Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông non profit organization http://www.seasfoundation.org/component/content/frontpage Tue, 17 Oct 2017 02:00:53 +0000 Joomla! 1.5 - Open Source Content Management vi-vn ‘Cuộc chiến’ bản đồ trước Trung Quốc http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4476-cuc-chin-bn--trc-trung-quc http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4476-cuc-chin-bn--trc-trung-quc

Mặc dù từ năm 1947, Trung Quốc (TQ) đã cho vẽ đường chữ U chiếm gần 75% diện tích biển Đông nhưng “quyết tâm thôn tính” rõ nhất của quốc gia này là trong 10 năm trở lại đây. Cụ thể năm 2007, TQ quy định tất cả bản đồ TQ phải vẽ “đường chín đoạn” (đường chữ U) và từ năm 2012 cho in đường này trên hộ chiếu TQ.

Vì vậy suốt hơn 10 năm nay, có thể nói một phần công việc bảo vệ chủ quyền của người Việt xoay quanh “cuộc chiến” với các bản đồ thể hiện đường chữ U trên biển Đông và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của TQ. Điều này đã mang lại những hiệu quả tích cực và có ý nghĩa không nhỏ trong cuộc đấu tranh trước tham vọng bành trướng của TQ trên biển Đông.

Xuất hiện trên các bản đồ, quả địa cầu thương mại

Cụ thể, gần đây các bản đồ, quả địa cầu sản xuất từ TQ đều có đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của TQ. Theo đó, các sản phẩm trên sẽ được xuất khẩu qua các nước khác và một cách vô tình được trưng bày hay bày bán tại nhiều địa điểm quan trọng.

Việc đẩy mạnh tuyên truyền và thể hiện “bản đồ chữ U”, ghi “Tây Sa”, “Nam Sa” là của TQ gieo vào tâm lý mọi người trên thế giới quan điểm sai lầm rằng: “Hoàng Sa, Trường Sa của TQ và đường chữ U là một điều bình thường”. Năm này qua năm khác, quan điểm và ấn tượng sai lầm đó sẽ trở thành kiến thức phổ thông trên thế giới. Đó là điều mà chúng ta cần phải lưu ý, phản đối khi có thể đến các điểm bán hoặc trưng bày các bản đồ, quả địa cầu đó.

Mới đây ngày 6-9, người viết bài này đã gửi thư cho Bảo tàng Hoàng gia Greenwich, một bảo tàng danh giá tại Vương quốc Anh, khi thấy có quả địa cầu bày bán tại bảo tàng có đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa bằng tiếng TQ chứ không phải một ngôn ngữ trung tính là tiếng Anh.

‘Cuộc chiến’ bản đồ trước Trung Quốc - ảnh 1
Quả địa cầu áp đặt đường chữ U và ghi quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa bằng tiếng TQ tại Bảo tàng Hoàng gia Greenwich  (Anh). Ảnh: Trung Tĩnh. 

Lá thư đã nêu rõ dưới quan điểm quốc tế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những đối tượng đang tranh chấp giữa Việt Nam và các nước trong khu vực, trong đó có TQ. Do đó, việc ghi tên hai quần đảo này trên một sản phẩm cung cấp bởi một bên thứ ba nên bằng một ngôn ngữ trung tính (tức tiếng Anh) để không vô tình thiên vị cho một bên nào trong tranh chấp. Đó cũng là điều mà một địa chỉ uy tín như Bảo tàng Hoàng gia Greenwich không mong muốn.

Lá thư gửi đến bảo tàng cũng chỉ ra sự phi pháp của đường chữ U, nguyên nhân gây ra căng thẳng và tranh chấp trong khu vực. Vào ngày 12-7-2016, tòa trọng tài thuộc Tòa Thường trực trọng tài ở The Hague đã tuyên bố TQ không có bất cứ căn cứ pháp lý hay lịch sử nào để có thể tuyên bố chủ quyền lịch sử đối với vùng biển bên trong đường chữ U. TQ mặc dù vậy vẫn không chấp nhận phán quyết của tòa và tiếp tục cho in đường chữ U trên các bản đồ của mình và xuất ra trên toàn thế giới.

Lá thư đề nghị bảo tàng có hành động phù hợp với mong muốn các sản phẩm của bảo tàng sẽ cung cấp cho người mua những thông tin chính xác về địa lý và lịch sử cho thế hệ hiện tại và tương lai. Đó cũng chính là sứ mệnh mà bảo tàng theo đuổi.

Ngay sau đó Bảo tàng Hoàng gia Greenwich đã phản hồi tích cực, thông báo sẽ không mua loại quả địa cầu đó nữa. Trong phản hồi của mình, phía bảo tàng cho thấy họ đã không biết được sự tồn tại của các bản đồ và quả địa cầu có thông tin sai lệch như vậy. Tiếp đó, khi được giải thích một cách cụ thể, họ đã không ngần ngại đứng về bên của lẽ phải và công pháp quốc tế. Điều đó cho thấy sự cần thiết của việc lên tiếng một cách duy lý và ôn hòa để những quan điểm và ấn tượng sai lầm mà TQ đang áp đặt không trở thành một điều mà ai cũng dễ dàng chấp nhận.

‘Cuộc chiến’ bản đồ trước Trung Quốc - ảnh 2
Sau khi gửi thư phản ánh những thông tin sai lệch, Bảo tàng Hoàng gia Greenwich (Vương quốc Anh) cho hay sẽ không mua loại quả địa cầu áp đặt đường chữ U và ghi quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa bằng tiếng TQ. Ảnh: TRUNG TĨNH

‘Cuộc chiến’ bản đồ trước Trung Quốc - ảnh 3
Cơ quan chức năng đang tiêu hủy các ấn phẩm vi phạm chủ quyền Việt Nam. Ảnh: NGUYỄN TRI

Len vào tạp chí khoa học lẫn Google Maps

Trước đó, vào năm 2011, anh Lê Văn Út, khi đó đang làm tiến sĩ toán ở Phần Lan, phát hiện trong phiên bản tiếng Hoa của Google có bản đồ TQ với đường chữ U. Ngày 26-10-2011, nhiều trí thức Việt Nam trong và ngoài nước đã tham gia soạn và gửi một bức thư phản đối đến Google.

Lá thư nêu rõ đường lưỡi bò đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia Đông Nam Á, do đó đã vi phạm Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Đồng thời lá thư cũng chỉ ra rằng đường chữ U là trung tâm của các căng thẳng quốc tế nghiêm trọng ở biển Đông.

Lá thư kêu gọi Google loại bỏ đường chữ U từ các trang web Google Maps với lý do việc loại bỏ này sẽ giúp tăng cường tính trung lập chính trị và tính công bằng của Google trong các tranh chấp lãnh thổ. Nó cũng sẽ là sự đảm bảo rằng Google Maps không bị sử dụng theo cách làm trầm trọng thêm căng thẳng và bất ổn trong khu vực.

Những năm qua, các nhà khoa học TQ cũng không ngừng sử dụng các bản đồ TQ có đường chữ U trong các bài viết của họ. Do đó đường này dần xuất hiện trong các tạp chí và ấn phẩm khoa học quan trọng trên thế giới.

Trước tình hình đó, năm 2011, một loạt nhà khoa học Việt Nam trên thế giới đã gửi thư cho các tạp chí, dấy lên một làn sóng phản ứng trên thế giới.

Kiến nghị của các nhà khoa học đã được đa số nhưng cũng cần lưu ý không phải là tất cả tạp chí lắng nghe. Đỉnh cao của cuộc vận động là bài báo trên Nature viết về chủ đề này với nhận xét việc làm của TQ đã chính trị hóa, làm mất tính trong sáng và khách quan của các bài viết khoa học.

* * *

Các câu chuyện kể trên chỉ là một trong số nhiều góp ý, kiến nghị khác nhau của các cá nhân và tập thể Việt Nam trên khắp thế giới. Ngoài ra còn có thể kể đến thư kiến nghị của Hội Địa lý Việt Nam đến Hội Địa lý quốc gia Mỹ về việc tạp chí National Geographic phát hành đã ghi “China” vào khu vực quần đảo Hoàng Sa, các kiến nghị công khai địa danh biển đảo Việt Nam của TS Dư Văn Toán, các công trình nghiên cứu miệt mài về bản đồ, lịch sử và công pháp quốc tế của TS Dương Danh Huy, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân…

Đưa “chữ U” vào bản đồ Thế vận hội

Năm 2008, TQ vẽ đường chữ U và ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của TQ vào bản đồ rước đuốc Thế vận hội 2008. Anh Lê Minh Phiếu, người được Công ty Samsung chọn rước đuốc tại Việt Nam năm đó, đã gửi thư đến chủ tịch Ủy ban Thế vận hội Quốc tế để phản đối hành vi này của TQ.

Lá thư của anh Phiếu một mặt phủ nhận tính hợp pháp của đường chữ U và nhấn mạnh sự hiện diện của tranh chấp chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặt khác, lá thư đã phân tích rằng việc đưa bản đồ có lợi cho mình vào bản đồ Thế vận hội TQ (nước chủ nhà của Thế vận hội 2008) đã chính trị hóa một sự kiện thể thao lớn vốn phải tuyệt đối phi chính trị.

Trước lập luận thuyết phục đó cùng sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận, TQ đã phải gỡ đường chữ U và không ghi Hoàng Sa, Trường Sa trong bản đồ rước đuốc.

Tiêu hủy nhiều ấn phẩm thể hiện sai chủ quyền Việt Nam

Sáng 6-9, Sở TT&TT TP Đà Nẵng cho biết đã tiêu hủy 1.471 ấn phẩm vi phạm Luật Xuất bản bị phát hiện và tịch thu từ năm 2013 đến nay. Hầu hết sản phẩm này có nguồn gốc từ nước ngoài với nhiều thứ tiếng TQ, Nhật Bản, Pháp, Việt... 

Các ấn phẩm này vi phạm trong việc thể hiện địa giới hành chính Việt Nam, không thể hiện đúng chủ quyền biển đảo Việt Nam, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, chưa đăng ký giấy phép xuất bản phẩm với cơ quan chức năng...

Trong đó, những xuất bản phẩm vi phạm việc thể hiện địa giới hành chính Việt Nam đa phần là thể hiện sai và thiếu các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

TS LÊ TRUNG TĨNH (Quỹ Nghiên cứu biển Đông)
http://plo.vn/ho-so-phong-su/cuoc-chien-ban-do-truoc-trung-quoc-727785.html
]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Wed, 20 Sep 2017 08:51:33 +0000
Bảo tàng Anh thôi bán địa cầu ‘lưỡi bò’ http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4472-2017-09-14-07-45-10 http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4472-2017-09-14-07-45-10 Ông Tĩnh muốn bảo tàng thay địa cầu có Hoàng Sa và Trường Sa ghi bằng tiếng Anh và không có đường chữ U.Bản quyền hình ảnhLE TRUNG TINH FACEBOOK
Image captionÔng Tĩnh muốn bảo tàng thay địa cầu có Hoàng Sa và Trường Sa ghi bằng tiếng Anh và không có đường chữ U.

Một bảo tàng tại Anh Quốc cam kết không bán địa cầu lưu niệm có chi tiết gây tranh cãi về chủ quyền tại Biển Đông sau thư phản ánh của người Việt.

Trong thư trả lời ông Lê Trung Tĩnh, hiện sống và làm việc tại Anh, Bảo tàng Hoàng gia Greenwich hứa sẽ ngưng đặt mua thêm địa cầu được mô tả là “có đường chữ U” và ghi Hoàng Sa,Trường Sa (cách gọi của Việt Nam) theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa và Nam Sa.

Thư điện tử đề ngày 6/9/2017 chia sẻ trên Facebook cá nhân, ông Tĩnh cho rằng bảo tàng này nên chọn quả địa cầu có chú thích “trung tính” bằng tiếng Anh đối với các quần đảo hiện đang có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông cũng như tránh cái gọi là “đường chữ U” mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

“Việc bên thứ ba thể hiện lãnh thổ có tranh chấp với những tên gọi mà mỗi bên tuyên bố có chủ quyền đưa ra có thể là sự ưu ái cho bên đó.

“Tôi không nghĩ rằng đây là mục đích của Bảo tàng Hoàng gia Greenwich cũng như của các quầy hàng lưu niệm,” ông Tĩnh viết.

Ông Tĩnh nói rằng ông mong bảo tàng “nắm được vấn đề này và giải quyết vấn đề nhanh chóng.

Biển Đông: VN phản đối việc TQ tập trận

Bảo tàng Hoàng gia Greenwich hứa sẽ ngưng đặt mua thêm địa cầu được mô tả là “có đường lưỡi bò” .Bản quyền hình ảnhLE TRUNG TINH FACEBOOK
Image captionBảo tàng Hoàng gia Greenwich hứa sẽ ngưng đặt mua thêm địa cầu được mô tả là “có đường lưỡi bò” .

“Một trong những hành động chúng tôi hy vọng là sản phẩm này sẽ không được tiếp tục bày bán và bảo tàng kiểm tra độ chính xác [của sản phẩm] sau này.”

Ông cũng nói ông ấn tượng về mục tiêu của bảo tàng là “kết hợp di sản đáng tự hào về việc bảo tồn lịch sử với một sự cam kết cho sự hiểu biết tiến bộ” và qua đó hy vọng rằng “trẻ em và người lớn dùng quả địa cầu mua tại đây sẽ có hiểu biết tốt nhất về lịch sử thế giới.”

Bà Rachel Kennedy, Giám đốc Bộ phận Mua sắm của bảo tàng, trong thư trả lời ông Tĩnh, nói họ nghiêm túc giải quyết các khiếu nại chính thức và cam kết “quả địa cầu được nói tới sẽ không được đặt mua lại để bán nữa và bộ phận mua hàng đã được nghe trình bày về thư phản ánh [của ông Tĩnh] để lưu ý sao cho các quả địa cầu mang bán trong tương lai là phù hợp.”

Viết trên Facebook ngày 9/9, ông Lê Trung Tĩnh nói ông rất vui đã nhận thư trả lời của bảo tàng này.

“Tôi đi bảo tàng, nhà sách nào cũng kiếm khu vực bản đồ, địa cầu coi qua. Nếu không thấy đường chữ U và thấy Hoàng Sa và Trường Sa ghi bằng tiếng Anh [Paracels và Spratlys] thì thở phào một cái.

“Tiếc là càng ngày càng thấy nhiều đường chữ U và các tên Hoàng Sa và Trường Sa bằng tiếng Tàu hay của Tàu,” ông Tĩnh viết.

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41217582

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Thu, 14 Sep 2017 07:45:10 +0000
VNCH: thuộc địa kiểu mới hay quốc gia có chủ quyền? http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4464-2017-09-12-08-30-49 http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4464-2017-09-12-08-30-49

Việc bộ sách Lịch sử Việt Nam không gọi chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bằng "Ngụy" và việc PGS-TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sử này, trả lời phỏng vấn nhìn nhận, "Chính quyền Việt Nam Cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam", đã nhận được nhiều sự quan tâm của báo chí và dư luận.

Có ý kiến cho rằng đó là một sự tiến bộ lớn trong lãnh vực hòa hợp hòa giải dân tộc và trong việc đấu tranh cho chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Sự kiện này có tín hiệu tích cực, nhưng có vài điều cần lưu ý. Thứ nhất, "thực thể" chỉ có nghĩa một cái gì đó có hiện hữu, ở đây là đã từng hiện hữu. Tất nhiên VNCH là một thực thể ở miền Nam, và không có gì đáng mừng việc nói lên điều đó.

