây là nơi diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, tất nhiên bao gồm cả nguyên nhân căng thẳng từ yêu sách bành trướng và tham vọng của Bắc Kinh độc chiếm vùng biển này.

Chính vì vậy, cục diện Biển Đông có liên hệ chặt chẽ, biện chứng với cấu trúc và cục diện an ninh châu Á - Thái Bình Dương, tức nằm trong bàn cờ chiến lược lớn hơn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Vì thế một nước cờ nào đó diễn ra ở Đông Bắc Á, có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến cục diện Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.  

Hiệu chỉnh đầu tiên là Mỹ cho chiến hạm USS Dewey tuần tra tự do hàng hải quanh bãi cạn Vành Khăn, và lần đầu tiên diễn tập cơ động trong phạm vi 12 hải lý xung quanh cấu trúc vốn là một bãi cạn lúc chìm lúc nổi này.

Hiệu chỉnh thứ hai là các tuyên bố mạnh mẽ về Biển Đông, Triều Tiên tại Đối thoại Shangri-la.

Nếu như trong vấn đề Biển Đông, phát biểu của ông James Mattis chủ yếu nói cho các đồng minh và đối tác nghe, thì trong vấn đề Triều Tiên, ông nhắc lại với Trung Nam Hải:

"Một khi Hoa Kỳ đã cạn kiệt tất cả các lựa chọn thay thế, người Mỹ sẽ làm đúng. Chúng tôi sẽ vẫn có mặt ở đó".

Phát biểu này cũng chính là nội dung tuyên bố của Tổng thống Donald Trump theo tường thuật của CNN ngày 2/4: Trung Quốc không giúp thì để Mỹ tự làm theo cách của mình. 

2.2.2. Vẫn còn đó nước cờ “một Trung Quốc” của Mỹ trong quan hệ với Bắc Kinh?

Vấn đề đảo Đài Loan, khi phái đoàn Trung Quốc đặt câu hỏi, ông James Mattis đã không ngần ngại trả lời thẳng:

"Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn kiên định làm việc với Đài Loan và chính quyền dân chủ của họ, để cung cấp cho họ các thiết bị quốc phòng cần thiết, phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan.

Bởi vì chúng tôi đứng ra giải quyết một cách hòa bình với bất kỳ vấn đề nào theo cách thức mà người dân hai bờ eo biển Đài Loan có thể chấp nhận được.”.

alt
Nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn và Tổng thống Mỹ Donald Trump, ảnh minh họa: Youtube.

Đài Loan vẫn là con bài chiến lược dự trữ rất có giá trị của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương.

Một cú điện đàm giữa Tổng thống Donald Trump với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hay việc quay sang nhắc lại tôn trọng cam kết “một nước Trung Quốc” với ông Tập Cận Bình chỉ là những nước cờ chiến thuật, nhằm tối đa hóa lợi ích cho Mỹ thông qua đòn bẩy này mà thôi.

Rõ ràng là: Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu nói chung, đặc biệt tập trung vào châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.

Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung - Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình , cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung cho khu vực.

Với đầu óc thực dụng, Donald Trump và Tập Cận Bình làm gì cũng có tính toán cẩn thận, các nước nhỏ cần nghiên cứu kỹ chính sách và xu hướng của hai nhà lãnh đạo này để không bị trở thành những quân cờ  trong bàn cờ chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của 2 siêu cướng Mỹ, Trung.

3. Các quốc gia châu Á-TBD nên và cần làm gì ?

3.1.Tự lực cánh sinh và quy luật sinh tồn

Một số quốc gia châu Á đang tìm cách củng cố các liên minh không chính thức với nhau, vì những lo ngại rằng không thể dựa vào một mình Hoa Kỳ để duy trì vùng đệm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Các nước Australia, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam đang lặng lẽ đẩy mạnh các cuộc thảo luận và hợp tác.

Phát biểu đề dẫn Đối thoại An ninh Shangri-la lần thứ 16 vừa qua, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull nói:

"Trong thế giới mới bất ổn này, chúng ta không thể dựa vào một sức mạnh tuyệt đối để bảo vệ lợi ích của mình.

Chúng ta phải chịu trách nhiệm với an ninh và thịnh vượng của chính mình, trong khi thấy rõ rằng chúng ta sẽ trở nên mạnh hơn khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo tập thể với các bạn bè và đối tác tin cậy.".

Để minh họa sống động cho nhận xét này, Thủ tướng Malcolm Turnbull phát biểu:

"Thưa ngài thủ tướng (Lý Hiển Long)! Cha của ngài và đồng thời cũng là vị quốc phụ, ngài Lý Quang Diệu, rất sâu sắc.

Ông hiểu rằng sự ổn định chiến lược không tự nhiên mà có.

Năm 1966 khi Cộng hòa Singapore mới được khoảng 1 năm tuổi, Anh quốc bắt đầu tính chuyện rút các lực lượng quân sự khỏi phía Đông Suez, ông đã nói về tầm nhìn chiến lược.

Ông Lý Quang Diệu trích dẫn một câu phương ngôn của người Trung Quốc, đại ý cá lớn nuốt cá bé, cá bé ăn tép riu.  

Ông đã mô tả về cách làm thế nào để con tép riu trong câu phương ngôn này, lấy ví dụ như quốc đảo Singapore khiêm tốn và nhỏ tuổi, có thể sinh tồn và phát triển tốt.

Đó là cách con tép nhỏ làm cho bản thân mình "khó nuốt" đối với những con cá, bằng cách trở nên tự chủ và mạnh mẽ hơn.

Nó có thể làm bạn với các con cá lớn khác, xây dựng liên minh mạnh mẽ và an ninh tập thể.  

Hòa bình và ổn định đã trở thành nền tảng cần thiết cho sự tiến bộ, thịnh vượng và tự do trong khu vực của tất cả chúng ta…”

…Với sự hiện diện của đầy đủ "tôm tép, cá nhỏ, cá vừa và cá lớn" tại đây (Đối thoại Shangri-la) ngày hôm nay, chúng ta phải đối mặt với hơn một sự lựa chọn mang tính đối nghịch, giữa sự sống và cái chết, giữa chiến tranh và hòa bình…  

Các điểm nóng trong khu vực gia tăng, mâu thuẫn dường như vô tận ở Trung Đông và châu Phi, sự điên rồ và bệnh hoạn của chủ nghĩa khủng bố, sự biến đổi kinh tế và biên giới ở châu Âu, sự can thiệp bên ngoài và mức độ tha hóa chính trị hay chủ nghĩa dân tộc ngày càng sâu sắc hơn những gì chúng ta từng thấy kể từ năm 1930…”.

3.2. Chia sẻ là hạnh phúc, đoàn kết là sức mạnh và cách hành xử của Trung Quốc

Thủ tướng Malcolm Turnbull nhắn nhủ các quan chức và học giả tham dự Đối thoại Shangri-la lần thứ 16:

alt

Châu Á có các "liên minh mới" chống Trung Quốc bành trướng Biển Đông?

"Trong thế giới mới đầy thách thức này, chúng ta không thể dựa vào một sức mạnh tuyệt đối để bảo vệ lợi ích của chúng ta.  

Chúng ta phải chịu trách nhiệm về an ninh và thịnh vượng của chính mình, trong khi chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo tập thể với các đối tác và bạn bè tin cậy.

Những đám mây âm u đang tập trung các dấu hiệu của sự không chắc chắn, không ổn định, đòi hỏi tất cả chúng ta phải đóng vai trò tích cực hơn trong việc bảo vệ và định hình tương lai của khu vực này…”

…Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ tham gia hàng ngũ những nền kinh tế lớn với sức mạnh và ảnh hưởng chiến lược được các nhà lãnh đạo và dân chúng hai nước này xem như sự trở lại trật tự tự nhiên.

Nhưng sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc tiếp tục là chủ đề của những tranh luận gay gắt nhất.

Trung Quốc sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong định hình khu vực.

Bắc Kinh sẽ tìm cách tăng ảnh hưởng chiến lược để phù hợp với sức mạnh kinh tế mới cũng là điều dễ hiểu. 

Nhưng chúng tôi muốn thấy một Trung Quốc xây dựng vai trò lãnh đạo theo cách củng cố trật tự khu vực đã giúp chúng ta chung sống rất tốt...

Trung Quốc đã thu hoạch được nhiều nhất từ môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực chúng ta.

Do đó họ cũng sẽ là nước mất nhiều nhất nếu hòa bình và ổn định khu vực bị đe dọa.

Sự phát triển nhanh chóng của một cường quốc mới, cho dù là Athens cổ đại hay Trung Quốc đương đại, đều tạo ra sự lo lắng…

…Một Trung Quốc cưỡng chế sẽ nhìn thấy các nước láng giềng phản đối họ vì các đòi hỏi nhượng bộ về quyền tự chủ và không gian chiến lược.

Các nước này sẽ cân bằng với sức mạnh của Bắc Kinh bằng cách củng cố liên minh và hợp tác đặc biệt giữa họ với Hoa Kỳ.

Cũng giống như nước Trung Quốc hiện đại được thành lập năm 1949 trên cơ sở khẳng định chủ quyền quốc gia, trong thế kỷ 21 Trung Quốc sẽ thành công hơn nhiều bằng cách tôn trọng chủ quyền các nước khác.".

Có lẽ những lời lẻ trên đây đã thể hiện khá đầy đủ ý nguyện chung của cộng đồng trước những diễn biến khôn lường trong phạm vi khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng và quốc tế nói chung. 

3.3. Chọn Bắc Kinh hay Washington?

Trong quá trình tồn tại và phát triển của Quốc đảo Sư tử, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã thực hiện chủ trương dung hòa và cân bằng rất tốt trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Ngày nay, ngay cả một nước không hề nhỏ, lại là đồng minh của Mỹ như Australia cũng đang đi theo con đường Lý Quang Diệu đã dẫn dắt Singapore đến thành công.

Thủ tướng Malcolm Turnbull nói rằng:

"Chúng tôi có một người bạn tốt, một đối tác tốt là Bắc Kinh, trong khi có một người bạn kiên định và đồng minh là Washington.

Không có gì trở ngại với chúng tôi khi giao dịch với cả hai quốc gia này.

Hợp tác với nước này không làm hạn chế giao dịch của chúng tôi với nước kia.".

Chính sách đối ngoại của các nước nhỏ trong khu vực  được xác định bởi và chỉ bởi lợi ích quốc gia, dân tộc mình.

Vì vậy, an ninh và thịnh vượng phụ thuộc vào sự ổn định và hòa bình liên tục trong khu vực, một điều chỉ có thể đạt được nếu tất cả các quốc gia phát triển theo con đường họ chọn mà không cưỡng ép hoặc can thiệp vào quốc gia khác.

Các nước, nhất là các nước nhỏ, cần đoàn kết bảo vệ hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế, không đứng về phía Trung Quốc để chống Mỹ và ngược lại, có lẽ là chủ trương và  cách ứng xử thích hợp nhất trong bối cảnh hiện nay đang được Singapore, Australia, Việt Nam, Philippines… vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả nhất theo cách riêng của mình./.

Tài liệu tham khảo:

- Chuyến đi Washington của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong ngày 30-31/5/2017 giúp làm tăng vị thế ngoại giao của Việt Nam, theo một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) từ Hoa Kỳ. BBC ngày 30/5/2017.

- Chuyến đi 'không đột phá, nhưng có kết quả' ,BBC ngày 4 tháng 6 2017.

- Diễn đàn an ninh vùng: Biển Đông nằm ở đâu? BBC ngày 2 tháng 6 2017

- Hồng Thủy (giaoduc.net.vn 09:55 04/06/17); Mỹ đã lật bài ngửa về Biển Đông tại Đối thoại An ninh Shangri-la

- Hồng Thủy (giaoduc.net.vn, 15:52 05/06/17): Châu Á có các "liên minh mới" chống Trung Quốc bành trướng Biển Đông?

- Hồng Thủy(giaoduc.net.vn 11:12 03/06/17 ): Thông điệp của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về Biển Đông, Triều Tiên tại Shangri-la.

- Chính quyền Mỹ thời Donald Trump không hề quên Biển Đông, VOV, Thứ 2, 19:05, 05/06/2017.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Chuyen-tham-My-cua-Thu-tuong-Nguyen-Xuan-Phuc-va-quy-luat-sinh-ton-cua-muon-loai-post177172.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Mon, 19 Jun 2017 08:48:49 +0000
Thủ tướng: Châu Á phải là nơi chúng ta được nghe ‘giấc mơ’ của mọi quốc gia http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4373-2017-06-05-09-38-59 http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4373-2017-06-05-09-38-59 Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam… còn ít được biết đến, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á ở Tokyo, Nhật Bản.

Sáng nay, tại Tokyo, Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự và có bài phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 23.

Chủ đề của Hội nghị năm nay là “Chủ nghĩa toàn cầu hóa giữa ngã tư đường - Bước đi tiếp theo của châu Á” với sự tham dự của lãnh đạo cấp cao và chính khách nhiều nước châu Á cũng như các tập đoàn lớn trên thế giới.

Châu Á là động lực tăng trưởng chủ chốt

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Mở đầu bài phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói về nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, người đã phát hiện ra chìa khóa cho sự thịnh vượng của một quốc gia đó là "tự do tự nhiên", được hiểu là tự do sản xuất và trao đổi hàng hóa theo nhu cầu tự nhiên, mở cửa thị trường trong nước cũng như quốc tế để cạnh tranh theo nguyên tắc tự do, công bằng. Theo Thủ tướng, đó chính là nền tảng quan trọng của toàn cầu hóa và trên thực tế tiến trình này đã diễn ra hàng trăm năm trước đó.

“Sự kiện hôm nay diễn ra tại Nhật Bản nhắc tôi nhớ lại từ khoảng thế kỷ 16, Hội An, một thương cảng nằm ở tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, đã dần hình thành một trong những nơi buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền ở châu Á”, Thủ tướng bày tỏ. Người Nhật Bản là những nhà kinh doanh quốc tế thuộc thế hệ đầu tiên đã có những đóng góp quan trọng, đưa Hội An tham gia vào hệ thống thương mại xuyên biên giới, trở thành nơi mà cho đến hôm nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích của một mô hình cảng thị hội nhập quốc tế ở vào buổi sơ khai của nền thương mại toàn cầu.

Thủ tướng cho rằng, thực tế lịch sử cho thấy, dù chúng ta ủng hộ hay không ủng hộ toàn cầu hóa thì đó vẫn là xu thế tất yếu. Trong nhiều thế kỷ qua, những hành trình ngược xuôi, những câu chuyện huyền thoại trên con đường tơ lụa lịch sử đã giúp chúng ta hiểu một điều quan trọng: Toàn cầu hóa không chỉ là một tiến trình kinh tế mà còn là sự phản ánh những khát vọng vươn xa, những mưu cầu hạnh phúc và chinh phục thử thách của loài người.

Thủ tướng cho rằng châu Á, châu lục lớn nhất thế giới về diện tích và dân số, đa dạng về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, đang là động lực tăng trưởng chủ chốt trong quá trình toàn cầu hóa.

Sự vươn lên của châu Á là sự vươn lên của tập hợp các quốc gia luôn hướng tới hội nhập quốc tế sâu sắc và mạnh mẽ, như Singapore, nền kinh tế mở, năng động bậc nhất thế giới; Hàn Quốc - "kỳ tích sông Hàn” của châu Á và là nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới, một thành viên quan trọng của OECD. Hay Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với nhiều thập niên tăng trưởng ngoạn mục, đưa hàng trăm triệu người thoát nghèo.

Với trên 150 hiệp định thương mại tự do và khu vực, chiếm 58% tổng số hiệp định của thế giới, châu Á đi đầu về hợp tác, hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, quá trình hội nhập toàn cầu cũng đang đặt châu Á trước nhiều thách thức.

Những diễn biến phức tạp về chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, các mối đe dọa khủng bố, các vụ thử tên lửa trên bán đảo Triều Tiên; những căng thẳng trên Biển Hoa Đông, Biển Đông vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ về an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không của tuyến đường biển quốc tế.

Biến đổi khí hậu cùng với những thảm họa về bệnh dịch, thiên tai, gây thiệt hại nặng nề về tài sản và con người. Mối lo ngại về sự đồng nhất và một nền văn hóa phổ quát sẽ làm phai nhạt tính độc đáo và các giá trị bản sắc châu Á.

Châu Á cần làm gì?

“Đứng trước thách thức đó, châu Á cần phải làm gì”, Thủ tướng đặt vấn đề và nêu ra 3 nhóm biện pháp.

Thứ nhất, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong bối cảnh châu Á đang có những thay đổi mang tính cấu trúc. Theo đó, cần tạo dựng quan hệ gắn kết lành mạnh, tăng cường lòng tin, sự thực tâm giữa các quốc gia về an ninh, chính trị và phát triển kinh tế thông qua các hiệp định song phương, đa phương, các liên kết chiến lược khu vực và liên lục địa;

Tập trung giải quyết các khác biệt nội tại khu vực và hành xử có trách nhiệm của các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Gia tăng sức mạnh mềm châu Á thông qua việc truyền thông, gìn giữ và phát huy tính đa dạng, nét độc đáo về bản sắc văn hóa và những "giá trị châu Á" mà cố Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã từng đề cập đến như tinh thần lao động cần cù, ý thức tiết kiệm, sự hiếu học, tình bằng hữu và sự gắn kết gia đình... Đồng thời chúng ta mở cửa hợp tác, tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn hóa của các châu lục khác.

Thứ hai, giải quyết bài toán về mô hình phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh, bền vững và bao trùm. Theo đó, cần tạo sự gắn kết lành mạnh giữa các nền kinh tế, thúc đẩy kết nối nhiều mặt và đa tầng nấc giữa các quốc gia, gồm kết nối hạ tầng mềm nhằm tạo dựng môi trường chính sách thuận lợi cho các hoạt động kinh tế thương mại; kết nối giao thông/hạ tầng cứng để bảo đảm cho sự di chuyển an toàn, thuận lợi của người dân và hàng hóa; kết nối về con người; kết nối về môi trường tự nhiên như hợp tác trong giải quyết các thách thức về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, quản lý thiên tai. Kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa hiện tại và các giá trị lịch sử, giữa hiện đại và truyền thống, giữa chủ nghĩa toàn cầu và bản sắc dân tộc, bảo toàn sự đa dạng văn hóa.

Thứ ba, tối ưu hóa nguồn lực, phối hợp và phát huy vai trò tích cực của các định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB)…

Thủ tướng cho rằng, chính những thể chế, tôn chỉ, nguyên tắc, luật lệ được xây dựng bởi các định chế quốc tế này cùng với tổ chức khu vực như ASEAN, APEC… đã góp phần quan trọng duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới nói chung và châu Á nói riêng.

“Giấc mơ” cho mọi quốc gia châu Á

Thủ tướng chia sẻ: Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam... còn ít được biết đến. Châu Á phải là một nơi mà ở đó chúng ta sẽ được lắng nghe về giấc mơ của mọi quốc gia, của nước lớn cũng như nước nhỏ, nước phát triển cũng như chưa phát triển.