Thứ nhì, việc gọi một chính thể trong lịch sử bằng tên của nó, thay vì bằng tên đặt ra để miệt thị nó, chỉ là tác phong bình thường của ngành sử. Điều quan trọng là bộ sử này viết gì về VNCH.

Ảnh chụp Tổng thống Ngô Đình Diệm của chính quyền Việt Nam Công Hòa tại một hội chợ gần Sài Gòn tháng 3/1957Bản quyền hình ảnhKEYSTONE/GETTY IMAGES
Image captionẢnh chụp Tổng thống Ngô Đình Diệm của chính quyền Việt Nam Công Hòa tại một hội chợ gần Sài Gòn tháng 3/1957

Theo PGS-TS Trần Đức Cường trả lời phỏng vấn trên RFA, "Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả. Đấy là một chính quyền được dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt Nam một cách lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Điều đó không có gì nghi ngờ cả."

Phát biểu này cho thấy sự hạn chế của sự tiến bộ. Có thể tranh cãi về VNCH tốt hay xấu, hay hay dở, ở những điểm nào, nhưng quan điểm cho rằng miền Nam là "thuộc địa kiểu mới", chính nó không có gì mới so với tuyên truyền chúng ta đã nghe trong hơn 50 năm qua.

 
 
Cựu Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ, ông Bùi Diễm bình luận về bộ sách 'Lịch sử Việt Nam'.

Nhưng, dù các sử gia, hay chính trị gia, hay luân lý gia, có nói gì đi nữa thì dân tộc Việt Nam ngày nay và trong tương lai vẫn rất cần một điều mà chính quyền VNCH đã làm, trong khi chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã không làm: khẳng định chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là chưa nói đến những hành vi bất lợi của VNDCCH liên quan đến hai quần đảo này.

Không những thế, chính quyền VNCH đã bảo vệ quyền lợi Việt trong tranh chấp lãnh thổ với Campuchia, trong khi chính quyền VNDCCH tuyên bố công nhận quan điểm của Sihanouk.

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Hiệp định Paris: 'Nam Bắc VN cùng vi phạm'?

Tổng thống Diệm: Độc tài hay nhân trị?

Chính quyền VNCH còn đưa ra các yêu sách về thềm lục địa mà về sau Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) đã vận dụng trong tranh chấp với Thái Lan và Malaysia, trong khi chính quyền VNDCCH đã hoàn toàn im lặng trước yêu sách của các nước này.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại lễ khai trương một bệnh viện mới ở Sài Gòn. Ảnh chụp tháng 3/1973.Bản quyền hình ảnhKEYSTONE/GETTY IMAGES
Image captionTổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại lễ khai trương một bệnh viện mới ở Sài Gòn. Ảnh chụp tháng 3/1973.

Câu hỏi cho các sử gia Việt Nam là tại sao một chính quyền với bản chất như PGS-TS Trần Đức Cường nói lại làm những điều trên, tức là khẳng định chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền của một quốc gia và cho người Việt? Câu hỏi đi đôi với câu hỏi này là nếu chính quyền VNDCCH là chính quyền hợp pháp duy nhất cho vùng lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mau và là đại diện pháp lý cho toàn bộ dân tộc Việt, thì tại sao lại không làm những điều đó?

Có biện luận cho rằng chính quyền VNCH là chính quyền quản lý miền Nam, cho nên chính quyền đó phải khẳng định chủ quyền, còn chính quyền VNDCCH là chính quyền quản lý miền Bắc, cho nên không cần làm.

Nhưng, thí dụ, dù chính quyền tiểu bang Alaska quản lý Alaska, chính quyền đó vẫn không có tư cách pháp nhân trong luật quốc tế để khẳng định chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ ở Alaska, và Washington vẫn phải lên tiếng về chủ quyền. Nếu chính quyền VNDCCH là chính quyền hợp pháp duy nhất cho vùng lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mau, hay nếu chính quyền đó tự cho mình là như thế, thì dù có một nhóm nào đó quản lý miền Nam, chính quyền VNDCCH vẫn phải lên tiếng trên bình diện quốc tế để bảo vệ chủ quyền. Hơn nữa, nếu nhóm đó chỉ là bù nhìn và tay sai của nước khác, và sự quản lý đó là biến miền Nam thành một loại thuộc địa, thì chính quyền VNDCCH càng phải lên tiếng. Do đó, từ "quản lý" trong biện luận trên thiếu tính thuyết phục.

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tại một hội nghị Mỹ - Miền Nam Việt Nam hôm 20/7/1968 ở Honolulu.Bản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionTổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tại một hội nghị Mỹ - Miền Nam Việt Nam hôm 20/7/1968 ở Honolulu.

Trên thực tế, cho đến năm 1976, chính quyền VNCH (trước) và chính quyền CHMNVN (sau) đã hành xử như đại diện pháp lý cho vùng lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 trong lãnh vực quyền lợi và nghĩa vụ trên bình diện quốc tế. Đối lại, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã ứng xử với chính quyền VNCH (trước 30/4/1975) và chính quyền CHMNVN (sau 30/4/1975) như họ là đại diện đó.

Tới năm 1966, VNCH đã được 60 quốc gia công nhận. Đáng chú ý, năm 1957 Liên Xô đã đề nghị cả VNCH và VNDCCH được chấp nhận là thành viên khác nhau của LHQ, và năm 1974 Ngoại trưởng Úc tuyên bố, "Úc đã công nhận sự hiện hữu của cả hai quốc gia từ lâu và bây giờ chính thức công nhận và có quan hệ với cả hai chính phủ, chính phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và chính phủ của Việt Nam Cộng Hòa".

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Lê Duẩn 'thắng Mỹ nhưng cái giá quá cao'

Với chính quyền và quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác, với phía nam vĩ tuyến 17 là lãnh thổ de facto và với dân cư, theo Công ước Montevideo 1933, chính thể với tên "VNCH" trước 30/4/1975 và "CHMNVN" sau 30/4/1975 đã là một quốc gia de facto với lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 cho đến năm 1976. Trong quyển sách kinh điển "The creation of States in international law" ("Sự hình thành của quốc gia trong luật quốc tế") của mình, GS James Crawford, người đã từng làm luật sư cho 23 phiên tòa của Tòa án Công lý Quốc tế và khoảng 10 phiên tòa quốc tế khác, bao gồm Tòa án Luật biển (ITLOS), Tòa Trọng tài UNCLOS, cho rằng VNCH đã từng là một quốc gia.

Tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh chụp năm 1971Bản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionTướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh chụp năm 1971

Việc chính quyền VNCH đại diện pháp lý cho vùng lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17 trong lãnh vực quyền lợi và nghĩa vụ trên bình diện quốc tế có nghĩa sự khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa của chính quyền VNCH hoàn toàn có giá trị pháp lý.

Song song với điều đó, việc chính quyền VNDCCH không phải là đại diện pháp lý đó có nghĩa sự im lặng và những hành vi bất lợi của chính quyền VNDCCH sẽ ít có giá trị pháp lý đối với chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

Ông Diệm không thoát nổi 'ảnh hưởng của Mỹ'

Hai điều trên là tối cần thiết trong cuộc tranh biện về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong lãnh vực tranh chấp lãnh thổ, chính quyền CHXHCNVN đã, đang và sẽ phải vận dụng chúng. Tuy nhiên, có lẽ có thành phần vẫn không muốn người ta nói thẳng rằng chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý cho miền Nam trên bình diện quốc tế. Đó là điều đáng tiếc, vì nhìn nhận thẳng thắn như thế về quá khứ không phải là muốn tái lập chính quyền đó và chia đôi đất nước lần nữa.

Dù đã có thay đổi, ngành sử Việt Nam cần tiến bộ xa hơn việc chỉ ngưng dùng từ "Ngụy" để gọi VNCH, cần chú trọng hơn về khía cạnh chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý cho miền Nam trên bình diện quốc tế, và cần trân trọng hơn về việc chính quyền VNCH đã từng khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền Việt trong tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển.

Ngành sử Việt Nam cũng cần nhìn nhận rằng "thuộc địa kiểu mới" chỉ là biện ngôn để tuyên truyền trong chiến tranh, nó vô nghĩa trên thực tế, trong khi việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ là điều có ý nghĩa mãi mãi cho dân tộc.

Vai trò ý thức hệ trong cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam

*Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn riêng của các tác giả từ Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41148254

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 12 Sep 2017 08:30:49 +0000
Chính sách mới của Tập Cận Bình và Một Vành đai Một Con đường (OBOR) http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4455-2017-08-24-03-39-48 http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4455-2017-08-24-03-39-48 Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Tập Cận Bình nắm quyền

Từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào tháng 11 năm 2012, sự thống trị của phái bảo thủ tiếp tục. Tập đã chứng tỏ là một lãnh đạo chống tự do kịch liệt và ông đã giám sát tăng cường hơn nữa sự đàn áp vốn đã rõ rệt từ năm 2009. Đã có một chiến dịch đàn áp không ngừng đối với tất cả dạng bất đồng chính kiến và các hoạt động xã hội; internet và truyền thông xã hội phải chịu kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều; đài thánh giá và nhà thờ Thiên chúa giáo bị phá huỷ; người Uighur và người Tây Tạng bị bức hại ngày càng nặng n.[1]

Những liên kết liên hoàn trong chính sách của Tập Cận Bình nằm ở những tiến hành Giấc mơ Trung Quốc(中国梦)[2] gồm các giấc mơ cấu thành là Cường quân mộng, Cường quốc mộng, Phát triển mộng, Hạnh phúc mộng, Hòa hài mộng, Hòa bình mộng, Văn hóa mộng, Lục sắc mộng (Giấc mơ xanh-Môi trường) và Pháp trị mộng. Những giấc mơ này nhằm hướng đến Hai kỷ niệm trăm năm   -两个百年-(Trăm năm thành lập Đảng CS Trung Quốc và Trăm năm thành lập nước Trung Quốc). Đây là nhiên liệu tinh thần đốc thúc sự tự hào tiến lên của người Trung Quốc nói chung. Luận thuyết về trỗi dậy hòa bình (Trung Quốc hòa bình quật khởi luận) mà sau này được thay bằng luận thuyết phục hưng (tránh chữ trỗi dậy) là phương pháp để đạt Giấc mơ Trung Quốc. Hai nội dung chính của  Giấc mơ: Một là, thành công ở mốc thời gian kỷ niệm Hai sự kiện trăm năm, chào mừng 100 năm ngày thành lập đảng cộng sản Trung Quốc (2021) và 100 năm ngày thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (2049). Hai là, vạch ra và xác định Ba con đường phải đi: a./ con đường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, b./ hoằng dương tinh thần Trung Quốc, tinh thần dân tộc,tinh thần sáng tạo với chủ nghĩa ái quốc là hạt nhân. C./ tập trung sức mạnh đoàn kết tất cả các dân tộc Trung Quốc.[3]

Các đại chiến lược như Khu mậu dịch tự do Thượng Hải, Thủy đạo Vàng, Một vành đai- Một con đường (hướng ra toàn cầu), Một trục hai cánh (hướng về châu Á) là những công cụ hiện thực hóa Giấc mơ Trung Quốc, phục hưng Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là Chủ tịch và Tổng bí thư đảng của Trung Quốc đầu tiên trực tiếp đứng đầu ủy ban cải cách. Tập, khác các Tổng Bí thư trước, nắm lấy một vai trò công khai- đưa uy tín cá nhân ra thử thách- bằng cách chủ trì Ủy ban lãnh đạo trung ương tăng cường cải cách toàn diện, các thành viên bao gồm Thủ tướng Lý Khắc Cường và lãnh đạo cấp cao của Hội đồng Nhà nước. [4]

Tập Cận Bình tiếp nối các trường phái tư tưởng của các lãnh đạo tiền nhiệm Mao (Ba thế giới), Đặng (Thực dụng), Giang (Ba đại diện), Hồ (Xã hội hài hòa), không kế thừa toàn bộ và cũng không phủ nhận tất cả. Tập Cận Bình xây nền với Giấc mơ Trung Quốc để tập hợp lực lượng, thanh lọc nội bộ, trị bệnh nan y tham nhũng và làm suy yếu các đối thủ tiềm tàng. Tập Cận Bình không quên trấn an thế giới: nói giảm lời Napoleon về hình tượng sư tử Trung Quốc là dễ mến; và kêu gọi sự hài hòa, một phần lớn hướng đến nội bộ Trung Quốc :

“Giấc mơ Trung Quốc cần hòa bình, chỉ có hòa bình mới thực hiện được giấc mơ. Dân tộc Trung Hoa từ xưa tới nay đều ưa chuộng hòa bình. Thiên hạ thái bình, cùng hưởng đại đồng là lý tưởng trải dài suốt mấy ngàn năm của dân tộc Trung Hoa, trong lịch sử Trung Quốc từng là một trong những quốc gia lớn mạnh nhất thế giới, nhưng không để lại ghi chép nào về nước thuộc địa và nước xâm lược.”

Nếu nói theo Tập Cận Bình, thì các cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam từ trước Công Nguyên đến 1988 (khoảng gần 40 cuộc chiến) có lẽ là những ngoại lệ.

“Trong thời gian hơn 100 năm từ cận đại đến nay, nội chiến và ngoại xâm liên tiếp xảy ra, nhân dân Trung Quốc khắc ghi tâm cốt những khổ nạn mà chiến tranh gây ra, luôn theo đuổi hòa bình, vô cùng trân trọng cuộc hòa bình ổn định. Nhân dân Trung Quốc sợ biến động, mong ổn định, kỳ vọng thiên hạ thái bình. Trung Quốc sẽ kiên định không thay đổi đi theo con đường phát triển hòa bình, vừa nỗ lực tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình để phát triển đất nước, vừa góp phần thúc đẩy hòa bình thế giới bằng sự phát triển của mình. Trung Quốc không đồng tình với logic cũ “cường quốc ắt sẽ bá quyền”, tuyệt đối không xưng bá, tuyệt đối không bành trướng, Trung Quốc càng phát triển, càng có lợi cho hòa bình và sự phát triển của thế giới.”[5]

Sự tự tin đại quốc từ Tập Cận Bình đã truyền nhiệt cho giới ngoại giao như Dương Khiết Trì lặp lại câu “Trung Quốc là nước lớn” trong các diễn đàn như ARF, AMM. Khi thế giới đề cao sự bình đẳng của các dân tộc, thì đây là bước thụt lùi của Trung Quốc vì truyền thông kết nối thế giới từng giây các hành xử của Hoa lục.

“Xây dựng niềm tin đổi mới mạnh mẽ, dám đi con đường chưa ai từng đi, đổi mới là nguồn lực dân tộc rõ ràng nhất của dân tộc Trung Hoa.Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh: “ Trung Quốc là một nước lớn, cần phải có đặc sắc riêng trong lĩnh vực đổi mới công nghệ”.[6]

Tập Cận Bình bổ sung ý muốn phát triển khoa học kỹ thuật để tiến đến vị trí nước lớn:

“Trung Quốc có lý do, có cơ sở để xây dựng niềm tin leo lên đỉnh cao về khoa học kỹ thuật của thế giới. Thu hút và học hỏi thành quả khoa học tiên tiến trên thế giới, xây dựng chí hướng và niềm tin vững vàng, đi con đường chưa ai từng đi, dám thắc mắc với lý luận hiện có, can đảm tìm hướng đi mới, không ngừng khắc phục khó khăn tìm kiếm cái mới, dám tạo ra những thành quả khoa học dẫn dắt trào lưu thế giới.”[7]

Tại đây, một xã hội hoàn toàn mới và chưa có mô hình trong quá khứ là một thách thức đối với Trung Quốc và đối với thế giới.Ông Tập mô tả hình ảnh lý tưởng của một xã hội dân chủ, thịnh vượng nơi chính quyền là công bộc của nhân dân. Đây là xã hội mà Martin Jaques cho rằng Trung Quốc kế thừa mô hình riêng của mình từ xã hội phong kiến ngàn xưa.[8]

“Chú trọng xây dựng môi trường chính sách thông thoáng, tăng mức đầu tư của chính phủ vào lĩnh vực công nghệ, hướng dẫn doanh nghiệp và xã hội chú trọng hơn vào công tác nghiên cứu khoa học, tăng cường công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hoàn thiện chính sách thuế về đổi mới kỹ thuật của doanh nghiệp khoa học kỹ thuật.”[9]

Nhưng các mối quan tâm lan tỏa từ Đông sang Tây, từ những nước quanh Đông Á cho đến các cường quốc cạnh tranh ngang tầm, mặc cho trấn an của lãnh đạo Trung Quốc.

“Chỉ có kiên trì đi theo con đường phát triển hòa bình, chỉ có cùng với các nước duy trì hòa bình thế giới, Trung Quốc mới có thể thực hiện được mục tiêu của mình cũng như đóng góp nhiều hơn cho thế giới.”[10]

Thông điệp ra thế giới về hòa bình, chống tham nhũng, đề cao khoa học kỹ thuật và phát triển hài hòa với cộng đồng là điều Tập Cận Bình muốn nhấn mạnh:

«Những cải cách kinh tế của Tập Cận Bình và những xu hướng chính trị kiểu Maoít của ông đều là những chiến thuật trong một chiến lược nhằm duy trì hệ thống một đảng thông qua cải cách đó. Các phương pháp của ông minh chứng cho việc ông thừa nhận những vấn đề lớn nhất hiện nay của Trung Quốc: nạn tham nhũng tràn lan, hệ thống chính trị xơ cứng, và một mô hình kinh tế đang nhanh chóng mất đà ».[11]

Nhìn ở góc khác, tại Hội nghị Ngoại giao Trung ương do Tập chủ trì ngày 24-25/10/2013, chủ tịch Trung Quốc tái khẳng định “thời cơ chiến lược”, trong đó Trung Quốc cần duy trì hòa bình và ổn định bên ngoài để phát triển trong nước.[12]

Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đánh giá khó đoán Tập sẽ theo đuổi chính sách gì. Các lãnh đạo Trung Quốc thường không tiết lộ kế hoạch tương lai do không muốn bị công kích. Trung Quốc hiện đang gặp nhiều thách thức trong nước và Tập sẽ dồn sức cho những vấn đề đối nội và đối ngoại đột nhiên phát sinh. Kế hoạch kỹ lưỡng nhất cũng có thể thất bại nếu một diễn biến nghiêm trọng diễn ra ngoài dự kiến. Song ông Lý cho rằng tiếng nói của Tập có sức nặng và xuất thân nhà binh cũng giúp ông ta có ảnh hưởng với quân đội.[13]

Để có đúc kết Trung Quốc có đe dọa hay không, người quan sát và quan tâm không thể chỉ căn cứ vào lời lẽ quyết tâm của một tổ chức đảng, lãnh đạo đảng hay chính phủ của một nước đặc biệt và bí ẩn như Trung Quốc. Cần có những góc nhìn rộng và chi tiết hơn nữa.

Michael Pillsbury hình dung ra trật tự thế giới của Trung Quốc vào năm 2049, khi ấy Trung Quốc sẽ thay các giá trị Mỹ bằng giá trị của mình, sẽ giải quyết bất đồng trên mạng xã hội bằng cách cắt không để người dân tiếp cận internet, sẽ chống lại dân chủ hóa, sẽ kết liên với các kẻ thù của Mỹ, sẽ xuất khẩu ô nhiễm môi trường, sẽ phát triển kéo theo ô nhiễm lây nhiễm- những ngôi làng ung thư. Họ sẽ có những chiến dịch đánh lừa, sẽ cho hacker hoạt động tự do, sẽ khuynh đảo Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) và phổ biến võ khí để kiếm lãi.[14] Ông cũng nói về khái niệm “shi” (thế) trong Tôn Tử Binh pháp, vốn khó giải thích cho Phương Tây. Đó là “sự sắp xếp các lực lượng”,[15]nhằm tạo cho Trung Quốc  khả năng áp dụng chủ nghĩa thiên hạ (universalism) cho cả thế giới.[16]Martin Jacques luận rằng “Mệnh trời” ban cho bậc đế vương song có thể bị đoạt trở lại nếu đế vương vô đạo.[17] Ông này cho rằng nhà nước Trung Quốc cổ đại đã nhận ra trách nhiệm với nhân dân sớm hơn nhà nước Châu Âu nhiều thế kỷ.[18] Francis Fukuyama cũng nhận định Trung Quốc từng có chế độ cai trị thư lại tập quyền có khả năng thu thuế, vỗ yên dân chúng, kiểm soát quân binh và ổn định xã hội 1800 năm trước khi Châu Âu biết làm việc này.[19] Còn Henry Kissinger tin vào tính ưu thắng của nhà nước Trung Hoa cổ đại so với nhà nước châu Âu. Bởi họ có nhu cầu cải cách thể chế nhưng lại tự tôn không muốn cải cách theo hướng “bọn Tây Dương”.

Trong các thể chế mà tác giả cho là ưu thắng này, trí thức ở đây là trí thức phục vụ không phải trí thức phản biện và gắn liền với nhà nước (appendage to state).[20]Tại đây, không có xã hội dân sự hay công chúng tự chủ tư duy và tự trị. Nói khác, đặc sắc Trung Quốc là đặc sắc phong kiến.[21]  

Đã như vậy thì có thể nhận thấy chính quyền có Tập hay không có Tập đều phải có những tính chất chung nhất của một Trung Quốc truyền thống dù có thể được hiện đại hóa cao độ.

Chính sách mới (Tân chính-新政) và Một vành đai- Một con đường (Nhất đới nhất lộ-一带一路-OBOR:

Trên một nền kiến trúc nóng hực tinh thần dân tộc- Giấc mơ Trung Quốc- là những tòa lầu kỳ vĩ khơi gợi lòng tự hào “Hai kỷ niệm trăm năm” và “Ba con đường tất yếu”.

Vậy những hành động cụ thể mà nội các Tập mong muốn dẫn dắt nước Tàu sẽ là gì? Đó là những hành động được xúc tiến song hành với Chính sách mới về kinh tế của Tập Cận Bình (Tân chính-新政). Chính sách này được trình bày từ tháng 11/2012, gồm ba nội dung lớn là Khu Mậu dịch Tự do Thượng Hải, Thủy đạo Vàng và Một Vành đai Một Con đường.

a-      Khu Mậu dịch Tự do Thượng Hải (Thượng Hải Tự Mậu Khu-上海自贸区):

Tháng 3/2013, Thủ tướng Lý Khắc Cường tại Thượng Hải hạ quyết tâm kiên trì xây dựng Khu Mậu dịch Tự do Thượng Hải. Ngày 29/9/2013, ông Lý đặt tên cho khu mậu dịch này và ngày 1/10 chính thức tiến hành các công tác vận động. Chương trình này bao gồm sáu lĩnh vực lớn là tài chính, vận tải, thương mại, doanh nghiệp, văn hóa, xã hội. Đó là tự do hóa mậu dịch, tự do hóa đầu tư, đơn giản hóa hành chánh, quốc tế hóa tài chính và các nội dung khác. Khu vực này gồm 120,72 km vuông bao gồm bốn khu hiện hữu ở Phố Đông là Khu Tự do Mậu dịch Waigaoqiao, Công viên Logistics Tự do Mậu dịch Waigaoqiao, Khu vực Cảng tự do Mậu dịch Yangshan và Khu vực tự do Mậu dịch Tổng hợp Phi trường Phố Đông. Từ 21.4/2015 khu này mở rộng và bao gồm Khu Tự do Mậu dịch và Tài chính Lujiazui, Khu Phát triển Kỹ thuật và Kinh tế Jinqiao, cùng Công viên Kỹ thuật cao Zhangjiang.

EY - FTZ at-a-glance

Hình 001: Khu Mậu dịch Tự do Thượng Hải

Nguồn: http://www.ey.com/cn/en/industries/financial-services/ey-insights-on-china-shanghai-pilot-free-trade-zone-background, đọc 7/2017

b-      Thủy đạo Vàng (Hoàng kim thủy đạo-黄金水道)[22]

Tháng 07/2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đề xuất: lưu vực Trường Giang[23] phải tăng cường hợp tác, phát huy tác dụng giao thông của các con sông trong nước, biến toàn lưu vực sông thành một Thủy đạo Vàng. Ngày 5/3/2014, tại Hội nghị Đại biểu Toàn quốc lần thứ 2 của Đại Hội 12. Lý Khắc Cường cho rằng với Thủy đạo Vàng (Đường giao thông thủy Vàng), Trung Quốc sẽ xây dựng “vành đai kinh tế Trường Giang” thành chiến lược tầm quốc gia.

c-      Một Vành Đai Một Con Đường (Nhất đới nhất lộ-一带一路 OBOR)

Tháng 9/2013,Chủ tịch Tập Cận Bình đi thăm bốn nước Trung Á. Tại Kazakhtan, ông Tập đề xuất các nước cùng Trung Quốc xây “Vành đai Con đường Tơ lụa kinh tế” (Ty châu chi Lộ Kinh tế Đới)

Tháng 10, tại Hội Nghị APEC ở Indonesia (Hội nghị phi chính thức của các lãnh đạo), ông Tập đề nghị cùng xây dựng Con đường Tơ lụa trên biển của Thế kỷ 21( 21 Thế kỷ Hải thượng Ty châu chi Lộ)

Ngày 15/11/2013, Hội nghị Trung ương lần thứ ba Toàn quốc công bố “Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về cải cách toàn diện và sâu sắc và một số vấn đề trọng đại” đồng thời nêu rõ “xúc tiến xây dựng Vành đai tơ lựa và Con đường tơ lụa trên biển”, hình thành cuộc diện mở cửa mới và xuyên suốt, chính thức xác lập chương trình này ở tầm chiến lược quốc gia.[24]

Trung Quốc phục hưng

Text Box: Trung Quốc phục hưng

Hình số : XXX. Trung Quốc trỗi dậy và các chương trình liên quan. Nguồn: Tác giả thu thập

 


Trung Quốc Trỗi dậy                         Your texte

Text Box: Trung Quốc Trỗi dậy                         Your texte


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Hình 002: Lược đồ Tân chính và OBOR (tác giả tổng hợp và đính kèm)

Đã có nhiều ý kiến về OBOR, tại đây chúng tôi giới thiệu một số ý kiến khác chiều về OBOR  trong tổng thể chung của Chính sách mới trên nền Chiến lược Giấc mơ Trung Quốc của triều đại Tập Cận Bình.

Chương trình OBOR gồm hai phần. Một vành đai là “Con đường Tơ lụa trên biển của thế kỷ 21, khởi hành từ Trung Quốc đi qua Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và tiến sang châu Phi. Một con đường tức là Đường tơ lụa có ba nhánh đi từ Trung Quốc, Tân Cương, qua các nước Trung Á và tiến sang Châu Âu. Kinh phí để phát triển vành đai kinh tế chính trị khép kín này dự kiến lên đến 6000 tỷ USD trong đó mỗi năm sẽ thực hiện khoảng 240 tỷ USD vào đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, các trạm logistics, không cảng và hải cảng ở hơn 60 quốc gia. Chiến lược này được ví như Kế hoạch Marshall của Trung Quốc và được chào đón bằng nhiều thái độ khác nhau từ các nước trên thế giới. feba6d1fd06243c0bb37cc865cb3206c

Hình 003: Các nhánh của Một Vành đai Một Con đường

Nguồn: The Star, http://www.thestar.com.my/news/nation/2017/04/30/beltroad-changes-world-order-chinas-ambitious-economic-plan-is-set-to-draw-up-a-new-global-paradigm/ đọc tháng 6/2017 

Lâm Dục Quân (Ủy ban Đại lục, Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa-Đài Loan) cho rằng OBOR cần được xét ở khía cạnh phát triển kinh tế và gây dựng ảnh hưởng chính trị đối với Trung Quốc. Ông Lâm nhận định OBOR tập trung vào 5 nước Trung Á và có các ảnh hưởng lớn đối với 2 bờ tức Trung Quốc và Đài Loan[25] Xin lưu ý rằng các tác giả không đề cập Đông Nam Á.

Tuy nhiên, để tránh sự phản ứng và cảnh giác từ các nước khác, phía Đài Loan khẳng định OBOR khác với chính sách Tân Nam Hướng của Đài Loan, vốn dựa vào sức mạnh mềm trong việc phát triển doanh nghiệp, trị liệu, giáo dục cũng như nhân lực, sáng tạo kỹ thuật và nông nghiệp.[26] Hongkong tận dụng lợi thế của đặc khu kinh tế và lên kế hoạch tận dụng OBOR để phát triển các lợi thế logistic của HKG. Bởi ý hướng chính của Trung Quốc là làm cho lòng dân hài hòa (Dân tâm tương thông), Hongkong sẽ sử dụng cả văn hóa và giáo dục để làm cầu nối và tận dụng chính sách Kiến thiết khu vịnh lớn Quảng Đông, Hongkong, Macau (Việt Cảng Áo Đại Loan Kiến Thiết).[27]

Đáng lưu ý, Úc là quốc gia từ chối không cho Trung Quốc đặt điểm thông qua trên đất nước mình; tương tự, Ấn Độ xác nhận không tham gia OBOR. Các nước Đông Nam Á có tranh chấp với đường chữ U phi pháp mà Trung Quốc vẽ ra cũng có thái độ dè dặt.[28] Có ý kiến nhận định ASEAN là khối e ngại sự uy hiếp của Trung Quốc trong chiến lược OBOR.[29] Thực tế là Thủ Tướng Singapore không đến tham dự Hội nghị OBOR diễn ra vào tháng 5/2017.