Tất cả đều được đối xử trên nguyên tắc tự do, bình đẳng không sự phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, màu da, sắc tộc hay giới tính. Tất cả cùng hợp tác, đóng góp vì hòa bình và thịnh vượng cho mọi quốc gia, mọi người dân châu Á.

 
 

Tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu tình hình kinh tế-xã hội và tiềm năng phát triển của Việt Nam, đang trở thành một thị trường hấp dẫn có sức mua ngày càng lớn với tầng lớp trung lưu chiếm trên 10% dân số và đang gia tăng nhanh chóng.

Thủ tướng nhấn mạnh, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hết lòng phục vụ người dân và doanh nghiệp, với những định hướng lớn như kiến tạo các cơ hội phát triển cho đất nước thông qua tăng cường hội nhập quốc tế, tham gia vào các cấu trúc quản trị toàn cầu. Kiến tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy vai trò động lực của kinh tế tư nhân và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu dựa trên năng suất lao động và năng lực sáng tạo của nền kinh tế.

Chính phủ kiến tạo mà Việt Nam đang xây dựng đồng nghĩa với lựa chọn cân bằng giữa các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế với việc quản lý sự khan hiếm về các dạng tài nguyên và tính bền vững của môi trường và đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với thực tế đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng đối thoại và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề quốc tế và chính sách của Việt Nam

Cho rằng khi nói đến sự thần kỳ châu Á thì không thể không nhắc tới "sự thần kỳ Nhật Bản", khép lại bài phát biểu, Thủ tướng đã nêu rõ vai trò Nhật Bản trong sự phát triển châu Á và mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.

Không chỉ là nhà đầu tư hàng đầu khu vực với trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, có vai trò dẫn dắt trong nhiều lĩnh vực, Nhật Bản còn là tấm gương về văn hóa kỷ luật, kiên nhẫn và đức hy sinh.

Tinh thần đoàn kết, kỷ luật, bình tĩnh của nước Nhật trong thảm họa kép năm 2011 đã được khắc họa chân thật qua hình ảnh những người dân Nhật Bản trật tự xếp hàng; hình ảnh cậu bé 9 tuổi nhường phần đồ ăn của mình cho những người khác. Những người cứu hộ không quản ngại nguy hiểm, bền bỉ tìm kiếm các nạn nhân sau thảm họa…

Thủ tướng khẳng định, sau hơn bốn thập niên, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản không ngừng được củng cố và trở thành đối tác chiến lược sâu rộng vào tháng 3/2014.

Nhật Bản là quốc gia viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 2, là đối tác lớn thứ 3 về du lịch và là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Đến hết năm 2016, Nhật Bản có hơn 3.200 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 42 tỷ USD, chiếm 15% tổng FDI vào Việt Nam.

Hai nước xây dựng mối quan hệ ổn định, tin cậy thông qua các cuộc đối thoại, các cuộc tiếp xúc và chuyến thăm cấp cao giữa hai nước.

Nhật Bản và Việt Nam đã ký 9 thỏa thuận hợp tác giữa các trường đại học và Chương trình chiến lược hợp tác về giáo dục. Đặc biệt, Trường Đại học Việt Nhật đang dần trở thành biểu tượng cho sự hợp tác giáo dục giữa hai nước. Số lượng sinh viên, thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản tăng mạnh, hiện đã đạt con số 150.000 người.

“Tầm nhìn sẽ quyết định phương thức chúng ta tư duy, cách thức chúng ta hành động tại thời điểm hiện tại. Tôi mong rằng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi người dân châu Á hãy cùng chung tay hành động vì một châu Á hòa bình và thịnh vượng”, Thủ tướng chia sẻ.

Đối thoại cởi mở

Tại Hội nghị, Thủ tướng đã đối thoại cởi mở và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề như Hiệp định TPP, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, chính sách về môi trường, kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ vừa qua của Thủ tướng.

Về Hiệp định TPP, Thủ tướng cho biết Việt Nam và Nhật Bản nằm trong 12 nước tham gia TPP. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, Việt Nam cũng như Nhật Bản đang bàn với các đối tác một cách cụ thể để tìm ra một phương thức tốt nhất để chúng ta cùng phát triển, cùng có lợi.

Về ASEAN, Thủ tướng nhấn mạnh nguyên tắc đồng thuận của ASEAN. Trên nguyên tắc đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được triển khai thời gian qua và bước đầu có kết quả tốt. “Chúng tôi đã đẩy mạnh giao lưu thương mại, tự do di chuyển thể nhân và pháp nhân. Khối lượng thương mại giữa 10 nước ASEAN không ngừng tăng lên”, Thủ tướng nói.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Quang cảnh Hội nghị Tương lai châu Á

Với câu hỏi về chính sách trước việc “thị trường xe 2 bánh và 4 bánh phát triển tốt ở Việt Nam nhưng đồng thời gây ra những vấn đề về môi trường, khí thải, đặc biệt ở đô thị”, Thủ tướng nói: “Chúng tôi có chiến lược về phát triển bền vững, trong đó, vấn đề môi trường đặt ra hàng đầu ở Việt Nam. Chúng tôi có một chương trình hành động cụ thể để giảm thiểu khói bụi từ ô tô và mô tô. Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, hơn ai hết, Việt Nam tích cực thực hiện COP 21”.

“Tuần trước, ngài đã gặp Tổng thống Donald Trump. Xin ngài cho biết kết quả sau cuộc hội đàm này, trong đó có nội dung về tự do hàng hải an ninh trên biển”. Trước câu hỏi mà người điều hành Hội nghị nêu ra, Thủ tướng cho biết, đây là chuyến thăm thành công. Tham dự hội đàm, ngoài Tổng thống, có cả Phó Tổng thống và các Bộ trưởng các bộ quan trọng của Hoa Kỳ. Hai bên đã bàn những vấn đề về thương mại hết sức thú vị. Hai bên có sự thống nhất cao rằng xuất nhập khẩu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là có lợi cho hai bên. Những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ, người dân Hoa Kỳ ưa dùng và Việt Nam đã tăng cường nhập các thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại của Hoa Kỳ để phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Thủ tướng cho biết, hai bên đã trao đổi về vấn đề an ninh khu vực, trong đó có vấn đề biển đông và thống nhất giải quyết vấn đề Biển Đông theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc 1982, xây dựng Biển Đông thành khu vực hòa bình, hữu nghị, tự do hàng không, hàng hải.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Bac-Kinh-huy-Dien-dan-Huong-Son-2017--doi-trong-cua-Shangrila-post177128.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Mon, 05 Jun 2017 09:38:59 +0000
Cơ hội hợp tác an ninh Việt - Mỹ trên Biển Đông http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4369-2017-06-01-09-21-28 http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4369-2017-06-01-09-21-28  

Một "hàng rào miễn dịch" cần được xây dựng và củng cố.

Làm sao để Biển Đông trở thành một vùng biển của hợp tác - hòa bình và hữu nghị, thay vì xung đột và chiến tranh; Làm sao để quan hệ hợp tác Việt - Mỹ trở thành động lực và mang đến cơ hội cho cả hai, chứ không phải tạo ra rào cản bởi một bên thứ 3;​

Làm thế nào để quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các siêu cường cũng như những thành viên còn lại của ASEAN bổ sung cho nhau và hướng tới mục tiêu hòa bình - ổn định - phồn vinh, thay vì theo phe này chống phe kia thực sự là một nhu cầu, đòi hỏi và bài toán đặt ra cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Vì thế, những hoạt động đối ngoại như chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có ý nghĩa rất quan trọng.

Chuyến thăm không chỉ thể hiện tính chủ động và năng động của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong đối ngoại, mà còn mở ra những cơ hội mới để tăng cường hiểu biết và lòng tin, củng cố các hoạt động hợp tác cùng có lợi cho cả hai nước và khu vực.

An ninh trên Biển Đông hay kinh tế - thương mại nên được xem như những cơ hội để hai bên đào sâu khả năng hợp tác, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://www.cnbc.com/2017/05/31/trump-may-turn-to-vietnam-for-help-on-south-china-sea.html

[2]http://www.cnbc.com/2017/01/23/trump-white-house-vows-to-stop-china-taking-south-china-sea-islands.html

[3]http://theweek.com/articles/701749/trumps-big-mistake-south-china-sea

[4]http://edition.cnn.com/2017/05/29/asia/south-china-sea-underwater-observation-system/

[5]http://www.eurasiareview.com/31052017-resolving-south-china-sea-dispute-critical-for-world-peace-analysis/

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Co-hoi-hop-tac-an-ninh-Viet--My-tren-Bien-Dong-post177067.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Thu, 01 Jun 2017 09:21:28 +0000
Những kỳ vọng từ chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Phúc http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4363-2017-05-30-03-21-20 http://seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4363-2017-05-30-03-21-20
Thủ tướng Nguyễn Xuân PhúcBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES

Chuyến đi Washington của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 30-31 tháng Năm diễn ra trong bối cảnh nước Mỹ đang trong xáo trộn chính trị chưa từng thấy kể từ thời Nixon và trong những giai đoạn cuối cùng của Cuộc chiến Việt Nam cho tới nay.

Trong bốn thập kỷ tiếp theo, nhiều điều đã thay đổi tại Việt Nam và trong quan hệ Mỹ-Việt, nhất là trong thời gian hai thập kỷ kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ và đặc biệt là trong vài năm vừa qua.

Tầm quan trọng của mối quan hệ này càng có ý nghĩa nổi bật trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết liệt trong việc tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp ở Biển Đông.

Quan hệ giữa hai nước cải thiện đến mức tới cuối năm 2016, ta có thể nói một cách tự tin rằng trong các vấn đề về thương mại và an ninh, Việt Nam và Mỹ đã coi nhau là đối tác chiến lược không thể thiếu.