Tác giả Trang Kim Phong (Trung Tâm Nghiên cứu Cảng Áo Đài, Đại học Thượng Hải )nhấn mạnh ý kiến OBOR là một chiến lược của Trung Quốc nhằm đáp trả chính sách bao vây Hoa lục của Mỹ về quân sự. Đó chính là việc Trung Quốc tuyên bố thiết lập hệ thống cùng có ăn chịu (mệnh liên cộng đồng thể) ở Đông Nam Á.[30] Tại đây, Trung Quốc đang đối phó với việc bị Mỹ bao vây, thông qua 3 chuỗi đảo. Chuỗi đảo 1 gồm 5700 km từ Hàn Quốc, Nhật, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei và Singapore. Chuỗi đảo 2 gồm 4400 km mà trung tâm là đảo Guam và chuỗi đảo thứ 3 lấy trọng tâm là Hawai.[31]

Lâm Dục Quân đánh giá OBOR thực chất là cuộc chiến mà ba cường quốc Trung- Nga- Mỹ giành 5 nước Trung Á, một nơi có nguồn nhiên liệu, ảnh hưởng địa chính trị chiến lược cao hơn cho Trung Quốc mở sinh lộ sang Tây, một chiến trường trọng điểm cho cả ba cường quốc này (Nguyên văn: binh gia tất tranh chi địa-兵家必争之地)…[32] Đây là nơi Trung Quốc phải ra tay giành giật lợi thế với cả Nga và Mỹ.[33]  Ý kiến này trùng với ý kiến của Viện chiến lược Pháp, cho rằng Trung Quốc sẽ gặp khó khăn tại Đông Nam Á nên ưu tiên của OBOR phải là hướng về phía Tây.[34] Hơn thế nữa, trong số 5 nước Trung Á đó, Trung Quốc sẽ tập trung vào Kazakhstan vì nước này chiếm đến 60% tổng lượng giao dịch của 5 nước Trung Á với Trung Quốc.[35]

china-one-belt-one-road-initiative

Hình 004: Các nhánh của Một Vành đai Một Con đường

Nguồn: The Load Star, https://theloadstar.co.uk/comment-one-belt-one-road-future-trade-east-west/ đọc tháng 6/2017

Khác với nhóm Lâm Dục Quân, Tống Trân Chiếu (Khoa Chính trị, Đại học Quốc lập Thành Công- Đài Loan) nhận xét Đông Nam Á sẽ hưởng lợi từ OBOR và Bắc Kinh sẽ đóng góp quan trọng trong các dự án hợp tác tiểu vùng Mekong và sẽ kết chặt với ASEAN hơn thông qua mạng lưới người gốc Hoa, người Hoa di cư và công ty có yếu tố Trung Quốc (Hoa kiều, Hoa nhân, Hoa thương).[36] Ông Tống dự báo trong quan hệ Trung Quốc –ASEAN với OBOR sẽ có khả năng ASEAN cảnh giác rằng OBOR chính là chiến lược Giấc mơ Trung Quốc đầy uy hiếp. Và khối ASEAN  quan ngại sức mạnh mềm Trung Quốc sẽ đầy cưỡng chế và lo sợ một dạng triều cống mới như trong lịch sử đã từng diễn ra. Do vậy, tại ASEAN chắc chắn sẽ xuất hiện làn sóng bài Hoa. Như vậy, nếu Trung Quốc muốn thực hiện OBOR phải cẩn thận với các tranh chấp lãnh thổ và đối đãi tốt (Nguyên văn: thiện đãi) với Việt Nam, Philippines.[37]         Thành viên của ASEAN khá gần gũi với Trung Quốc, Campuchia chào đón OBOR bằng hàng loạt các cuộc trao đổi kinh nghiệm và cơ hội hợp tác nông ngư nghiệp khăng khít giữa hai nước Campuchia và Trung Quốc. Từ các dự án hợp tác với tỉnh Quảng Đông từ 1993 cho đến các hợp tác về sau này giữa hai nước Trung – Campuchia.[38] Tờ nhật báo Cambodia Sin Chew cũng trích dẫn tin từ Thông tấn xã Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng OBOR sẽ khai thông tiềm lực của Việt Nam trong chương trình OBOR.[39]

Bàn về các cảng biển trong và ngoài hệ thống OBOR, các động thái của Trung Quốc tại Campuchia cũng đáng lưu ý. Hai dự án cảng tại Sihanoukville và Koh Kong có quy mô và mức độ phát triển vượt trội so với các cảng hiện có, cũng như các dự án phát triển cảng khác tại Campuchia. Kế hoạch phát triển cảng biển của Campuchia sẽ liên quan đến việc xây dựng ba cảng mới, một bến cảng mới và hai dự án mở rộng. Cụ thể các cảng gồm Cảng nước sâu tại Tỉnh Koh Kong (Dự án TP. Thất Long, 3,8 tỷ USD, Trung Quốc); Cảng quốc tế tại Tỉnh Preah Sihanouk (Dự án Golden Silver Gulf, 5,7 tỷ USD, Trung Quốc), Cảng du lịch tại Tỉnh Kep và một số cảng khác.



Trong sáu dự án này đã có bốn dự án được thực hiện, hai dự án xây dựng mới do Trung Quốc đầu tư, tại Tỉnh Koh Kong (i) và Tỉnh Preah Sihanouk (ii), và hai dự án do Nhật Bản đầu tư, gồm Bến cảng đa dụng tại Cảng Sihanoukville (iv) và dự án mở rộng tại Kampot (v). Trong đó, hai dự án cảng do Nhật Bản đầu tư chỉ nhằm xây dựng (i) một bến cảng mới tại Sihanoukville Autonomous Port trị giá 80 triệu USD tại Cảng Sihanoukville với chiều dài 350m, sâu 13,5m và nâng công suất tiếp nhận thêm 100.000 TEU/năm (xấp xỉ ¼ công suất tiếp nhận container hiện tại của Cảng Sihanoukville) và (ii) một bến phà chở khách trị giá 18 triệu USD tại Tỉnh Kampot.[40] 

Thượng Tá Hải Quân Đài Loan Tưởng Phục Hoa thì cho rằng OBOR là một nỗ lực gắn kết dân tộc Trung Quốc với các mảng Áo Cảng Đài (Macau-Hongkong-Đài Loan) và vùng phía Tây kém phát triển cũng như Hoa Kiều ngoài nước. Thực chất trọng tâm là đối nội.[41]  Bởi từ bên ngoài, có các lực lượng muốn ảnh hưởng lên thể chế chính trị Trung Quốc, vì vậy Trung Quốc qua OBOR sẽ tự ổn định mình.[42] Mỹ với chính sách Cân bằng về Châu Á (Nguyên văn: Á châu Tái Bình Hành), Xoay trục và hệ thống ba chuỗi đảo (Tam đảo liên) đang muốn bao vây Trung Quốc. Đó là chưa kể Ấn Độ đang vùng lên quật khởi ở Nam Á.[43] OBOR, do vậy, là một phương cách đánh chặn để tự vệ.

Nele Noesselt cho rằng chương trình Một vành đai Một con đường của Trung Quốc là nhằm khai thông nguyên liệu, thị trường, kích hoạt kinh tế , ổn cố chính trị kinh tế (stimulate the Chinese economy and to maintain the stability of China’s (political-economic) system), tái hiện tinh thần trung tâm thiên hạ với các nước chư hầu (Sinocentrism, the role- identity of China as tianxia …as well as the tributary system), phú quốc cường binh và chuyển từ một nước lớn (quanqiudaguo) sang một cường quốc của thế giới (quanqiuqiangguo).[44]

TS Phạm Sỹ Thành nhận xét nếu Việt Nam triển khai các dự án cơ sở hạ tầng thì nên dùng AIIB song song với WB và ADB để hạn chế rủi ro. Ngoài ra, tác giả còn cho rằng không nên kết nối hệ thống đường sắt của Trung Quốc với hệ thống có bề rộng nhỏ hơn của Việt Nam, một hàm ý liên quan quân sự.

Nhận xét về Chính sách mới và chiến lược Trỗi dậy:

Như vậy, có thể thấy các chính sách của Tập Cận Bình ở trong một tổng thể hướng đến Trung Quốc trỗi dậy bằng nguồn nhiên liệu dân tộc chủ nghĩa, bằng công cụ đa diện từ kinh tế văn hóa xã hội đến môi sinh và luật pháp.

Tại đây, phương tiện cụ thể trình bày cho thế giới là Tân chính với Ba chiến lược trong đó Một Vành đai Một con đường là một chiến lược hướng ngoại chính yếu. Nếu xem Thủy đạo Vàng như một chiến lược gia tăng phát triển nội địa, chống mất quân bình giàu nghèo trong nước, Khu Mậu dịch Tự do Thượng Hải như là một tiểu quốc Kinh tế đuổi theo Hongkong thì OBOR chính là cuộc mở đường xa hơn, dài hơi hơn của Trung Quốc để phát triển kinh tế, quân sự, địa chính trị để thực hiện Trung Quốc trỗi dậy hay Phục hưng trên nền Giấc mơ Trung Quốc.

Phân tích các định vị và động hướng của Trung Quốc, có thể thấy chiến lược trỗi dậy của Trung Quốc là khá nhất quán từ các lãnh đạo sau Mao đến nay. Chiến lược ấy có sự định vị rõ rệt song song với sự mềm hóa có lúc rõ rệt và có lúc có vẻ bất cần. Các khái niệm từ dưới nền móng như hệ thống các Giấc mơ Trung Quốc đến những cuộc chào mừng thành tích, hoạch định con đường và cụ thể hóa bằng Tân chính (có ba phần) hiển nhiên rập ràng và có liên kết chặt chẽ, tiến thoái phù hợp. Kể cả những từ ngữ như Trỗi dậy diện được thay bằng Phục hưng. Điều này chứng tỏ những nhà hoạch định chính sách trong nội các Tập có những động não to lớn và cân  nhắc. Sự phục hưng Trung Quốc phát lộ ra bên ngoài thành sự đe dọa nằm ở nhiều mức độ khác nhau. Đối với các nước sát bên, Trung Quốc thường gây căng thẳng về các vấn đề như biên giới, chủ nghĩa dân tộc, buôn bán người, tranh thế tay trên trong khai khoáng, nung nóng quá khứ bị áp bức, xâm lược có chủ đích. Đối với các nước lớn khác, sự trỗi dậy của Trung quốc tùy thuộc bàn cờ chính trị và sự tương tác. Mối nguy của sự trỗi dậy đối với các nước quanh Trung Quốc nằm ở việc Trung Quốc đánh giá cán cân với các nước lớn như thế nào và khả năng xoay trở chống chọi của các nước ấy trong dòng chảy chung.

Trung Quốc không tỏ ra quá củng cố các quan hệ láng giềng để gây vùng ảnh hưởng và thường có chủ đích phá vỡ các quan hệ hợp tác bằng các hành động võ lực. Viễn giao cận công thì sẽ dễ tạo thế cho Bắc Kinh mở rộng lãnh thổ. Ngoài ra, Bắc Kinh gần đây đánh giá thời cơ cho cuộc vùng dậy là quý giá hơn, đáng tập trung tận dụng để bành trướng thế lực hơn là dùng sức mạnh mềm hay ngoại giao.

Việt Nam là một quốc gia mà Con đường tơ lụa trên biển sẽ đi qua, việc phát triển logistics cho xuất nhập khẩu tại các cảng biển, phi trường, kho hàng và xa lộ cao tốc kết nối với ASEAN sẽ cho phép tăng khả năng cạnh tranh về giá cả và chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tài chính để thực hiện các công việc này, theo TS Phạm Sỹ Thành đánh giá, cần cẩn trọng tránh lệ thuộc vào các ngân hàng Trung Quốc. Ngoài ra, liên kết mạnh và chặt chẽ hơn với các quốc gia khác, các FTA khác Trung Quốc sẽ tạo thế cân bằng hơn và tránh bị cuốn vào quỹ đạo của OBOR, tự thân không phải chỉ là một hợp tác kinh tế mà còn liên quan an ninh, chính trị, quốc phòng. Cũng không phải là không thể, các bên doanh nghiệp và chính sách có thể tận dụng các diễn đàn OBOR, nơi có nhiều bên liên đới về quyền lợi để đưa ra những ý kiến của Việt Nam về quyền lợi sử dụng nước tại song Mekong và các vấn đề an toàn hàng hải, quyền đánh bắt và khai thác hải dương trên Biển Đông. 

Người đọc sẽ có thể phối kiếm các nguồn tin và cách đánh giá để có nhận định rõ hơn về chiến lược trỗi dậy, về sự đe dọa hay không đe dọa của cường quốc thứ hai thế giới này.  Đặc biệt, người quan tâm có thể tránh được hai thái cực hoặc 1./ không tán đồng do cảnh giác dẫn đến bác bỏ hoàn toàn hoặc 2./ ủng hộ vì những giá trị kinh tế thương mãi do không nhận ra các yếu tố địa chính trị ẩn tàng. Khi đã có đủ cơ sở để nhận định, giới làm chính sách, doanh nghiệp và nghiên cứu sẽ có thể đề ra những đối sách thích ứng, tương kế tựu kế, nương theo hướng phát triển để tận dụng ưu thế và lược bỏ tác hại của các chính sách Trung Quốc từ Giấc mơ Trung Quốc, Hai bách niên, Ba con đường, Thủy đạo Vàng, Khu Mậu dịch tự do Thượng Hải đến OBOR và hơn thế nữa ở ngành nghề của chính mình.

 



[1] David Shambaugh, Tương lai Trung Quốc, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, Nguyễn Đình Huỳnh dịch, 2016, trang 201

[2] Chủ tịch Tập Cận Bình phát biểu lần đầu vào 29/11/2012 tại Viện bảo tàng Quốc gia Trung Quốc về đề tài Con đường phục hưng.

[3] Đỗ Linh Ngọc (杜鈴玉), Bàn về Giấc mơ Trung Quốc của Tập Cận Bình,習近平「中國夢」之探討, 臺灣警察專科學校, Đại học Cảnh sát Đài Loan, Năm Dân quốc 104 (2015),   Đọc 2/2017, trang 46

[4] Henry M Paulson, Dealing with China, Twelve, 2015, trang 329 (Unlike previous general secretaries who for the most part did not take an active lead in the economic policy, Xi is assuming a public role- and putting his personal credibility on the line- by chairing the so-called Central Leading Group for Deepening Reform Comprehensively, whose members include Premier Li Keqiang and other seniormost Party and State Council leaders)

[5] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 109, 110

[6] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 142

[7] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 142, 143

[8] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 99

[9] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 142, 143

[10] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 236

[11] Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, Hội nghị Trung Ương 4 Khóa XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc  - Y pháp trị quốc và vai trò lãnh đạo của đảng, 2014, trang 436

[12] Phạm Sỹ Thành,Một vành đai – một con đường (OBOR), NXB Thế giới, 2017, trang 157

[13] Lý Quang Diệu, One man’s view of the world, Lê Thùy Giang dịch, NXB Trẻ, 2017 , trang 33

[14] Michael Pillsbury, The Hundred -Year Marathon, Henny Holt & company, 2015, trang 177

[15] Michael Pillsbury, The Hundred -Year Marathon, Henny Holt & company, 2015, trang 42

[16] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 593

[17] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 88, 89

[18] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 99

[19]Francis Fukuyama, Political order and political decay, Profile Book, 2015, trang 354

[20] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 100 đến 112

[21] Martin Jacques, When China Rules The World, Penguin Books, 2012, trang 113

[22] Tham khảo thêm CCTV 10 về Thủy đạo Vàng tại đây https://www.youtube.com/watch?v=lhr0q07U6OM, đọc 20/6/2017

[23] Trường Giang (sông Dương Tử) dài khoảng 6.385 km, xuất phát từ phía tây Trung Quốc (Thanh Hải) chảy về phía đông đổ ra Biển Hoa Đông, Trung Quốc. Sông này thường được coi như điểm phân chia giữa hai miền Hoa Bắc và Hoa Nam Trung Quốc.

[24] Lâm Dục Quân (林昱君), 大陸推動「一帶一路」之策略分析及因應, Ủy ban Đại lục Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, Năm Dân quốc 104, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 2 đến 4

[25] Lâm Dục Quân (林昱君), 大陸推動「一帶一路」之策略分析及因應, Ủy ban Đại lục, Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, Năm Dân quốc 104, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 8.

[26] Cambodia Sin Chew Daily, 柬埔寨星洲日報, ngày 7/5/2017

[27] Văn Phòng Ủy Ban phát triển sách lược Hongkong,(Văn kiện số CSD/1/2016) ngày 21/3/2016, đọc tháng 1/2017, các trang 8,11,12 và 17

[28] Phạm Sỹ Thành,Một vành đai – một con đường (OBOR), NXB Thế giới, 2017, trang 169 và 163

[29] Tống Trân Chiếu (宋鎮照), 「一帶一路」絲綢經濟跨區域戰略下的中國與東南亞關係發展:機會與挑戰,  國立成功大學政治系暨政經所特聘教授, http://140.119.184.164/view/193.php,  Đọc 14/5/2017

[30] Trang Kim Phong (莊金鋒), Trung Tâm Nghiên cứu Cảng Áo Đài, Đại học Thượng Hải 放眼一帶一路戰略,發揮一國兩制優勢..http://www.ipm.edu.mo/cntfiles/upload/docs/research/common/1country_2systems/2016_1/06.pdf, 2015, Đọc 14/5/2017, trang XYZ

[31] Trang Kim Phong (莊金鋒), Trung Tâm Nghiên cứu Cảng Áo Đài, Đại học Thượng Hải 放眼一帶一路戰略,發揮一國兩制優勢..http://www.ipm.edu.mo/cntfiles/upload/docs/research/common/1country_2systems/2016_1/06.pdf, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 37

[32] Lâm Dục Quân (林昱君), 大陸推動「一帶一路」之策略分析及因應, Ủy ban Đại lục Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, Năm Dân quốc 104, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 54

[33] Lâm Dục Quân (林昱君), 大陸推動「一帶一路」之策略分析及因應, Ủy ban Đại lục Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, Năm Dân quốc 104, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 56

[34] Phạm Sỹ Thành,Một vành đai – một con đường (OBOR), NXB thế giới, 2017, trang 185

[35] Lâm Dục Quân (林昱君), 大陸推動「一帶一路」之策略分析及因應, Ủy ban Đại lục Viện Hành chánh, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, Năm Dân quốc 104, 2015, Đọc 14/5/2017, trang 561, 64

[36] Tống Trân Chiếu (宋鎮照), 「一帶一路」絲綢經濟跨區域戰略下的中國與東南亞關係發展:機會與挑戰,  國立成功大學政治系暨政經所特聘教授, http://140.119.184.164/view/193.php,  Đọc 14/5/2017, trang 2 và 6

[37] Tống Trân Chiếu (宋鎮照), 「一帶一路」絲綢經濟跨區域戰略下的中國與東南亞關係發展:機會與挑戰,  國立成功大學政治系暨政經所特聘教授, http://140.119.184.164/view/193.php,  Đọc 14/5/2017, trang 7

[38] Cambodia Sin Chew Daily, 柬埔寨星洲日報, ngày 11/6/2017

[39] Cambodia Sin Chew Daily, 柬埔寨星洲日報, ngày 27/4/2017

[40] Vũ Thành Công, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS)  http://scis.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=f57328ed-9ab4-4c8d-8b9a-6de55521770e, đọc 7/2017

[41] Tưởng Phục Hoa (蔣復華), Thượng tá Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc, 從「一帶一路」戰略探討中共地緣政治所面臨的挑戰 - 中華民國海軍, 海軍上校,http://navy.mnd.gov.tw/Files/Paper/3-%E4%B8%80%E5%B8%B6%E4%B8%80%E8%B7%AF%E6%88%B0%E7%95%A5%E6%8E%A2%E8%A8%8E.pdf, Năm Dân quốc 105, 2016, Đọc 14/5/2017

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Thu, 24 Aug 2017 03:39:46 +0000
Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4445-2017-08-22-07-12-04 http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/4445-2017-08-22-07-12-04

- Nhân việc bộ Lịch sử Việt Nam không dùng từ “ngụy quyền Sài Gòn” để chỉ chính thể Việt Nam cộng hòa trước 1975, TS sử học Nguyễn Nhã cho rằng việc thừa nhận này có lợi trước nhất cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng
TS Nguyễn Nhã phát biểu trong một tọa đàm về chủ quyền biển đảo - Ảnh: L.Điền

Như tôi đã nhiều lần phát biểu trong đó có hội thảo xây dựng bộ lịch sử trên, rằng để đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa mà pháp lý quốc tế hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi Trung Quốc bắt đầu tranh chấp chủ quyền năm 1909 cho Paracels (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa là đất vô chủ - res -nullius) thì sự chiếm hữu phải mang tính thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình.

Từ năm 1954 - 1975 chỉ có chính quyền ở miền Nam Việt Nam mới có quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này ở vị trí dưới vĩ tuyến 17, cũng đã từng được rất nhiều nước thừa nhận, nên chính quyền Việt Nam cộng hòa phải được chính thức thừa nhận mới bảo đảm tính pháp lý quốc tế liên tục

TS Nguyễn Nhã

TS Nguyễn Nhã cho rằng, về pháp lý quốc tế cũng như về mặt lịch sử, Việt Nam cộng hòa là một thực thể chính trị rất hiển nhiên không thể chối cãi. Có thể khi còn đấu tranh chính trị vì lợi ích chính trị thì không công nhận nhau cũng là chuyện thường tình.

Song chính trị thì có thể thay đổi, nhất là khi đất nước đã được thống nhất và đang có nhu cầu thống nhất lòng người, đoàn kết dân tộc để phát triển hùng cường và đấu tranh chống các nguy cơ từ nguy cơ trở thành thuộc quốc hay nguy cơ tụt hậu”.

Trong cái nhìn triển vọng về việc thừa nhận chính thể Việt Nam cộng hòa, ông Nhã cũng lưu ý rằng “Hiện nay có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, như ý nguyện lúc sinh thời của Thủ tướng Võ Văn Kiệt”.

Không chỉ thế, theo ông Nhã, “... Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển”.

Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng
TS Lê Trung Tĩnh - Ảnh: LTT cung cấp

Việc từ bỏ cách gọi "ngụy quân", "ngụy quyền" và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.

Mặt khác điều này có những tác động tích cực đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng công pháp quốc tế.

TS Lê Trung Tĩnh
 

Tác động tích cực với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông

Ngày 18-8, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn.

Một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.

Như lời trả lời phỏng vấn báo chí, PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sáchLịch sử Việt Nam, đã nói: "Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn".

Nhiều tác giả, đặc biệt là Quỹ Nghiên cứu Biển Đông qua các bài viết của TS Dương Danh Huy, đã đi sâu về mối quan hệ giữa sự công nhận một hay hai quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 và lập luận pháp lý bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Các nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trước Trung Quốc.

Và đó cũng là quan điểm có thể chấp nhận về mặt chính trị hiện nay, so với việc chỉ công nhận một quốc gia tại miền Bắc hay tại miền Nam.

Nhận định Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia cũng là điều được chấp nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế theo nghiên cứu của nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng.

Giáo sư James Crawford, giáo sư hàng đầu về công pháp quốc tế và là một thẩm phán tại Tòa án Công lý quốc tế, trong tác phẩm The Creation of States in International Law, đã cho rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia.

Theo ông, việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam.

Ngoài ra sau này trong Hiệp định Paris 1973, Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa cũng được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định đối nội và đối ngoại, đáp ứng được các điều kiện có chính phủ và khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.

Thật ra việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính thể quan trọng trong việc gìn giữ chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa đã được lãnh đạo Việt Nam đề cập trong các phát biểu quan trọng.

Nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phát biểu trước Quốc hội ngày 25-11-2011 đã lặp lại không dưới ba lần từ "Việt Nam cộng hòa" và khẳng định: "Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp".

"Năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì hải quân chúng ta đã tiếp quản năm hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản".

Cũng cần nhắc lại là ngày 19 và 20-1-1974, trong trận hải chiến Hoàng Sa với Trung Quốc, 74 binh sĩ Việt Nam cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam.

Đó đơn giản là những người con của nước Việt, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam cùng với Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Ý nghĩa của điều đó rất rõ và trường tồn đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã từng đấu tranh 1.000 năm để có một lãnh thổ, và 1.000 năm để giữ gìn lãnh thổ.

TS Lê Trung Tĩnh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Tiền đề thống nhất nhân tâm

Chiến tranh đã chấm dứt từ năm 1975. Đã đến lúc dân tộc phải tiến hành công cuộc hòa giải. Thống nhất đất nước phải là tiền đề cho thống nhất nhân tâm, thống nhất tinh thần dân tộc...

Có như thế dân tộc mới mạnh, mới đoàn kết để chống xâm lược, để giữ gìn giang sơn, đất trời và biển.

Ai cũng vui mừng vì đã đến lúc ta phải gọi cho đúng tên các thực thể dân tộc trong quá khứ.

Việt Nam cộng hòa là một thực thể lịch sử. Thừa nhận chính thể Việt Nam cộng hòa như nó đã tồn tại ta sẽ làm giàu có thêm cho dân tộc vì đã có một nền giáo dục, một nền văn học, pháp chế, kinh tế... mà chúng ta cần nghiên cứu để thừa kế những giá trị và gạt bỏ những khuyết điểm, những yếu kém...

Và trên hết là hòa giải dân tộc, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc trong cuộc cạnh tranh và sống còn trong một thế giới còn nhiều thách thức.

Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc 

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20170820/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong/1372210.html
]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 22 Aug 2017 07:12:04 +0000
Ấn, Nhật, Mỹ, Việt : Bốn nước ngáng chân Trung Quốc tại Biển Đông http://www.seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-vietnam/4411-2017-07-18-08-23-55 http://www.seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-vietnam/4411-2017-07-18-08-23-55

Theo tác giả Ralph Jennings trên Forbes, một năm sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế La Haye, Trung Quốc lại càng thống trị Biển Đông hơn, bất chấp đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan. Đó là vì Trung Quốc bác bỏ phán quyết, nhưng đã tăng cường hợp tác kinh tế với một số nước để chắc chắn rằng không ai có thể gây phiền nhiễu.

Trung Quốc có quân đội đứng thứ ba thế giới và tổng sản phẩm nội địa thứ nhì thế giới, khiến khó thể đối phó với việc Bắc Kinh kiểm soát Biển Đông, đặc biệt đối với các quốc gia Đông Nam Á nhỏ yếu hơn. Nhưng không phải tất cả đều bó tay, mà theo nhà báo Ralph Jennings, có bốn quốc gia sau đây có thể tạt một gáo nước lạnh vào tham vọng kiểm soát vùng biển 3,5 triệu kilomet vuông giàu tài nguyên và mang tính chiến lược này.

1 - Ấn Độ

Ấn Độ không yêu sách chủ quyền Biển Đông, nhưng hy vọng ngăn chận được sự bành trướng của Trung Quốc. Quốc gia đồng minh của phương Tây với trang bị vũ khí hùng hậu, có hai khu vực biên giới tranh chấp với Trung Quốc đã đưa ra chính sách Hướng Đông năm 2014 để cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á vốn đang tăng trưởng nhanh chóng. Giả sử rằng Ấn Độ có thể hành động về kinh tế, nhưng có thể còn hơn thế nữa.

Hồi tháng Năm, Ấn Độ đã triển khai một hệ thống cảnh báo sóng thần tại Biển Đông, mặc dù Trung Quốc đã cho vận hành một hệ thống như thế. Năm 2014, chi nhánh hải ngoại của tập đoàn nhà nước ONGC đạt được thỏa thuận với Việt Nam về việc khai thác một vùng biển chồng lấn với “đường lưỡi bò” do Bắc Kinh tự vẽ. Trung Quốc không phản đối hệ thống cảnh báo sóng thần của Ấn Độ, nhưng kém vui hơn về thỏa thuận dầu khí.

 

2 – Nhật Bản

Là đối trọng của Trung Quốc tại châu Á, Nhật Bản năm 2014 đã tặng cho Việt Nam sáu chiếc tàu và năm ngoái đã đồng ý cho Philippines thuê năm phi cơ quân sự. Đây chỉ là hai trong số những ví dụ về việc Tokyo hỗ trợ các nước có tranh chấp Biển Đông với Bắc Kinh.

Một số người coi Nhật Bản là một quốc gia được phương Tây ủy nhiệm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Từ ngày 1/5, chiếc tàu chở trực thăng Izumo của Nhật bắt đầu hộ tống một tàu tiếp liệu của Mỹ, và có thể hoạt động tại Biển Đông trong tháng Tám với những chuyến cập cảng và tập trận với Ấn Độ, Hoa Kỳ tại vịnh Bengal.

Trung Quốc tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Tokyo quản lý, và rất lo lắng trước việc Nhật Bản tăng cường quân sự trong tương lai. Thế nên không có gì đáng ngạc nhiên khi một phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc hồi tháng Ba thông qua Tân Hoa Xã đã tuyên bố Nhật Bản không nên gây rắc rối trong khu vực.

3 – Hoa Kỳ

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho đến tháng Tư vẫn có một cách nhìn khác về sự bành trướng trên biển của Trung Quốc, với hy vọng Tập Cận Bình giúp được một tay trong việc ngăn chận Bắc Triều Tiên triển khai hỏa tiễn đạn đạo. Nhưng sự hợp tác này có vẻ không mang lại được kết quả, nên từ cuối tháng Năm Hải quân Mỹ đã lại tiến hành hai chuyến tuần tra vì tự do hàng hải trên Biển Đông, để chứng tỏ vùng biển này không phải là ao nhà của Trung Quốc. Bắc Kinh phản đối cả hai hoạt động hải hành này.

Hoa Kỳ không hề đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông, nhưng Bắc Kinh lo sợ vì nước Mỹ với thực lực quân sự hùng mạnh có thể dễ dàng thành lập các liên minh quân sự với các nước Đông Nam Á. Ví dụ chính là cuộc tuần tra hải quân chung với Philippines kể từ năm 2014.

4 – Việt Nam

Đây là quốc gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông duy nhất có khả năng đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc, từ việc bồi đắp đảo nhân tạo cho đến quân sự hóa các đảo. Cũng như các nước Đông Nam Á khác, Việt Nam giao thương nhiều với Trung Quốc với tổng giá trị trao đổi lên đến 95,8 tỉ đô la trong năm 2015.