Ông Phúc đi Mỹ: Sẽ đạt lợi ích chính trị, kinh tế hay ngoại giao?

Thủ tướng Việt Nam sắp gặp Donald Trump

Trọng tâm thương mại khi ông Phúc gặp ông Trump?

Thế rồi cuộc bầu cử Mỹ diễn ra. Cũng giống như phần lớn các chính sách đối ngoại của Mỹ, mọi thứ ngày nay trở nên bất định hơn.

Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam có tầm quan trọng to lớn. Nó không chỉ đem đến những dự báo cho sự phát triển quan hệ song phương Mỹ - Việt và viễn cảnh phát triển của Việt Nam, mà còn cho chúng ta biết về ý định của Tòa Bạch ốc, hiện đang trong tình trạng rối ren, đối với vùng Đông Á.

Trong bối cảnh đời sống chính trị Việt Nam, tầm quan trọng của chuyến đi này nằm ở chỗ nó đại diện cho những nỗ lực khó khăn của phe cải cách trong Đảng cộng sản đương quyền, là phe muốn xích lại gần Mỹ hơn. Sẽ là khôn ngoan nếu như chính quyền Mỹ nhận biết được thực tế này.

Dẫu cho chỉ Việt Nam mới quyết định được con đường chính trị của mình, nhưng việc hợp tác với Hà Nội một cách xây dựng sẽ tạo ra lợi ích cho tương lai của mối quan hệ Việt-Mỹ, đem lại lợi ích cho người Việt Nam.

Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam sẽ có ảnh hưởng tới ba vấn đề lớn.

Vấn đề thương mại

Đầu tiên là chủ đề thương mại.

Trong vấn đề này, thách thức đặt ra là phải tìm được con đường dẫn đến các giải pháp hai bên cùng có lợi.

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, cũng như của nhiều nước khác. Điều nổi bật là mức tăng trưởng nhanh trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu.

Ngày nay, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ nhiều hơn bất cứ quốc gia Đông Nam Á nào khác.

Hoa Kỳ bàn giao tàu tuần duyên cho VN

Tính đến cuối 2016, hoạt động thương mại trong lĩnh vực hàng hóa (không bao gồm dịch vụ) giữa hai nước đạt 50 tỷ USD mỗi năm, và con số này được dự đoán sẽ tăng lên 80 tỷ USD vào năm 2020.

Đáng chú ý là xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng một phần tư tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Như phân tích gia mang quốc tịch Mỹ Vũ Quang Việt chỉ ra, thặng dư xuất khẩu thực sự của Việt Nam đối với Hoa Kỳ đang được phóng đại ở các con số này.

Lý do đơn giản nhưng quan trọng là một phần lớn (dù chưa được xác định chính xác là bao nhiêu) của kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ và các thị trường khác là các mặt hàng như điện thoại di động Samsung và linh kiện máy tính Intel.

Công đoạn sản xuất ở Việt Nam chỉ đóng góp thêm từ 5% đến 8 % vào giá trị thành phẩm của các sản phẩm này.

Năm 2016, báo cáo về các số liệu hải quan cho thấy Việt Nam đã xuất khẩu điện thoại di động trị giá 42 tỷ USD và linh kiện máy tính trị giá 19 tỷ USD. Cho dù như vậy, thặng dư thương mại của Việt Nam vẫn là một con số đáng chú ý đối với chính quyền Mỹ.

Nếu nhìn từ khuynh hướng nhìn nhận của ông Trump đối với các vấn đề thương mại, người ta có thể đặt câu hỏi tại sao Việt Nam muốn

http://www.bbc.com/vietnamese/world-40083049

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 30 May 2017 03:21:20 +0000
Thủ tướng Việt Nam đi Mỹ : Biển Đông sẽ là một chủ đề bàn luận http://seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/multi-country-actions/4362-2017-05-30-03-18-17 http://seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/multi-country-actions/4362-2017-05-30-03-18-17 mediaThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc (G) và phu nhân tới Manila, Philippines, dự thượng đỉnh ASEAN, ngày 28/04/2017.Mohd RASFAN / AFP

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rời Hà Nội hôm nay, 29/05/2017 để bay sang Mỹ, bắt đầu chuyến công du tại Hoa Kỳ, mà đỉnh điểm sẽ là cuộc hội đàm với tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng, Washington hôm 31/05. Theo nhiều nhà phân tích, hai hồ sơ nổi bật trong chương trình nghị sự sẽ là Biển Đông và thương mại song phương.

Theo chương trình dự kiến, điểm dừng đầu tiên của thủ tướng Việt Nam là New York, nơi ông sẽ tiếp xúc với tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres và dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Yếu tố quan trọng nhất trong chuyến thăm Mỹ là cuộc hội đàm giữa ông Nguyễn Xuân Phúc với tân tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 31/05 tại Nhà Trắng. Thủ tướng Phúc sẽ là lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam tiếp xúc với tân tổng thống Mỹ từ ngày ông Trump nhậm chức.

Theo báo chí Việt Nam, trích nguồn tin bộ Ngoại Giao, hai lãnh đạo dự kiến sẽ hội đàm trong 90 phút về quan hệ song phương và hợp tác khu vực. Hai bên sẽ có họp báo chung sau cuộc gặp.

Trước ngày thủ tướng Việt Nam lên đường, các nhà quan sát cho rằng hai ông Nguyễn Xuân Phúc và Donald Trump sẽ bàn luận về vấn đề thương mại song phương, trong đó đáng chú ý là việc Mỹ nhập siêu mà ông Trump không tán đồng, và hồ sơ Biển Đông, với mong muốn của Việt Nam là Mỹ tiếp tục hiện diện trong khu vực.

 
 
 

Hồ sơ này đã lại thu hút sự quan tâm trong những ngày gần đây, với sự kiện lần đầu tiên từ ngày ông Trump nhậm chức, Mỹ đã phái chiến hạm đi sát Đá Vành Khăn, một hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp tại Trường Sa, và việc Hoa Kỳ bàn giao cho Việt Nam 6 xuồng tuần tra mới và một chiếc tàu tuần tra cỡ lớn lớp Hamilton đã qua sử dụng.

Trong một bài phân tích dài công bố hôm 27/05/2017 trên tạp chí Mỹ The National Interest, giáo sư Alexandre Vuving, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương đã ghi nhận tuyên bố hôm 20/05 vừa qua của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với Đại Diện Thương Mại Mỹ Robert Lighthizer là ông rất muốn Hoa Kỳ « tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực ». Đối với giáo sư Vuving, cách nay chỉ 5 năm thôi, một số lãnh đạo Việt Nam chỉ dám nghĩ như vậy, chứ không thể tuyên bố công khai như vậy.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170529-thu-tuong-viet-nam-di-my-bien-dong-se-la-mot-chu-de-ban-luan

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 30 May 2017 03:18:17 +0000
Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác" http://seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/vietnam-arguments/4346-2017-05-23-10-01-42 http://seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/vietnam-arguments/4346-2017-05-23-10-01-42

3. Philippine đã “dính bẫy” chưa? 

Nhiều người bức xúc cho rằng nội dung mà các lãnh đạo tuyên bố trong quan hệ với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông trong thời gian qua là đã “dính bẫy” do Trung Quốc giăng ra, thậm chí là đã quy phục, đầu hàng Trung Quốc. 

Tuy nhiên, dựa trên những nội dung pháp lý đã nêu ở phần 1 ("Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?) và với một tinh thần cầu thị, khách quan khi nhận xét đánh giá nội dung và hình thức của các tuyên bố đặt trong bố cảnh hiện nay, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về bản chất, ý nghĩa và giá trị của các tuyên bố quan trọng đó. 

Theo nguồn tin của các hãng thông tấn khu vực và quốc tế, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm thứ Ba tuần trước 16/5 tuyên bố: ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông. 

alt
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tại Diễn đàn quốc tế Một vành đai, một con đường ở Bắc Kinh, ảnh: Rappler.

Tổng thống Philippines nói ông có thể hợp tác với các nước láng giềng khi trở về nước từ Bắc Kinh, sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường: 

“Nếu có thể có được cái gì đó mà không gặp phiền hà, thì tại sao không chứ?”, ông Duterte nói với các nhà báo. Ông nói thêm rằng với điều kiện là mọi sự phải “công bằng và cân xứng”.  

Căn cứ vào lời lẽ nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Nhà nước Philippines đã chính thức từ bỏ yêu sách của mình trên Biển Đông. Vì sao? 

Thứ nhất, ông Duterte chỉ tuyên bố về nguyên tắc là “sẵn sàng” hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với điều kiện không gặp “phiền hà” và mọi sự phải “công bằng và cân xứng”. 

Suy ra rằng bất cứ một thỏa thuận nào có liên quan đến lãnh thổ, chủ quyền quốc gia là phải tuân thủ đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. 

Nếu không thì sẽ phải “gặp phiền hà” bởi sự phủ quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và bởi sự phản kháng của người dân nước họ. 

Chính vì vậy, bên cạnh những tuyên bố của Tổng thống Duterte trong thời gian tham dự Diễn đàn cấp cao: “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, ông Santa Romana, một quan chức ngoại giao Philippines lại tuyên bố rằng:

Sự tham dự của ông Duterte tại hội nghị thượng đỉnh về Con đường Tơ lụa lần này không thể được coi là Philippines đã “từ bỏ” tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. 

Phải chăng đó là chìa khóa an toàn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Philippines trong Biển Đông?

Thứ hai, đi sâu hơn về ý tứ của tuyên bố đó, thiết nghĩ đây cũng là một sách lược khôn ngoan của phía Philippines trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Lịch sử của quá trình Philppines tranh chấp chủ quyền ở đây đã chứng minh và ngay cả phía Philippines cũng đã thừa nhận:

Họ đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền chỉ từ những năm 50 và đã chiếm đóng trên thực tế một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa vào những năm 70 của thế kỷ trước. 

Trên danh nghĩa pháp lý, họ cũng chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với các thực thể nằm trong phạm vi hình lục giác bao lấy một phần quần đảo Trường Sa (trừ nhóm đảo Trường Sa lớn), mà họ gọi là “Kalayaan”. 

alt
Lược đồ phạm vi nhóm đảo Kalayaan do Philippines tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thể hiện trong Sắc lệnh số 1596 của tổng thống Philippines. Ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kalayaan_Island_Group_(vi).png

Họ lập luận rằng nhóm đảo này, mặc dù không phải là một bộ phận cấu thành quốc gia quần đảo, vẫn thuộc chủ quyền của Philippines, vì chúng ở gần Philippines về mặt khoảng cách địa lý.  

Nguyên tắc “khoảng cách địa lý” không có giá trị để bảo vệ cho việc chiếm đóng của họ dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. 

Vì vậy, phải chăng tuyên bố này cũng là một biện pháp pháp lý nhằm giành lấy sự công nhận trên thực tế  việc chiếm đóng phi pháp của họ, nếu các bên liên quan chấp nhận “đề xuất” này?

Thứ ba, Philippines thừa biết rằng đây không phải là lần đầu tiên Philippines tìm cách hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông. 

Năm 2005, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Trung Quốc và Việt Nam trên khắp khu vực.

Nhưng thỏa thuận này sau đó sụp đổ, khiến bà Arroyo sau đó tuyên bố “không thể tin vào người Trung Quốc”. 

Mặc dù như vậy, Philippines vẫn tiếp tục đề xuất chủ trương này cũng chỉ vì mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc mà thôi.

Bởi thế, Tổng thống Philippines nói chuyến đi của ông tới thăm Bắc Kinh là “cơ may” cho Philippines, ông tiết lộ rằng sẽ có thêm nhiều khoản đầu tư từ Trung Quốc, nhưng ông không cho biết thêm chi tiết…

4. Việt Nam chưa “dính bẫy”?

Trước hết chúng tôi xin được trích nguyên văn nội dung được nêu tại Điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa diễn ra:

“Hai bên đã trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển; nhấn mạnh cần tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã đạt được và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”;

alt

Donald Trump - Tập Cận Bình cùng thắng, phần thua thuộc về ai?

Sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung; kiên trì thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; 

Tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. 

Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; 

Tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.  

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm xây dựng “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC); 

Kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Trong nội dung này, chúng tôi xin lưu ý thỏa thuận “hợp tác cùng phát triển” là giải pháp tạm thời áp dụng cho hai khu vực khác nhau: 

Một là ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ: “…Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này…”.

Hai là: “trên biển”: “…tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”.

alt

Lý do không ai hưởng ứng Trung Quốc "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông

Từ nội dung nói trên, chúng tôi cho rằng Việt Nam đã rất thận trọng khi thỏa thuận áp dụng giải pháp “cùng phát triển” cho 2 khu vực biển khác nhau: 

Một là khu vực cửa vịnh Bắc Bộ mà 2 bên đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng chồng lấn.

Trong khi hai bên đang đàm phán để thống nhất một đường phân định cuối cùng thì có thể thỏa thuận áp dụng giải pháp tạm thời “cùng phát triển” cho vùng chồng lấn ở đây.

Đây là một thỏa thuận hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

Hai là: nhóm công tác cần tiếp tục “…bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…” Cụm từ “trên biển” ở đây nên được hiểu như thế nào? 

Phải chăng cụm từ này đã phản ánh sự dung hòa quan điểm của 2 bên về phạm vi áp dụng giải pháp “cùng phát triển”? 

Theo lập trường của Việt Nam, phạm vi này chỉ có thể phải là các vùng chồng lấn được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 khi xác lập phạm vi vùng đặc quyền và thềm lục địa của mỗi quốc gia. 

Còn Trung Quốc có thể cho rằng “trên biển” nói trong tuyên bố này bao gồm toàn bộ vùng biển nằm trong giới hạn đường “lưỡi bò”, trong đó có cả khu vực quần đảo Trường Sa mà họ gọi là “Nam Sa quần đảo”, nơi mà Trung Quốc, kể cả vùng lãnh thổ Đài Loan, cho đến nay đã cưỡng chiếm được 9 thực thể địa lý;

Nhưng lập trường của Trung Quốc về khái niệm "trên biển" lại không bao gồm khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa và đã chiếm đóng trái phép hoàn toàn từ năm 1974.

Đó là cách mà Trung Quốc vẫn thường xuyên sử dụng để áp đặt, mặc cả trong đàm phán ngoại giao. 

Như vậy, có thể thấy lập trường của hai bên về phạm vi áp dung cho giải pháp “cùng khai thác trên biển” còn cần phải được cụ thể hóa bằng các cuộc đàm phán cấp chuyên viên.

Và chắc chắn điều này sẽ không dễ dàng thống nhất được một sớm một chiều, nếu Trung Quốc vẫn cố tình bám giữ yêu sách “lưỡi bò”. 

Như vậy, không thể nói Việt Nam đã “dính bẫy” mà Trung Quốc đã giăng ra trong Biển Đông. 

Tuy nhiên, như mọi người đều đã biết, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó, đàm phán ngoại giao song phương hoặc đa phương là biện pháp ưu tiên hàng đầu. 

Trong quá tình đàm phán hòa bình, Việt Nam cũng đã từng chủ động đề xuất áp dụng các giải pháp tạm thời có tính thực tiễn và hợp lý để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đàm phán, từng bước tìm được giải pháp cơ bản, lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được.  

Tất nhiên cũng phải tùy theo khu vực và tính chất tranh chấp để áp dụng các giải pháp tạm thời thích hợp nhất, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, chẳng hạn:

Trong cuộc đàm phán từ ngày 3 đến 5/6/1992, Việt Nam và Malaysia đã ký văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung khu vực biển chồng lấn rộng 2.800 km2 trong vịnh Thái Lan (gọi tắt là MOU). 

Nội dung chủ yếu của MOU là, hai bên đã xác định chính thức tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa mà phía Việt Nam và phía Malaysia đưa ra, quy định hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn này theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất. 

Thỏa thuận cũng nêu rõ, nếu như có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực chồng lấn và một phần nằm trên thềm lục địa của Việt Nam hoặc Malaysia thì hai bên sẽ thỏa thuận cùng thăm dò khai thác. 

alt

Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông?

Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tại khu vực chồng lấn, thì hai bên cũng có thỏa thuận về quản lý hải quan, thuế, biên phòng…  

Với Indonesia, Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận hoạch định ranh giới thềm lục địa và hiện hai nước đang tiến hành đàm phán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Việt Nam cũng đã từng chủ động đề nghị áp dụng giải pháp hợp tác cùng khai thác trước khi nhất trí xác định được ranh giới cuối cùng của vùng đặc quyền kinh tế, tuy nhiên, hai bên vẫn chưa đạt được đồng thuận.

Trở lại vấn đề hợp tác cùng khai thác giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc có vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách của đôi bên trong hoạch định vùng biển theo đúng với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và hai bên đã đề cập sẽ có sự hợp tác khai thác chung ở khu vực chồng lấn này. 

Trong đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã từng thỏa thuận áp dụng giải pháp hợp tác trong vùng đánh cá chung chứ không phải bây giờ mới đề cập. 

Mặc dù đã thống nhất được đường phân định, nhưng vì lý do chiếu cố đến lợi ích của ngư dân của đôi bên trong quá trình chuyển đổi nghề, nên hai bên đã đồng ý xác định một khu vực gọi là “khu vực đánh cá tạm thời, quá độ”. 

Cũng trên tinh thần đó, ngành dầu khí hai nước cũng đã ký gia hạn thỏa thuận cùng nhau hợp tác thăm dò, khai thác mỏ dầu vắt ngang qua đường phân định biên giới tại vịnh Bắc Bộ. 

Đối với tranh chấp Biển Đông, ngày 23/9/2013, tờ Inquirer của Philippines, đăng bài viết của John Nery, một trong 15 nhà báo ASEAN phỏng vấn Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Trong đó ông Lý Hiển Long có đưa ra một số bình luận đáng chú ý khi cho rằng: tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông “chỉ có thể quản lý, không thể giải quyết”, đồng thời ông kêu gọi các bên tranh chấp cùng khai thác nguồn tài nguyên trên Biển Đông. 

Xuất phát từ lợi ích khu vực trong tình hình hiện nay, tuyên bố này xét về phương diện chính trị, ngoại giao là hợp lý. 

Nhưng đi sâu về mặt pháp lý, vấn đề đặt ra là hợp tác khai thác như thế nào, ở đâu, và áp dụng cho loại tranh chấp nào?  

Bởi vì, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, không có chuyện vùng đặc quyền kinh tế hay vùng thềm lục địa được xác lập hợp pháp, chính đáng, rõ ràng theo quy định của Công ước này, lại bị nước khác, do động cơ vụ lợi, nhảy vào, cố tình tạo ra tranh chấp, rồi  bắt “cùng khai thác”, biến vùng không phải tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến không thành có.  

Chính vì thế, các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quôc đề cập tới giải pháp “hợp tác cùng khai thác” áp dụng cho khu vực ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là khả thi, vì đây là điều rất bình thường, giống như đã được áp dụng tại các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia; Việt Nam, Thái Lan và Malaysia trong vịnh Thái Lan…

alt
Sơ đồ vùng đánh cá chung,vùng quá độ. Nguồn: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao.