Nhưng về cơ bản, Việt Nam không ưa Trung Quốc và không run sợ trước những cơn giận của người láng giềng khổng lồ, dù có quân đội nhỏ hơn. Có thể kể nhiều thế kỷ tranh chấp biên giới, trận chiến Hoàng Sa đẫm máu năm 1974 (nay quần đảo này do Trung Quốc kiểm soát), và sự đối đầu trên biển cách đây ba năm do Trung Quốc cho kéo một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa. Việt Nam có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Ấn Độ và Nhật Bản nếu cần. Do vậy Việt Nam vẫn tiến hành xác quyết chủ quyền các đảo nhỏ của mình và khoan dầu tại các khu vực có thể bị dính vào “đường 9 đoạn” mà Trung Quốc vẽ ra để yêu sách chủ quyền tại Biển Đông. Bắc Kinh rất bực tức – một tướng Trung Quốc đã bỏ ngang chuyến thăm Hà Nội vào tháng trước – nhưng Việt Nam có đủ quyết tâm và sự hỗ trợ để đương cự.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170717-an-nhat-my-viet-bon-nuoc-ngang-chan-trung-quoc-tai-bien-dong

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 18 Jul 2017 08:23:55 +0000
Chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và quy luật sinh tồn của muôn loài http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4383-2017-06-19-08-48-49 http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4383-2017-06-19-08-48-49 LTS: Tiến sĩ Trần Công Trục gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài bình luận đặc biệt của ông về chuyến thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Tòa soạn xin giới thiệu bài viết này đến quý bạn đọc và trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Công Trục! Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

1. “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” và quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam dưới thời Donald Trump

1.1.Diễn tiến quan hệ Việt - Mỹ

Sau Chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã huy động tới ba triệu người Mỹ tham gia một cuộc chiến vô nghĩa kéo dài hàng mấy chục năm, Việt Nam không còn là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thập niên 80 và 90.

Việc tái lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt năm 1995 là một dấu mốc hết sức to lớn trong quan hệ song phương, nhưng không phải là một sự xoay chuyển lớn trong chủ trương của Hoa Kỳ. 

Theo ông Burghadt, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam từ năm 2001 đến 2004, quan hệ đôi bên đã được siết chặt hơn vào cuối thập niên 90, chủ yếu nhắm vào các cơ hội kinh doanh, nhưng tiến độ vẫn chậm chạp. 

Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 2001, khi chính quyền Tổng thống George W. Bush có quan điểm khắt khe hơn với Trung Quốc so với thời ông George H.W. Bush và Bill Clinton. 

Tổng thống Bill Clinton năm 1997 đã cam kết hướng tới việc “ xây dựng quan hệ đối tác chiến lược” với Bắc Kinh, nhưng ứng cử viên George W. Bush năm 1999 cho rằng, Trung Quốc cần được coi là «đối thủ chiến lược», chứ không phải là «đối tác chiến lược».

alt
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Bà Condoleezza Rice, Cố vấn An ninh quốc gia của ông George W. Bush, trong một bài viết năm 2000 nhận định Trung Quốc có «các lợi ích cốt lõi không thể giải quyết, đặc biệt về Đài Loan và Biển Đông»;

Bắc Kinh «bực tức trước vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á-Thái Bình Dương», và «muốn thay đổi cán cân quyền lực tại châu Á sang hướng có lợi cho mình». 

Quan điểm địa- chính trị này đã giúp nâng cao vai trò của Việt Nam trong chính sách Mỹ.

Tháng 7/2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 8,  chấp nhận các tiêu chí thực tiễn hơn để đánh giá một chính phủ nước ngoài là «đối tác» hay «đối tượng”. 

Bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam năm 2003 đã mở đường cho việc tham gia trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo. Hà Nội đẩy nhanh việc thương lượng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trở thành thành viên năm 2006;

Đến năm 2008, Việt Nam sẵn sàng chấp nhận đề nghị của chính quyền Bush về việc tham gia Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP.

Bắt đầu từ cuối những năm 2000, những thách thức không ngừng tăng lên từ phía Trung Quốc, đặc biệt là thái độ hung hăng của Bắc Kinh trên Biển Đông, đã tạo động lực mới cho mối quan hệ đối tác Việt-Mỹ. 

Một năm sau tuyên bố tại diễn đàn ASEAN ở Hà Nội tháng 7/2010, rằng «Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia» trên Biển Đông, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nêu ra chiến lược mới của Mỹ được gọi là «xoay trục», theo đó Hoa Kỳ muốn triển khai quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. 

Trong chuyến đi Việt Nam tháng 7/2012, bà Clinton đã mời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm chính thức Hoa Kỳ. Người Mỹ hy vọng chuyến thăm chưa có tiền lệ này được thực hiện vào năm 2013.

Nhưng người thực hiện chuyến công du này của lãnh đạo Việt Nam không phải là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mà là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, và kết quả là bản Tuyên bố chung về Hợp tác toàn diện Việt-Mỹ.

alt
Lực lượng chức năng Việt Nam đấu tranh yêu cầu phía Trung Quốc rút giàn khoan 981 khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam và không có tranh chấp trong khủng hoảng năm 2014, ảnh: The Japan Times.

Mùa hè năm 2014, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan lớn nhất trị giá 1 tỉ đô la, mang tên Hải Dương 981, cắm sâu vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Sự kiện này gây ra phong trào phản đối Trung Quốc kéo dài nhiều tháng tại Việt Nam.

Đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất giữa hai nước trên Biển Đông, kể từ sau vụ Trung Quốc thảm sát hơn 70 thủy thủ Việt Nam Cộng hòa năm 1974 và chiếm sáu thực thể địa lý ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa năm 1988.

Cũng vào thời điểm này, Việt Nam quyết định đẩy nhanh việc chuẩn bị cho chuyến công du của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tiến hành vào tháng 7/2015.

Việc Tổng thống Barack Obama phá vỡ mọi rào cản nghi thức để đón tiếp trang trọng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn không có chức vụ chính thức trong chính quyền, là một sự kiện mang tính đột phá trong quan hệ giữa 2 nước có chế độ chính trị khác biệt nhau.  

Chuyến thăm chính thức nước Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm giảm  mối nghi ngại về sự đe dọa của Hoa Kỳ đối với thể chế chính trị của Việt Nam.

Và tiếp đến là chuyến công du Việt Nam của ông Obama tháng 5/2016, với việc bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí áp đặt lên Việt Nam từ nhiều thập niên qua, càng làm tăng thêm sự tin cậy giữa hai cựu thù.

Trong cuộc cạnh tranh địa- chính trị giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, việc giữ thăng bằng quan hệ ngoại giao và chính trị giữa Washington và Bắc Kinh là chủ trương thực tế của Việt Nam.

Trong tình hình đó, lãnh đạo của Hoa Kỳ thời kỳ mới - Tổng thống Donald Trump cho dù đã tuyên bố chuyển hướng từ chính sách “xoay trục châu Á-Thái Bình Dương” sang “làm cho Mỹ vĩ đại trở lại”, vẫn nhận thấy rằng:

Mỹ vẫn cần phải tăng cường năng lực cả kinh tế lẫn quân sự; chứng tỏ sức mạnh của Mỹ trước Trung Quốc; và cần duy trì quan hệ hữu nghị với Việt Nam.

Các mục tiêu này cần được thực hiện qua một loạt các chính sách rộng rãi, chứ không giới hạn ở quan hệ song phương Mỹ-Việt;

Chú trọng mặt luật pháp chứ không phải dựa theo hiện trạng đối với Biển Đông và phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam.

Cụ thể là, Hoa Kỳ và Việt Nam cần có một hiệp định thương mại và đầu tư vững chắc, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế và làm tăng sức mạnh quân sự một cách gián tiếp, mang lại lợi ích địa- chính trị lâu dài.

Tuy một thỏa thuận đa phương như TPP khó có thể đạt được, Hoa Kỳ và Việt Nam có thể thương lượng một hiệp định thương mại song phương mới.

Nó không chỉ nhằm cải thiện tình trạng giao thương Mỹ-Việt hiện nay mà còn cho cả môi trường kinh tế Việt Nam. Ví dụ năm 2016, Việt Nam xuất siêu 32 tỉ đô sang Hoa Kỳ, nhưng lại nhập siêu 28 tỉ đô la từ Trung Quốc.

Hiệp định mới cần nhắm đến việc giảm xuất siêu sang Mỹ qua việc tăng nhập khẩu thiết bị, hàng hóa kỹ thuật cao từ Hoa Kỳ và giảm nhập siêu hàng chất lượng thấp từ Trung Quốc.

alt
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ảnh: Báo Công an Nhân Dân.

Tuyên bố chung nhân chuyến công du sang Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thể hiện rõ xu hướng tất yếu và tích cực này.

Có thể nói Tuyên bố chung này đã một lần nữa đã chứng minh kết quả của chủ trương chiến lược và những bước triển khai chủ trương đó của Việt Nam trong quan hệ với các siêu cường.

Bởi vì, nó dựa trên nền tảng của nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi; vì  lợi ích của các bên và phù hợp với các quy luật khách quan trong sự phát triển của các quan hệ chính trị, kinh tế…giữa các quốc gia có phương thức sản xuất và thể chế chính trị khác nhau… 

1.2. Xác lập quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” với Việt Nam

Đến nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc đang nhanh chóng thu ngắn khoảng cách, sẵn sàng trở thành siêu cường ngang hàng, thậm chí vượt Mỹ, trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

Trước tình hình đó, để duy trì vị trí siêu cường số một đang trước nguy cơ bị ảnh hưởng, lung lay, thậm chí bị rơi vào tay Trung Quốc, Hoa Kỳ rất cần đến các “đồng minh” trong vùng.

Nếu Việt Nam trở thành “đồng minh” của Mỹ thì cán cân sẽ nghiêng về phía Mỹ.

Bởi vì, trong lịch sử,Việt Nam là một quốc gia duy nhất có khả năng và kinh nghiệm kháng cự, đối phó với Trung Quốc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cả trong thời chiến lẫn thời bình.

Do hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế… của Việt Nam, “đồng minh” này có thể không đòi hỏi những cam kết tương tự như Hoa Kỳ đã ký kết với các đồng minh khác trong khu vực.

Nó có thể được gọi là «quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện».

Theo nhận xét của nhiều học giả, Washington và Hà Nội đang tiến đến hướng này. Chuyên gia Alexander Vuving kết luận, muốn thành công trong đối sách với Việt Nam, Hoa Kỳ cần phải thực hiện ba mục tiêu:

Một hiệp định thương mại đầu tư cho tương lai; buộc Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông và hoàn thành liên minh Mỹ-Việt, làm vô hiệu hóa ưu thế của Bắc Kinh tại Đông Nam Á.

Tuyên bố chung Mỹ-Việt năm 2017 đề ra việc hợp tác trong nhiều lĩnh vực, từ quan hệ ngoại giao cho đến kinh tế thương mại; từ công nghệ, giáo dục đến quốc phòng và an ninh;

Từ văn hóa, thể thao, du lịch cho đến giải quyết hậu quả chiến tranh; từ môi trường, y tế đến vấn đề nhân quyền …về cơ bản, đã thêm một lần nữa đánh dấu bước phát triển mới, tích cực, theo chiều hướng nói trên.

2. Tác động của chuyến công du thành công của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Theo đánh giá của dư luận, kể cả từ những góc nhìn tiêu cực, đều công nhận rằng chuyến công du Mỹ vừa qua của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thành công tốt đẹp.

alt

Cuộc hội ngộ, tương phùng giữa những chính nhân quân tử

Thành công đó đã được cụ thể hòa bằng một bản Tuyên bố chung, bao gồm đầy đủ các nội dung chủ yếu và cần thiết của mối quan hệ đối tác (chiến lược) toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tuyên bố chung vừa mang tính định hướng chiến lược, vừa thể hiện một cách rõ ràng, công khai về lập trường của cả hai bên đối với những vấn đề song phương, khu vực và quốc tế.

Có thể nói, những nội dung của Tuyên bố chung này đã phát huy được tác dụng tích cực của nó trước những diễn biến phức tạp hiện nay ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Bắc Á và Biển Đông.

Một số sự kiện chính trị sau đây đã phản ánh những tác động tích cực nói trên:

2.1. Đối thoại Shangri-La, diễn đàn an ninh khu vực và lập trường của Hoa Kỳ đối với những căng thẳng ở Biển Đông

Diễn đàn an ninh khu vực mang tên Đối thoại Shangri-La bắt đầu từ năm 2002 dưới sự chủ trì của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) và Chính phủ Singapore.

Hội nghị này mang tên của khách sạn nơi các cuộc gặp song phương và đa phương diễn ra từ 2-4 tháng Sáu.  

Diễn đàn năm nay có sự tham dự của 12 Bộ trưởng Quốc phòng. Thủ tướng Australia, ông Malcolm Turnbull có bài phát biểu nhập đề vào tối hôm khai mạc 2/6.

Trung tướng Nguyễn Đức Hải, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an đại diện đoàn Việt Nam.

Tướng Nam phát biểu tại một phiên thảo luận có chủ đề "Các biện pháp thực chất nhằm tránh xung đột trên biển" vào chiều 3/6.

Đại tá Zhou Bo, Giám đốc Trung tâm Hợp tác Quốc tế từ Bộ Quốc phòng Trung Quốc, tham gia phiên thảo luận này.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tướng James Mattis chủ trì phiên thảo luận mở màn vào hôm 3/6 với chủ đề Hoa Kỳ và An ninh châu Á - Thái Bình Dương.

Ông Mattis phát biểu về "trật tự quốc tế" cần có cho một châu Á hòa bình, nhắc tới việc chống lại Bắc Triều Tiên và nhấn mạnh Mỹ đứng cùng với các đồng minh và các đối tác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương;

Mỹ sẽ tập trung vào việc củng cố các liên minh, tiếp sức cho các nước để họ có thể duy trì an ninh của chính họ, củng cố năng lực quân sự của Mỹ để ngăn chặn chiến tranh;

Hoa Kỳ phản đối các quốc gia quân sự hóa các hòn đảo nhân tạo và thực thi thái quá các yêu sách biển. Mỹ không thể và sẽ không chấp nhận những thay đổi đơn phương, cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng.

Câu hỏi lớn nhất trong các đại biểu châu Á tham dự diễn đàn là vai trò của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục như thế nào trong khu vực ngày càng căng thẳng này?

Sáng 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện tại châu Á - Thái Bình Dương.

Người đứng đầu Lầu Năm Góc cũng cho biết, Mỹ sẽ không chấp nhận việc Trung Quốc coi thường luật quốc tế với các hoạt động phi pháp trên Biển Đông.

alt

Mỹ đã lật bài ngửa về Biển Đông tại Đối thoại An ninh Shangri-la

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói Mỹ là "quốc gia Thái Bình Dương về cả địa lý lẫn tầm nhìn", khẳng định Washington vẫn sẽ tiếp tục duy trì các lợi ích chiến lược tại đây.

Phát biểu của ông Mattis được kỳ vọng giúp trấn an các đồng minh của Mỹ tại khu vực sau những tuyên bố của Tổng thống Donald Trump về việc giảm dần ảnh hưởng quốc tế của Washington, chủ trương "Nước Mỹ trên hết".

Người đứng đầu Lầu Năm Góc đề cập đến 3 cách thức mà Bộ Quốc phòng Mỹ áp dụng để ứng phó với các thách thức an ninh tại khu vực.

Theo đó, một là Mỹ sẽ củng cố các liên minh; hai là giúp đỡ các quốc gia trong khu vực "tự lực cánh sinh" và thứ ba là tăng cường năng lực quân sự của Mỹ tại khu vực.

Như vậy, có thể thấy chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã "lật bài ngửa" trong chính sách an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương qua phát biểu của ông James Mattis tại Đối thoại An ninh Shangri-la.

Về Biển Đông, tướng James Mattis nhắc lại những tuyên bố lên án Trung Quốc quân sự hóa bất hợp pháp đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và tự do hàng hải - hàng không trên Biển Đông, phá vỡ luật pháp quốc tế...

Ngoài những nội dung và thông điệp quen thuộc vẫn thấy lâu nay, nhắc lại cam kết duy trì trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông, Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên của Mỹ.