Như vậy cho thấy rằng, Việt Nam sẵn sàng áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” đối với những vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách dựa theo đúng quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chứ không phải đồng ý giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên toàn bộ Biển Đông.  

Liên quan đến giải pháp tạm thời theo nguyên tắc Status- quo, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã vận dụng thành công giải pháp tạm thời này cho quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa 2 nước:

Năm 1991, sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được khôi phục, trước khi mở ra các vòng đàm phán về biên giới, lãnh thổ trên đất liền, hai bên đã ký “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới” theo nguyên tắc quản lý biên giới theo tình hình thực tế, giữ nguyên mốc giới hiện có (nguyên tắc Status-quo). 

Trong quá trình đàm phán về biên giới trên bộ, hai bên cũng đã vận dụng nguyên tắc này để xử lý thỏa đáng những khu vực biên giới trên bộ còn có nhận thức khác nhau, nhằm phục vụ cho nhu cầu hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. 

Thỏa thuận khai thông đường sắt liên vận Đồng Đăng – Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu là một ví dụ điển hình, sinh động về cách thức áp dụng nguyên tác này với danh nghĩa là một  giải pháp tạm thời:

Trước khi thống nhất được đường biên ở khu vực biên giới còn có nhận thức khác nhau này, Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết một nhu cầu rất thiết yếu về kinh tế, kỹ thuật. 

Đó là làm sao khai thông tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường, nối Lạng Sơn của Việt Nam với khu vực tự trị Choang- Quảng Tây, Trung Quốc.

Tuyến đường này đi qua Hữu Nghị Quan, thuộc khu vực 249C, là khu khu vực Việt Nam và Trung Quốc có nhận thức khác nhau về mặt pháp lý, từng xảy ra đụng độ đẫm máu. 

Lịch sử bảo vệ, quản lý tại thực địa ở đây khiến việc đàm phán không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều.

Trong khi đó, nhu cầu khai thông tuyến đường sắt liên vận sau khi hai nước khôi phục quan hệ là rất cần thiết.

Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế, dân sinh của mỗi nước, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng vừa trải qua một cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt. 

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra làm sao có thể khai thông được khi mà tuyến đường sắt liên vận này phải đi qua khu vực tranh chấp về biên giới, lãnh thổ chưa được giải quyết? 

Trong khi Trung Quốc từ lâu tìm cách khẳng định đường biên giới đi qua “điểm nối ray”, còn Việt Nam cho rằng đường biên giới phải đi qua “nhà mái bằng”, ngôi nhà bảo vệ thiết bị thông tin kết nối đường sắt.

Hai điểm này cách nhau 300 mét.

Đại diện đàm phán hai nước, với tinh thần khách quan, cầu thị, đã thẳng thắn khẳng định đường biên giới chủ trương của cả Trung Quốc và Việt Nam thể hiện trong khu vực này là  không hoàn toàn chuẩn xác, không thể đi qua vị trí mà Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn. 

Vì thế hai bên cần phải đàm phán để tìm ra một đường biên giới mới mà cả hai nước có thể chấp nhận. Trong khi đàm phán hoạch định biên giới theo thỏa thuận, hai bên nên thống nhất chọn một giải pháp tạm thời, mang tính kinh tế, kỹ thuật, để khai thông tuyến đường sắt liên vận. 

Giải pháp tạm thời này không làm ảnh hưởng đến việc hoạch định hướng đi của đường biên giới mới tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận “đóng băng” khu vực 300 mét này, tức là khi con tàu chạy từ phía Việt Nam đến “điểm nối ray” và từ phía Trung Quốc đến vị trí “nhà mái bằng” thì dừng lại, để các lực lượng quản lý nhà nước của hai bên rời khỏi tàu. 

Trên tàu chỉ còn các chuyên gia kỹ thuật, lái tàu và nhân viên phục vụ hàng hóa ở lại làm nhiệm vụ chuyên môn, dịch vụ. 

Vì vậy, hai nước ký biên bản khai thông đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu ngay trong dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị Trung Quốc cuối năm 1995. 

Thiết nghĩ, đó là một bài học để có thể nghiên cứu áp dụng cho những khu vực tranh chấp có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ trên biển.

Và, chính trong Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), các bên tham gia cũng đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng thêm sự chiếm đóng, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình…cũng đã vận dụng tốt nguyên tắc Status-quo rồi. 

Tất nhiên, điều tối quan trọng khi sử dụng những giải pháp tạm thời này là cần phải khẳng định rằng chúng không làm ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế. 

Tuy vậy, các bên vẫn có quyền (và cần thiết) bảo lưu quan điểm về chủ quyền của mình đối với các thực thể địa lý mà mình đã tuyên bố có chủ quyền để phục vụ cho một kênh giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình đối với các thực thể địa lý này, khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận tổ chức thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý nhất định./.

Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội-2008.

-Thục Minh , “Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và luật pháp quốc tế”. Báo Thanh Niên Online, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121203/giai-quyet-tranh-chap-bang-thuong-luong-va-luat-phap-quoc-te.aspx -Luật quốc tế, đề cương Giáo trình , Học viện Quan hệ quốc tế, 1978.

- Steven R. Ratner, The New UN Peacekeeping: Building Peace in Lands of Conflict After the Cold War, Nhà xuất bản St. Martin's (1996).

- Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung  Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).

- Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN (Nghiên cứu Biển Đông,17/03/201) Biendong.net - TQ "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông không  -biendong.net/.../9364-tq-gac-tranh-chap-cung-khai-thac-bien-dong... Sep 27, 2016.

- Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG (Nghiên cứu Biển Đông, 15/03/2010).

- AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.".

-  Trần Công Trục: “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, năm 2012.

-TS  Đặng Đình Quý: “Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2015.

- Hợp tác cùng phát triển - giải pháp có tính thực tế tạm thời – QĐ , www.baomoi.com › Xã hội › Thời sự ,Oct 29, 2013.

- Nghĩa vụ trong vùng biển chồng lấn thềm lục địa ... - Luật pháp Quốc tế- https://iuscogen.wordpress.com/.../nghia-vu-trong-vung-bien-chong lấn...

- Bàn về khả năng hợp tác cùng phát triển ở - Petrotimes - petrotimes.vn/ban-ve-kha-nang-hop-tac-cung-phat-trien-o-bien-do... Nov 14, 2013.

- TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/12/18/4186/ Dec 18, 2009.

- 100 câu Hỏi - Đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. www.vnmilitaryhistory.net.

TS Trần Công Trục
]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 23 May 2017 10:01:42 +0000
"Gác tranh chấp, cùng khai thác” trên Biển Đông đang trở thành hiện thực? http://seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/vietnam-arguments/4345-2017-05-23-10-02-07 http://seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/vietnam-arguments/4345-2017-05-23-10-02-07

Dự luận đang bàn tán xôn xao về việc Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte thứ Ba tuần trước 16/5/ tuyên bố, nước ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông.

Đồng thời tuần qua cũng có một vấn đề khác rất thu hút sự chú ý, mà dư luận coi là có nội dung tương tự đã thể hiện tại điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc, nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang: “… tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…”.

Đã có nhiều nhận định, đánh giá ở những thái cực khác nhau: có người lạc quan, tin tưởng rằng đó là những tuyên bố thích hợp, hiện thực và đúng đắn; 

Nhưng cùng với đó cũng không ít người hết sức quan ngại, thậm chí bất bình vì họ cho rằng những tuyên bố này chỉ có lợi cho Trung Quốc, thậm chí đã “quy phục” Trung Quốc…

Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi xin được đề cập và phân tích một số nội dung có liên quan sau đây:

1. Giải pháp tạm thời dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế

1.1.Giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán phân định khu vực chồng lấn tạo ra bởi các vùng biển được xác lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

“Hợp tác phát triển (khai thác) chung” là giải pháp tạm thời có tính thực tiễn để giúp giải quyết loại tranh chấp trong việc hoạch định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn. 

alt
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Tại Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, qui định về việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia ven biển nằm kề hoặc đối diện nhau đã ghi rõ: 

“Trong khi chờ ký kết thỏa thuận nói ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. 

Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng.” (Khoản 3).

Trong thực tế, vận dụng quy định này của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, các quốc gia ven biển đã thỏa thuận áp dụng giải pháp “hợp tác phát triển ( khai thác) chung” (Joint-development) ở vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. 

Khi áp dụng giải pháp này, các bên đều vận dụng, trên cơ sở phải tuân thủ các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của mình. 

Nếu tạo ra vùng chồng lấn thì các bên liên quan cần đàm phán để hoạch định ranh giới trong phạm vi vùng chồng lấn đó. 

Trong khi đàm phán, nếu như chưa thống nhất được ranh giới cuối cùng, thì các bên có thể áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” các vùng biển chồng lấn.

Như vậy, nếu yêu sách ranh giới biển và thềm lục địa nào không dựa vào các tiêu chuẩn của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 thì đương nhiên không được xem xét để áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” có giá trị thực tiễn và tiến bộ này. 

Chẳng hạn, đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra không phù hợp với bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, đã bị cộng đồng quốc tế lên án và bị Phán quyết Trọng tài 12/7/2016 phủ quyết.

Cho dù Trung Quốc đã chính thức công bố, hợp thức hóa yêu sách này, cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn được tạo ra bởi con đường “hoang tưởng” này. 

1.2. Giải pháp tạm thời áp dụng cho quá trình giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ và phân định biên giới quốc gia trên đất liền

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 không quy định áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” cho tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ giữa các quốc gia. 

Đây là một loại tranh chấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này.

Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành, giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ hay phân định biên giới quốc gia trên đất liền thường được vận dụng là “giữ nguyên hiện trạng”. 