Tuy nhiên, tính toán lợi ích chiến lược của mình trong khu vực trước mối đe dọa chiến tranh hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mỹ đã một lần nữa sử dụng Biển Đông như là một con bài chiến lược để mặc cả với Trung Quốc.

Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên…
   
2.2. Phản ứng và hành xử của Trung Quốc và Mỹ                                          
2.2.1. Kế “điệu hổ ly sơn” đã bị phát giác ?

Các hoạt động thử vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Triều Tiên chính là “con bài chiến lược” mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dùng để mặc cả với Tổng thống Donald Trump về Biển Đông.

Nhưng cho đến nay, con bài này dường như bị vô hiệu hóa, bởi vì:

Thứ nhất: Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra Nghi quyết trừng phạt Bình Nhưỡng với 100% phiếu thuận, trong đó có cả Trung Quốc và Nga trong phiên họp ngày 2/6.

Nghị quyết được 15 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua.

Nghị quyết này sẽ cấm đi lại trên toàn cầu và phong tỏa tài sản của 14 cá nhân người Triều Tiên và 4 cơ quan của nước này, trong đó có ngân hàng Koryo.

Nghị quyết này đạt được sau 5 tuần đàm phán giữa Washington và Bắc Kinh.

Phát biểu sau cuộc bỏ phiếu, Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley cho rằng, nghị quyết mới được thông qua đã gửi một thông điệp rõ ràng tới Triều Tiên rằng nước này cần ngừng ngay việc thử các tên lửa đạn đạo nếu không sẽ phải đối mặt với các hậu quả.  

Như vậy, việc Trung Quốc buộc phải bỏ phiếu thông qua Nghi quyết này cho thấy “con bài chiến lược” mà họ sử dụng để mặc cả với Mỹ đã không còn tác dụng như họ mong muốn. 

alt

Biển Đông và Triều Tiên, Mỹ đã trúng kế điệu hổ ly sơn của Trung Nam Hải?

Thứ hai: Sau một thời gian chờ đợi hành động của Trung Quốc trước những vụ thử tên lửa “xịt” của Triều Tiên, có lẽ Mỹ đã nhận ra được kế sách “điệu hổ ly sơn” của Bắc Kinh và đã bắt đầu ra tay ở Biển Đông và Hoa Đông.

Khi thấy đây chỉ là kế "điệu hổ ly sơn" của Trung Nam Hải và, ông Tập Cận Bình không thực sự sử dụng đòn bẩy của mình theo mong muốn của người Mỹ, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã có những hiệu chỉnh chính sách.

Trước đối thoại Shangri-la, nhiều nhà phân tích quốc tế dự đoán vấn đề Triều Tiên có thể sẽ lấn át chủ đề quân sự hóa Biển Đông tại kỳ đối thoại quan trọng nhất trong năm về an ninh châu Á - Thái Bình Dương này.

Tuy nhiên thực tế diễn ra ngược lại, Biển Đông vẫn là một chủ đề nóng thu hút sự quan tâm và bày tỏ thái độ của các cường quốc.

Biển Đông không phải là câu chuyện của riêng các nước có yêu sách, mà là một vấn đề an ninh nóng bỏng của khu vực và toàn cầu.

Bởi lẽ, đây là nơi diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, tất nhiên bao gồm cả nguyên nhân căng thẳng từ yêu sách bành trướng và tham vọng của Bắc Kinh độc chiếm vùng biển này.

Chính vì vậy, cục diện Biển Đông có liên hệ chặt chẽ, biện chứng với cấu trúc và cục diện an ninh châu Á - Thái Bình Dương, tức nằm trong bàn cờ chiến lược lớn hơn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Vì thế một nước cờ nào đó diễn ra ở Đông Bắc Á, có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến cục diện Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.  

Hiệu chỉnh đầu tiên là Mỹ cho chiến hạm USS Dewey tuần tra tự do hàng hải quanh bãi cạn Vành Khăn, và lần đầu tiên diễn tập cơ động trong phạm vi 12 hải lý xung quanh cấu trúc vốn là một bãi cạn lúc chìm lúc nổi này.

Hiệu chỉnh thứ hai là các tuyên bố mạnh mẽ về Biển Đông, Triều Tiên tại Đối thoại Shangri-la.

Nếu như trong vấn đề Biển Đông, phát biểu của ông James Mattis chủ yếu nói cho các đồng minh và đối tác nghe, thì trong vấn đề Triều Tiên, ông nhắc lại với Trung Nam Hải:

"Một khi Hoa Kỳ đã cạn kiệt tất cả các lựa chọn thay thế, người Mỹ sẽ làm đúng. Chúng tôi sẽ vẫn có mặt ở đó".

Phát biểu này cũng chính là nội dung tuyên bố của Tổng thống Donald Trump theo tường thuật của CNN ngày 2/4: Trung Quốc không giúp thì để Mỹ tự làm theo cách của mình. 

2.2.2. Vẫn còn đó nước cờ “một Trung Quốc” của Mỹ trong quan hệ với Bắc Kinh?

Vấn đề đảo Đài Loan, khi phái đoàn Trung Quốc đặt câu hỏi, ông James Mattis đã không ngần ngại trả lời thẳng:

"Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn kiên định làm việc với Đài Loan và chính quyền dân chủ của họ, để cung cấp cho họ các thiết bị quốc phòng cần thiết, phù hợp với nghĩa vụ được quy định trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan.

Bởi vì chúng tôi đứng ra giải quyết một cách hòa bình với bất kỳ vấn đề nào theo cách thức mà người dân hai bờ eo biển Đài Loan có thể chấp nhận được.”.

alt
Nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn và Tổng thống Mỹ Donald Trump, ảnh minh họa: Youtube.

Đài Loan vẫn là con bài chiến lược dự trữ rất có giá trị của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương.

Một cú điện đàm giữa Tổng thống Donald Trump với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hay việc quay sang nhắc lại tôn trọng cam kết “một nước Trung Quốc” với ông Tập Cận Bình chỉ là những nước cờ chiến thuật, nhằm tối đa hóa lợi ích cho Mỹ thông qua đòn bẩy này mà thôi.

Rõ ràng là: Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu nói chung, đặc biệt tập trung vào châu Á - Thái Bình Dương nói riêng.

Cân bằng quan hệ với 2 siêu cường Trung - Mỹ là việc cần làm và cần phải làm tốt, để bảo vệ chính mình , cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh chung cho khu vực.

Với đầu óc thực dụng, Donald Trump và Tập Cận Bình làm gì cũng có tính toán cẩn thận, các nước nhỏ cần nghiên cứu kỹ chính sách và xu hướng của hai nhà lãnh đạo này để không bị trở thành những quân cờ  trong bàn cờ chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của 2 siêu cướng Mỹ, Trung.

3. Các quốc gia châu Á-TBD nên và cần làm gì ?

3.1.Tự lực cánh sinh và quy luật sinh tồn

Một số quốc gia châu Á đang tìm cách củng cố các liên minh không chính thức với nhau, vì những lo ngại rằng không thể dựa vào một mình Hoa Kỳ để duy trì vùng đệm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Các nước Australia, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam đang lặng lẽ đẩy mạnh các cuộc thảo luận và hợp tác.

Phát biểu đề dẫn Đối thoại An ninh Shangri-la lần thứ 16 vừa qua, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull nói:

"Trong thế giới mới bất ổn này, chúng ta không thể dựa vào một sức mạnh tuyệt đối để bảo vệ lợi ích của mình.

Chúng ta phải chịu trách nhiệm với an ninh và thịnh vượng của chính mình, trong khi thấy rõ rằng chúng ta sẽ trở nên mạnh hơn khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo tập thể với các bạn bè và đối tác tin cậy.".

Để minh họa sống động cho nhận xét này, Thủ tướng Malcolm Turnbull phát biểu:

"Thưa ngài thủ tướng (Lý Hiển Long)! Cha của ngài và đồng thời cũng là vị quốc phụ, ngài Lý Quang Diệu, rất sâu sắc.

Ông hiểu rằng sự ổn định chiến lược không tự nhiên mà có.

Năm 1966 khi Cộng hòa Singapore mới được khoảng 1 năm tuổi, Anh quốc bắt đầu tính chuyện rút các lực lượng quân sự khỏi phía Đông Suez, ông đã nói về tầm nhìn chiến lược.

Ông Lý Quang Diệu trích dẫn một câu phương ngôn của người Trung Quốc, đại ý cá lớn nuốt cá bé, cá bé ăn tép riu.  

Ông đã mô tả về cách làm thế nào để con tép riu trong câu phương ngôn này, lấy ví dụ như quốc đảo Singapore khiêm tốn và nhỏ tuổi, có thể sinh tồn và phát triển tốt.

Đó là cách con tép nhỏ làm cho bản thân mình "khó nuốt" đối với những con cá, bằng cách trở nên tự chủ và mạnh mẽ hơn.

Nó có thể làm bạn với các con cá lớn khác, xây dựng liên minh mạnh mẽ và an ninh tập thể.  

Hòa bình và ổn định đã trở thành nền tảng cần thiết cho sự tiến bộ, thịnh vượng và tự do trong khu vực của tất cả chúng ta…”

…Với sự hiện diện của đầy đủ "tôm tép, cá nhỏ, cá vừa và cá lớn" tại đây (Đối thoại Shangri-la) ngày hôm nay, chúng ta phải đối mặt với hơn một sự lựa chọn mang tính đối nghịch, giữa sự sống và cái chết, giữa chiến tranh và hòa bình…  

Các điểm nóng trong khu vực gia tăng, mâu thuẫn dường như vô tận ở Trung Đông và châu Phi, sự điên rồ và bệnh hoạn của chủ nghĩa khủng bố, sự biến đổi kinh tế và biên giới ở châu Âu, sự can thiệp bên ngoài và mức độ tha hóa chính trị hay chủ nghĩa dân tộc ngày càng sâu sắc hơn những gì chúng ta từng thấy kể từ năm 1930…”.

3.2. Chia sẻ là hạnh phúc, đoàn kết là sức mạnh và cách hành xử của Trung Quốc

Thủ tướng Malcolm Turnbull nhắn nhủ các quan chức và học giả tham dự Đối thoại Shangri-la lần thứ 16:

alt

Châu Á có các "liên minh mới" chống Trung Quốc bành trướng Biển Đông?

"Trong thế giới mới đầy thách thức này, chúng ta không thể dựa vào một sức mạnh tuyệt đối để bảo vệ lợi ích của chúng ta.  

Chúng ta phải chịu trách nhiệm về an ninh và thịnh vượng của chính mình, trong khi chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo tập thể với các đối tác và bạn bè tin cậy.

Những đám mây âm u đang tập trung các dấu hiệu của sự không chắc chắn, không ổn định, đòi hỏi tất cả chúng ta phải đóng vai trò tích cực hơn trong việc bảo vệ và định hình tương lai của khu vực này…”

…Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ tham gia hàng ngũ những nền kinh tế lớn với sức mạnh và ảnh hưởng chiến lược được các nhà lãnh đạo và dân chúng hai nước này xem như sự trở lại trật tự tự nhiên.

Nhưng sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc tiếp tục là chủ đề của những tranh luận gay gắt nhất.

Trung Quốc sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong định hình khu vực.

Bắc Kinh sẽ tìm cách tăng ảnh hưởng chiến lược để phù hợp với sức mạnh kinh tế mới cũng là điều dễ hiểu. 

Nhưng chúng tôi muốn thấy một Trung Quốc xây dựng vai trò lãnh đạo theo cách củng cố trật tự khu vực đã giúp chúng ta chung sống rất tốt...

Trung Quốc đã thu hoạch được nhiều nhất từ môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực chúng ta.

Do đó họ cũng sẽ là nước mất nhiều nhất nếu hòa bình và ổn định khu vực bị đe dọa.

Sự phát triển nhanh chóng của một cường quốc mới, cho dù là Athens cổ đại hay Trung Quốc đương đại, đều tạo ra sự lo lắng…

…Một Trung Quốc cưỡng chế sẽ nhìn thấy các nước láng giềng phản đối họ vì các đòi hỏi nhượng bộ về quyền tự chủ và không gian chiến lược.

Các nước này sẽ cân bằng với sức mạnh của Bắc Kinh bằng cách củng cố liên minh và hợp tác đặc biệt giữa họ với Hoa Kỳ.

Cũng giống như nước Trung Quốc hiện đại được thành lập năm 1949 trên cơ sở khẳng định chủ quyền quốc gia, trong thế kỷ 21 Trung Quốc sẽ thành công hơn nhiều bằng cách tôn trọng chủ quyền các nước khác.".

Có lẽ những lời lẻ trên đây đã thể hiện khá đầy đủ ý nguyện chung của cộng đồng trước những diễn biến khôn lường trong phạm vi khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng và quốc tế nói chung. 

3.3. Chọn Bắc Kinh hay Washington?

Trong quá trình tồn tại và phát triển của Quốc đảo Sư tử, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã thực hiện chủ trương dung hòa và cân bằng rất tốt trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Ngày nay, ngay cả một nước không hề nhỏ, lại là đồng minh của Mỹ như Australia cũng đang đi theo con đường Lý Quang Diệu đã dẫn dắt Singapore đến thành công.

Thủ tướng Malcolm Turnbull nói rằng:

"Chúng tôi có một người bạn tốt, một đối tác tốt là Bắc Kinh, trong khi có một người bạn kiên định và đồng minh là Washington.

Không có gì trở ngại với chúng tôi khi giao dịch với cả hai quốc gia này.

Hợp tác với nước này không làm hạn chế giao dịch của chúng tôi với nước kia.".

Chính sách đối ngoại của các nước nhỏ trong khu vực  được xác định bởi và chỉ bởi lợi ích quốc gia, dân tộc mình.

Vì vậy, an ninh và thịnh vượng phụ thuộc vào sự ổn định và hòa bình liên tục trong khu vực, một điều chỉ có thể đạt được nếu tất cả các quốc gia phát triển theo con đường họ chọn mà không cưỡng ép hoặc can thiệp vào quốc gia khác.

Các nước, nhất là các nước nhỏ, cần đoàn kết bảo vệ hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế, không đứng về phía Trung Quốc để chống Mỹ và ngược lại, có lẽ là chủ trương và  cách ứng xử thích hợp nhất trong bối cảnh hiện nay đang được Singapore, Australia, Việt Nam, Philippines… vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả nhất theo cách riêng của mình./.

Tài liệu tham khảo:

- Chuyến đi Washington của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong ngày 30-31/5/2017 giúp làm tăng vị thế ngoại giao của Việt Nam, theo một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) từ Hoa Kỳ. BBC ngày 30/5/2017.

- Chuyến đi 'không đột phá, nhưng có kết quả' ,BBC ngày 4 tháng 6 2017.

- Diễn đàn an ninh vùng: Biển Đông nằm ở đâu? BBC ngày 2 tháng 6 2017

- Hồng Thủy (giaoduc.net.vn 09:55 04/06/17); Mỹ đã lật bài ngửa về Biển Đông tại Đối thoại An ninh Shangri-la

- Hồng Thủy (giaoduc.net.vn, 15:52 05/06/17): Châu Á có các "liên minh mới" chống Trung Quốc bành trướng Biển Đông?

- Hồng Thủy(giaoduc.net.vn 11:12 03/06/17 ): Thông điệp của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về Biển Đông, Triều Tiên tại Shangri-la.