Thực chất, đây chính là nguyên tắc Status- quo.

alt

COC là Bộ Luật Biển khu vực?

Nguyên tắc này đã được vận dụng khá phổ biến trong luật pháp và thực tiễn quốc tế nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình giải quyết những tranh chấp giữa các bên trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội…

Với tư cách là một giải pháp tạm thời, trung gian, có tính thực tế, giải pháp này không làm ảnh hưởng hay có tác động gì đến kết quả của quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. 

Tuy nhiên trong thực tiễn, cách hiểu và vận dụng nguyên tắc này như thế nào vẫn còn là vấn đề khá phức tạp, nhiều khi còn tồn tại những nhận thức khác nhau...

Đặc biệt là những quan hệ pháp lý, chính trị nhạy cảm có liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia. 

Chính vì vậy khi triển khai ký và thực hiện các thỏa thuận đó, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc và tính toán rất kỹ và thận trọng. 

Nếu không sẽ bị mắc bẫy, bị rơi vào những tình huống bất lợi khó có thể khắc phục được, nhất là trên phương diện pháp lý.  

2. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” - cạm bẫy pháp lý của Trung Quốc

2.1. “Cạm bẫy pháp lý” được giăng như thế nào?

Quá trình tiến xuống phía Nam, độc chiếm Biển Đông nhằm thực hiện chiến lược vươn lên trở thanh siêu cường quốc tế trong tranh chấp địa-chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, Trung Quốc đã tính toán sử dụng nhiều biện pháp, thủ thuật, thủ đoạn khác nhau, lúc “cứng”, lúc “mềm”…

Song song với biện pháp sử dụng sức mạnh để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào những thời điểm khác nhau của thế kỉ trước, Trung Quốc đã tính toán sử dụng các biên pháp “mềm”, rất tinh vi và nguy hiểm. 

Một trong những biện pháp đó là việc họ đã đề xuất giải pháp “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” được ông Đặng Tiểu Bình nêu ra từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20. 

Trong suốt hơn 40 năm qua, “gác tranh chấp, cùng khai thác" đã trở thành một chủ trương lớn trong triển khai chiến lược biển của Trung Quốc. 

Họ luôn tìm mọi cách để áp đặt ý tưởng và chủ trương này đối với các nước láng giềng. 

Đối với Biển Đông, từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã lần lượt nêu ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” với Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia…

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ tháng 11 năm 1991, Trung Quốc cũng đã nhiều lần đề cập với Việt Nam về chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Tuy nhiên, ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc không được đa số các nước ASEAN hưởng ứng, do các nước đều hiểu rõ bản chất của ý tưởng này là:

Biến khu vực không tranh chấp thành vùng tranh chấp để thực hiện “cùng khai thác” tại vùng biển và thềm lục địa của các nước khác nằm trong phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”.

Để tranh thủ sự ủng hộ của các nước ASEAN, Trung Quốc đã nhiều lần điều chỉnh câu chữ của ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác”. 

Ban đầu là “chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác”, sau đó thì rút gọn lại là “gác tranh chấp, cùng khai thác” và gần đây là “khai thác chung” hay “cùng khai thác”. 

Hơn thế nữa, Trung Quốc đang muốn đánh đồng đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” với giải pháp tạm thời  “cùng phát triển (khai thác)”vùng biển chồng lấn, có ý nghĩa thực tế theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Bển năm 1982.

Bằng cách đánh tráo các khái niệm này, họ âm mưu áp dụng cho hầu như toàn bộ khu vực Biển Đông nằm trong yêu sách “đường lưỡi bò”. 

alt
Ông Đặng Tiểu Bình, người đưa ra chủ thuyết "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác", ảnh: news.china.com.

Rõ ràng, quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc đã vượt qua mọi quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Thậm chí ý tưởng "gác tranh chấp, cùng khai thác" theo cách hiểu của Trung Quốc, hoàn toàn không có trong các án lệ của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến vấn đề giải quyết các tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, quần đảo trên biển.

Mặc dù luôn luôn khẳng định chủ trương “cùng khai thác” không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, song ý đồ sâu xa của Trung Quốc là muốn thông qua “cùng khai thác” để hợp pháp hóa các yêu sách phi lý và phi pháp của mình trong Biển Đông. 

Họ còn muốn dùng vấn đề “cùng khai thác” để phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế. 

Thời gian qua, Trung Quốc luôn lớn tiếng rằng “cùng khai thác” là biện pháp duy nhất để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. 

Trung Quốc cho rằng đề xuất này thể hiện thiện chí to lớn của phía Trung Quốc, có cơ sở pháp lý, không đụng chạm đến quan điểm của mỗi bên về vấn đề chủ quyền.

Họ lập luận "gác tranh chấp, cùng khai thác" có tính xây dựng, thực tế và tính khả thi nhất, tạo điều kiện cho các bên khai thác tài nguyên phát triển kinh tế, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác, cũng như góp phần giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định trên biển… 

Thực tế cho thấy trong triển khai chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”, Trung Quốc vừa nhằm duy trì và củng cố yêu sách mở rộng phạm vi biển theo đường "lưỡi bò” trong Biển Đông, tranh đoạt được tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng.

Đồng thời họ còn nhắm mục tiêu giữ được bộ mặt “hòa bình”, tranh thủ dư luận, tăng cường ảnh hưởng chinh trị đối với khu vực, hạn chế vai trò của các cường quốc khác. 

Như vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng  khai thác” của Trung Quốc  chỉ là một “cạm bẫy” pháp lý cực kỳ nguy hiểm. 

2.2.  Cảnh giác để không dính bẫy "gác tranh chấp cùng khai thác" của Trung Quốc.

Đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra xuất phát từ tham vọng độc chiếm Biển Đông, không dựa vào bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

alt

Vùng chồng lấn, vấn đề hoạch định ranh giới biển và thực tiễn Việt Nam

Mặc dù Trung Quốc chính thức công bố, yêu sách này cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” trong vùng chồng lấn được tạo bởi con đường “hoang tưởng” này.  

Thực chất, ngoài khu vực Trường Sa, các khu vực Trung Quốc muốn “cùng khai thác” với các nước liên quan đều là các khu vực nằm trong phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa hợp pháp của các nước có tiềm năng dầu khí và không có tranh chấp.

Do vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” này của Trung Quốc không thể chấp nhận được, chí ít là về nguyên tắc. 

Nếu chấp nhận đề xuất của Trung Quốc, dù chỉ là trên nguyên tắc chung chung, thì chúng ta cũng dễ mắc vào cạm bẫy của Trung Quốc, sẽ đưa chúng ta vào một ván bài mà họ đã sắp sẵn hòng đạt được ý đồ chiếm đến trên 80% diện tích Biển Đông; 

Trước mắt là họ muốn biến yêu sách “đường lưỡi bò” vô lý trở thành yêu sách chính thức với sự chấp thuận của các bên tranh chấp trong Biển Đông. 

Nếu được như vậy, Trung Quốc đã “biến hóa” một yêu sách đơn phương vô lý, hoang tưởng, thiếu cơ sở, trở thành một yêu sách được các bên mặc nhiên thừa nhận. 

Nếu không cảnh giác và tỉnh táo trong khi phát biểu, đàm phán, thỏa thuận với Trung Quốc thì dễ mắc cạm bẫy của Bắc Kinh. Từ đó, họ sẽ khai thác những sơ hở có thể xảy ra trong bất kỳ một diễn đàn nào để kiên trì đòi chấp thuận yêu sách vô lý của mình.  

Mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi tiếp phần 2: Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Ts Trần Công Trục
]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 23 May 2017 10:00:32 +0000
Cách ứng xử nào cho Biển Đông? http://seasfoundation.org/articles/from-members/4272-2016-12-30-01-57-44 http://seasfoundation.org/articles/from-members/4272-2016-12-30-01-57-44 Tàu Coconut Princess đưa khách ra Hoàng SaImage copyrightXINHUA
Image captionTàu Coconut Princess đưa khách ra Hoàng Sa

Báo Giáo dục vừa đăng bài của TS Trần Công Trục bình luận về bài "Philippines phá hư thế trận Biển Đông" của tôi. Trong bài này, tôi sẽ bàn về những vấn đề hữu quan.

Đàm phán là không đủ

Trước hết, cần khẳng định rằng việc đàm phán với Trung Quốc tuy cần thiết nhưng không đủ cho việc bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền Việt Nam.

Thí dụ, do Trung Quốc khăng khăng rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa, không có cửa ngỏ cho việc đàm phán. Trong trường hợp này, Việt Nam cần phải đấu tranh. Như một thí dụ khác, khi Trung Quốc đòi quyền lợi bên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trong những khu vực Nam Côn Sơn, Tư Chính, vv, vì đòi hỏi đó hoàn toàn vô lý, Việt Nam cũng không thể đàm phán. Trong trường hợp này, Việt Nam cần phải phải kháng cự.

Philippines phá hư thế trận Biển Đông

Việt Nam 'cô độc trước Trung Quốc'

Việt Nam cải tạo đường băng ở Trường Sa

Ngay cả đối với những vấn đề được đàm phán, Trung Quốc sẽ chèn ép Việt Nam và đàm phán có thể bị bế tắc, cho nên Việt Nam vẫn phải củng cố khả năng để kháng cự và đấu tranh vì có thể sẽ cần.

Do đó, dù có đàm phán hay tiến đến đàm phán trong một số lãnh vực, đối sách của Việt Nam không thể thiếu hai yếu tố kháng cự và đấu tranh. Đấu tranh và kháng cự không phải là duy ý chí hay không biết người biết ta, mà là vì sự ngang ngược của Trung Quốc không để cho Việt Nam lựa chọn nào khác nếu muốn bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền.

Cần sự ủng hộ của thế giới

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte khai trương tàu tuần tra do Nhật Bản chế tạo cho hải quân nước nàyImage copyrightREUTERS
Image captionTổng thống Philippines khai trương tàu tuần tra do Nhật Bản chế tạo cho hải quân nước này

Với tương quan thực lực Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam cần tăng cường và bổ sung cho khả năng kháng cự và đấu tranh bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, và đặc biệt là của Mỹ.

"Ủng hộ" ở đây không có nghĩa Việt Nam dựa vào Mỹ, không có nghĩa Mỹ hy sinh xương máu cho Việt Nam. Do đó các luận điểm của TS Trần Công Trục như dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc có thể sẽ trả giá đắt, Mỹ không sẵn sàng hy sinh xương máu cho Việt Nam, không phải là phản biện về sự ủng hộ tôi nói đến. Cần lưu ý rằng "ủng hộ" đa dạng hơn và tế nhị hơn "hy sinh xương máu" rất nhiều, và sự ủng hộ phi xương máu có thể có hiệu quả hơn cả hy sinh xương máu.

Không nên xem vấn đề là dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc, vì vấn đề là tận dụng yếu tố quốc tế và Mỹ nhằm bổ xung cho khả năng tự vệ.

Cũng cần lưu ý rằng Trung Quốc ráo riết tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Nếu đến việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới mà Việt Nam còn quan ngại rằng nó sẽ "tạo cho Trung Quốc cái cớ để độc chiếm Biển Đông", thì điều đáng quan ngại chính là Việt Nam sẽ ngày càng mất thêm vì quá thụ động.

Tất nhiên nếu các nước nhỏ trong tranh chấp có cùng một quan điểm trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới thì sẽ hữu hiệu hơn trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Cần gác mâu thuẫn để đoàn kết

TS Trục cho rằng khả năng tạo lập thế trận đoàn kết giữa các nước nhỏ trong bối cảnh hiện nay là không cao. Tất nhiên hiện nay khả năng này là không cao. Tôi đã nói rằng thế trận đó đã bị phá hư từ khi còn phôi thai.

Nhưng nỗ lực và các thành tích của Việt Nam và Philippines trong việc xây dựng sự đoàn kết trong những năm qua cho thấy trên nguyên tắc việc đó là khả thi. Dù là hai nước Đông Nam Á có mâu thuẫn lớn nhất ở Trường Sa, Việt Nam và Philippines đã là hai nước đoàn kết nhất. Dù Việt Nam và Malaysia cũng có mâu thuẫn về Trường Sa, việc hai nước nộp đệ trình chung về thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa UNCLOS cũng cho thấy trên nguyên tắc việc xây dựng sự đoàn kết là khả thi.

Ngoài ra, luận điểm "giữ gìn hòa bình và ổn định cho Biển Đông" không phải là hợp lý để phản biện chủ trương xây dựng sự đoàn kết đó. Khó cho rằng những nỗ lực như trên không phải là giữ gìn hòa bình và ổn định trong cho Biển Đông.

Giữ gìn hòa bình và ổn định?

Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận BìnhImage copyrightAFP
Image captionLãnh đạo Việt-Trung tuyên bố tiếp tục làm sâu quan hệ

Không người Việt nào không muốn hòa bình và ổn định cho Biển Đông, nhưng vấn đề là Trung Quốc có chủ trương phá vỡ chúng, và chúng ta nên làm gì để phòng chống. Khả năng Trung Quốc manh động sẽ cao hơn nếu các nước nhỏ trong tranh chấp không đoàn kết dựa trên một nền tảng chung nào đó, và nếu thế giới không có nhiều quan tâm đến Biển Đông. Trước một Trung Quốc muốn xâm lấn, việc Việt Nam bổ xung cho khả năng kháng cự bằng cách vận động sự ủng hộ của thế giới chính là giữ gìn hòa bình và ổn định.

Ngoài ra, cần cân bằng luận điểm của TS TC Trục về giảm tối đa việc "tạo ra những cái cớ Trung Quốc mong muốn [để manh động]" bằng truyện Sói và Cừu của La Fontaine. Sói không cần cừu tạo ra những cái cớ; cừu có giảm tối đa việc "tạo ra những cái cớ" cũng vẫn chết dưới tay sói. Trung Quốc bắt thiết bị ngầm của Mỹ, xây đảo nhân tạo, đặt giàn khoan HD 981, cắt cáp tàu Bình Minh và Viking, đuổi ExxonMobil và BP, chiếm đá Vành Khăn, ký hợp đồng với Crestone về bãi Tư Chính, chiếm những đảo ở Trường Sa, chiếm Hoàng Sa, có cần nước nào tạo ra những cái cớ?

Phán quyết Trọng tài

TS Trần Công Trục phản biện rằng rằng tuyệt đối hóa vai trò của Phán quyết, xem nó như chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề, là không phù hợp với thực tế. Nhưng điều tôi nói là phán quyết là cơ hội vàng cho các nước nhỏ trong tranh chấp, và điều đó khác với "tuyệt đối hóa" hay "chìa khóa vạn năng".

TS Trục cho rằng vấn đề kế tiếp và quan trọng nhất là làm thế nào để thực hiện được Phán quyết, và ông trả lời rằng gác phán quyết sang một bên để đối thoại và đàm phán là phù hợp hơn cả.

Nhưng sẽ ngây thơ nếu tin rằng đối thoại và đàm phán có thể dẫn đến việc thực hiện được Phán quyết. Nếu trong trong tranh chấp và đàm phán Trung Quốc tung ra hành động và yêu sách đi ngược với phán quyết thì Philippines và Việt Nam phải làm gì? Sẽ chấp nhận một phần yêu sách của họ? Không thể được. Sẽ thuyết phục được họ từ bỏ yêu sách và chấm dứt hành động, không tái phạm? Không khả thi.

Do đó, chúng ta không nên nghĩ về Phán quyết như một mục đích, kiểu "làm sao để thực hiện được nó". Thay vào đó, nên nghĩ về nó như một phương tiện, kiểu "làm sao để vận dụng nó để hỗ trợ công cuộc phòng chống những bước xâm lấn kế tiếp từ Trung Quốc". Nếu gác Phán quyết sang một bên thì đó là gác sang một bên một phương tiện có lợi cho Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Indonesia.

Tất nhiên Philippines không hủy bỏ Phán quyết, nhưng vấn đề là khi đến ngày nào đó họ đem nó ra đặt vấn đề với Trung Quốc và để kêu gọi sự ủng hộ của thế giới thì lúc đó có thể không còn thời cơ nữa.

Cách ứng xử của Duterte

TS Trục cho rằng ông Duterte "đã rất khéo léo nếu không muốn nói là 'tinh quái'"" trong ứng xử với hai siêu cường Mỹ-Trung để "tối đa hóa lợi ích cho đất nước".

Tôi nghĩ không thể cho cách ông Duterte ứng xử với Mỹ là khéo léo hay tinh quái. Không nước nào muốn trung lập giữa hai siêu cường lại ứng xử như thế. Ông Duterte cũng khó có thể "tinh quái" đủ để "chơi trên" Trung Quốc và Mỹ.

Về ông có tối đa hóa lợi ích cho Philippines hay không, tôi xin trích lời cựu Ngoại trưởng Philippines Abert del Rosario:

"Sự thay đổi trong chính sách ngoại giao mà [Tổng thống Duterte] tuyên bố, bỏ qua một bên một đồng minh lâu đời và đáng tin cậy để ôm lấy một cách hấp tấp một nước láng giềng hung hăng vốn bác bỏ luật quốc tế một cách kịch liệt, vừa không khôn ngoan, vừa không thể hiểu được."

Ông cũng cho rằng:

"Hiện nay chúng ta có vẻ như đang trên đường đi đến việc từ bỏ những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được [trong Phán quyết] cho lợi ích của nhân dân chúng ta."

Ngay cả cựu Tổng thống Fidel Ramos, người được ông Duterte chọn làm sứ giả đặc biệt với Trung Quốc, đã hỏi:

"Chẳng lẽ chúng ta vứt bỏ một cách dễ dàng như thế hàng chục năm là đối tác quân sự [với Mỹ], sự thành thạo chiến thuật, vũ khí tương thích, hậu cần đáng tin cậy, tình đồng đội giữa những người lính [Mỹ và Philippines]? Tổng thống Duterte nói thì chúng ta làm?"

Tổng thống Rodrigo DuterteImage copyrightREUTERS

Ông còn viết trên báo rằng ông Duterte "tự bắn súng vào miệng mình và vào cả miệng tất cả chúng ta, 101.5 triệu người Philippines".

Khi tôi đưa ra quan điểm cho rằng cách ứng xử của ông Duterte là quy phục Trung Quốc, và nếu Việt Nam theo cách ứng xử đó thì cũng là quy phục Trung Quốc, TS Trục phản biện bằng cách nhắc về cách ứng xử của vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông với nhà Nguyên.

Nhưng cách ứng xử như của ông Duterte rất khác với cách ứng xử của hai vị vua này cho nên, theo ý tôi, không thể dùng cách của họ để biện minh cho cách như của ông.

Tương tự, dù có khi đối sách của Việt Nam được ví với của hai vị vua này, lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cần luôn luôn tự xét xem trong tranh chấp Biển Đông khả năng lèo lái của họ có giống của vua Tự Đức hơn không.

Bài phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, nhà nghiên cứu hiện sống tại Anh quốc.

http://www.bbc.com/vietnamese/forum-38461201

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Fri, 30 Dec 2016 01:57:44 +0000