- Chính quyền Mỹ thời Donald Trump không hề quên Biển Đông, VOV, Thứ 2, 19:05, 05/06/2017.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Chuyen-tham-My-cua-Thu-tuong-Nguyen-Xuan-Phuc-va-quy-luat-sinh-ton-cua-muon-loai-post177172.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Mon, 19 Jun 2017 08:48:49 +0000
Thủ tướng: Châu Á phải là nơi chúng ta được nghe ‘giấc mơ’ của mọi quốc gia http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4373-2017-06-05-09-38-59 http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4373-2017-06-05-09-38-59 Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam… còn ít được biết đến, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á ở Tokyo, Nhật Bản.

Sáng nay, tại Tokyo, Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự và có bài phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 23.

Chủ đề của Hội nghị năm nay là “Chủ nghĩa toàn cầu hóa giữa ngã tư đường - Bước đi tiếp theo của châu Á” với sự tham dự của lãnh đạo cấp cao và chính khách nhiều nước châu Á cũng như các tập đoàn lớn trên thế giới.

Châu Á là động lực tăng trưởng chủ chốt

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Mở đầu bài phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói về nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, người đã phát hiện ra chìa khóa cho sự thịnh vượng của một quốc gia đó là "tự do tự nhiên", được hiểu là tự do sản xuất và trao đổi hàng hóa theo nhu cầu tự nhiên, mở cửa thị trường trong nước cũng như quốc tế để cạnh tranh theo nguyên tắc tự do, công bằng. Theo Thủ tướng, đó chính là nền tảng quan trọng của toàn cầu hóa và trên thực tế tiến trình này đã diễn ra hàng trăm năm trước đó.

“Sự kiện hôm nay diễn ra tại Nhật Bản nhắc tôi nhớ lại từ khoảng thế kỷ 16, Hội An, một thương cảng nằm ở tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, đã dần hình thành một trong những nơi buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền ở châu Á”, Thủ tướng bày tỏ. Người Nhật Bản là những nhà kinh doanh quốc tế thuộc thế hệ đầu tiên đã có những đóng góp quan trọng, đưa Hội An tham gia vào hệ thống thương mại xuyên biên giới, trở thành nơi mà cho đến hôm nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích của một mô hình cảng thị hội nhập quốc tế ở vào buổi sơ khai của nền thương mại toàn cầu.

Thủ tướng cho rằng, thực tế lịch sử cho thấy, dù chúng ta ủng hộ hay không ủng hộ toàn cầu hóa thì đó vẫn là xu thế tất yếu. Trong nhiều thế kỷ qua, những hành trình ngược xuôi, những câu chuyện huyền thoại trên con đường tơ lụa lịch sử đã giúp chúng ta hiểu một điều quan trọng: Toàn cầu hóa không chỉ là một tiến trình kinh tế mà còn là sự phản ánh những khát vọng vươn xa, những mưu cầu hạnh phúc và chinh phục thử thách của loài người.

Thủ tướng cho rằng châu Á, châu lục lớn nhất thế giới về diện tích và dân số, đa dạng về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, đang là động lực tăng trưởng chủ chốt trong quá trình toàn cầu hóa.

Sự vươn lên của châu Á là sự vươn lên của tập hợp các quốc gia luôn hướng tới hội nhập quốc tế sâu sắc và mạnh mẽ, như Singapore, nền kinh tế mở, năng động bậc nhất thế giới; Hàn Quốc - "kỳ tích sông Hàn” của châu Á và là nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới, một thành viên quan trọng của OECD. Hay Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với nhiều thập niên tăng trưởng ngoạn mục, đưa hàng trăm triệu người thoát nghèo.

Với trên 150 hiệp định thương mại tự do và khu vực, chiếm 58% tổng số hiệp định của thế giới, châu Á đi đầu về hợp tác, hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, quá trình hội nhập toàn cầu cũng đang đặt châu Á trước nhiều thách thức.

Những diễn biến phức tạp về chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, các mối đe dọa khủng bố, các vụ thử tên lửa trên bán đảo Triều Tiên; những căng thẳng trên Biển Hoa Đông, Biển Đông vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ về an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không của tuyến đường biển quốc tế.

Biến đổi khí hậu cùng với những thảm họa về bệnh dịch, thiên tai, gây thiệt hại nặng nề về tài sản và con người. Mối lo ngại về sự đồng nhất và một nền văn hóa phổ quát sẽ làm phai nhạt tính độc đáo và các giá trị bản sắc châu Á.

Châu Á cần làm gì?

“Đứng trước thách thức đó, châu Á cần phải làm gì”, Thủ tướng đặt vấn đề và nêu ra 3 nhóm biện pháp.

Thứ nhất, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong bối cảnh châu Á đang có những thay đổi mang tính cấu trúc. Theo đó, cần tạo dựng quan hệ gắn kết lành mạnh, tăng cường lòng tin, sự thực tâm giữa các quốc gia về an ninh, chính trị và phát triển kinh tế thông qua các hiệp định song phương, đa phương, các liên kết chiến lược khu vực và liên lục địa;

Tập trung giải quyết các khác biệt nội tại khu vực và hành xử có trách nhiệm của các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Gia tăng sức mạnh mềm châu Á thông qua việc truyền thông, gìn giữ và phát huy tính đa dạng, nét độc đáo về bản sắc văn hóa và những "giá trị châu Á" mà cố Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã từng đề cập đến như tinh thần lao động cần cù, ý thức tiết kiệm, sự hiếu học, tình bằng hữu và sự gắn kết gia đình... Đồng thời chúng ta mở cửa hợp tác, tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn hóa của các châu lục khác.

Thứ hai, giải quyết bài toán về mô hình phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh, bền vững và bao trùm. Theo đó, cần tạo sự gắn kết lành mạnh giữa các nền kinh tế, thúc đẩy kết nối nhiều mặt và đa tầng nấc giữa các quốc gia, gồm kết nối hạ tầng mềm nhằm tạo dựng môi trường chính sách thuận lợi cho các hoạt động kinh tế thương mại; kết nối giao thông/hạ tầng cứng để bảo đảm cho sự di chuyển an toàn, thuận lợi của người dân và hàng hóa; kết nối về con người; kết nối về môi trường tự nhiên như hợp tác trong giải quyết các thách thức về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, quản lý thiên tai. Kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa hiện tại và các giá trị lịch sử, giữa hiện đại và truyền thống, giữa chủ nghĩa toàn cầu và bản sắc dân tộc, bảo toàn sự đa dạng văn hóa.

Thứ ba, tối ưu hóa nguồn lực, phối hợp và phát huy vai trò tích cực của các định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB)…

Thủ tướng cho rằng, chính những thể chế, tôn chỉ, nguyên tắc, luật lệ được xây dựng bởi các định chế quốc tế này cùng với tổ chức khu vực như ASEAN, APEC… đã góp phần quan trọng duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới nói chung và châu Á nói riêng.

“Giấc mơ” cho mọi quốc gia châu Á

Thủ tướng chia sẻ: Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam... còn ít được biết đến. Châu Á phải là một nơi mà ở đó chúng ta sẽ được lắng nghe về giấc mơ của mọi quốc gia, của nước lớn cũng như nước nhỏ, nước phát triển cũng như chưa phát triển.

Tất cả đều được đối xử trên nguyên tắc tự do, bình đẳng không sự phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, màu da, sắc tộc hay giới tính. Tất cả cùng hợp tác, đóng góp vì hòa bình và thịnh vượng cho mọi quốc gia, mọi người dân châu Á.

 
 

Tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu tình hình kinh tế-xã hội và tiềm năng phát triển của Việt Nam, đang trở thành một thị trường hấp dẫn có sức mua ngày càng lớn với tầng lớp trung lưu chiếm trên 10% dân số và đang gia tăng nhanh chóng.

Thủ tướng nhấn mạnh, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hết lòng phục vụ người dân và doanh nghiệp, với những định hướng lớn như kiến tạo các cơ hội phát triển cho đất nước thông qua tăng cường hội nhập quốc tế, tham gia vào các cấu trúc quản trị toàn cầu. Kiến tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy vai trò động lực của kinh tế tư nhân và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu dựa trên năng suất lao động và năng lực sáng tạo của nền kinh tế.

Chính phủ kiến tạo mà Việt Nam đang xây dựng đồng nghĩa với lựa chọn cân bằng giữa các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế với việc quản lý sự khan hiếm về các dạng tài nguyên và tính bền vững của môi trường và đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với thực tế đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng đối thoại và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề quốc tế và chính sách của Việt Nam

Cho rằng khi nói đến sự thần kỳ châu Á thì không thể không nhắc tới "sự thần kỳ Nhật Bản", khép lại bài phát biểu, Thủ tướng đã nêu rõ vai trò Nhật Bản trong sự phát triển châu Á và mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.

Không chỉ là nhà đầu tư hàng đầu khu vực với trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, có vai trò dẫn dắt trong nhiều lĩnh vực, Nhật Bản còn là tấm gương về văn hóa kỷ luật, kiên nhẫn và đức hy sinh.

Tinh thần đoàn kết, kỷ luật, bình tĩnh của nước Nhật trong thảm họa kép năm 2011 đã được khắc họa chân thật qua hình ảnh những người dân Nhật Bản trật tự xếp hàng; hình ảnh cậu bé 9 tuổi nhường phần đồ ăn của mình cho những người khác. Những người cứu hộ không quản ngại nguy hiểm, bền bỉ tìm kiếm các nạn nhân sau thảm họa…

Thủ tướng khẳng định, sau hơn bốn thập niên, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản không ngừng được củng cố và trở thành đối tác chiến lược sâu rộng vào tháng 3/2014.

Nhật Bản là quốc gia viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 2, là đối tác lớn thứ 3 về du lịch và là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Đến hết năm 2016, Nhật Bản có hơn 3.200 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 42 tỷ USD, chiếm 15% tổng FDI vào Việt Nam.

Hai nước xây dựng mối quan hệ ổn định, tin cậy thông qua các cuộc đối thoại, các cuộc tiếp xúc và chuyến thăm cấp cao giữa hai nước.

Nhật Bản và Việt Nam đã ký 9 thỏa thuận hợp tác giữa các trường đại học và Chương trình chiến lược hợp tác về giáo dục. Đặc biệt, Trường Đại học Việt Nhật đang dần trở thành biểu tượng cho sự hợp tác giáo dục giữa hai nước. Số lượng sinh viên, thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản tăng mạnh, hiện đã đạt con số 150.000 người.

“Tầm nhìn sẽ quyết định phương thức chúng ta tư duy, cách thức chúng ta hành động tại thời điểm hiện tại. Tôi mong rằng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi người dân châu Á hãy cùng chung tay hành động vì một châu Á hòa bình và thịnh vượng”, Thủ tướng chia sẻ.

Đối thoại cởi mở

Tại Hội nghị, Thủ tướng đã đối thoại cởi mở và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề như Hiệp định TPP, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, chính sách về môi trường, kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ vừa qua của Thủ tướng.

Về Hiệp định TPP, Thủ tướng cho biết Việt Nam và Nhật Bản nằm trong 12 nước tham gia TPP. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, Việt Nam cũng như Nhật Bản đang bàn với các đối tác một cách cụ thể để tìm ra một phương thức tốt nhất để chúng ta cùng phát triển, cùng có lợi.

Về ASEAN, Thủ tướng nhấn mạnh nguyên tắc đồng thuận của ASEAN. Trên nguyên tắc đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được triển khai thời gian qua và bước đầu có kết quả tốt. “Chúng tôi đã đẩy mạnh giao lưu thương mại, tự do di chuyển thể nhân và pháp nhân. Khối lượng thương mại giữa 10 nước ASEAN không ngừng tăng lên”, Thủ tướng nói.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Quang cảnh Hội nghị Tương lai châu Á

Với câu hỏi về chính sách trước việc “thị trường xe 2 bánh và 4 bánh phát triển tốt ở Việt Nam nhưng đồng thời gây ra những vấn đề về môi trường, khí thải, đặc biệt ở đô thị”, Thủ tướng nói: “Chúng tôi có chiến lược về phát triển bền vững, trong đó, vấn đề môi trường đặt ra hàng đầu ở Việt Nam. Chúng tôi có một chương trình hành động cụ thể để giảm thiểu khói bụi từ ô tô và mô tô. Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, hơn ai hết, Việt Nam tích cực thực hiện COP 21”.

“Tuần trước, ngài đã gặp Tổng thống Donald Trump. Xin ngài cho biết kết quả sau cuộc hội đàm này, trong đó có nội dung về tự do hàng hải an ninh trên biển”. Trước câu hỏi mà người điều hành Hội nghị nêu ra, Thủ tướng cho biết, đây là chuyến thăm thành công. Tham dự hội đàm, ngoài Tổng thống, có cả Phó Tổng thống và các Bộ trưởng các bộ quan trọng của Hoa Kỳ. Hai bên đã bàn những vấn đề về thương mại hết sức thú vị. Hai bên có sự thống nhất cao rằng xuất nhập khẩu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là có lợi cho hai bên. Những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ, người dân Hoa Kỳ ưa dùng và Việt Nam đã tăng cường nhập các thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại của Hoa Kỳ để phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Thủ tướng cho biết, hai bên đã trao đổi về vấn đề an ninh khu vực, trong đó có vấn đề biển đông và thống nhất giải quyết vấn đề Biển Đông theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc 1982, xây dựng Biển Đông thành khu vực hòa bình, hữu nghị, tự do hàng không, hàng hải.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Bac-Kinh-huy-Dien-dan-Huong-Son-2017--doi-trong-cua-Shangrila-post177128.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Mon, 05 Jun 2017 09:38:59 +0000
Cơ hội hợp tác an ninh Việt - Mỹ trên Biển Đông http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4369-2017-06-01-09-21-28 http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4369-2017-06-01-09-21-28  

Một "hàng rào miễn dịch" cần được xây dựng và củng cố.

Làm sao để Biển Đông trở thành một vùng biển của hợp tác - hòa bình và hữu nghị, thay vì xung đột và chiến tranh; Làm sao để quan hệ hợp tác Việt - Mỹ trở thành động lực và mang đến cơ hội cho cả hai, chứ không phải tạo ra rào cản bởi một bên thứ 3;​

Làm thế nào để quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các siêu cường cũng như những thành viên còn lại của ASEAN bổ sung cho nhau và hướng tới mục tiêu hòa bình - ổn định - phồn vinh, thay vì theo phe này chống phe kia thực sự là một nhu cầu, đòi hỏi và bài toán đặt ra cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Vì thế, những hoạt động đối ngoại như chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có ý nghĩa rất quan trọng.

Chuyến thăm không chỉ thể hiện tính chủ động và năng động của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong đối ngoại, mà còn mở ra những cơ hội mới để tăng cường hiểu biết và lòng tin, củng cố các hoạt động hợp tác cùng có lợi cho cả hai nước và khu vực.

An ninh trên Biển Đông hay kinh tế - thương mại nên được xem như những cơ hội để hai bên đào sâu khả năng hợp tác, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://www.cnbc.com/2017/05/31/trump-may-turn-to-vietnam-for-help-on-south-china-sea.html

[2]http://www.cnbc.com/2017/01/23/trump-white-house-vows-to-stop-china-taking-south-china-sea-islands.html

[3]http://theweek.com/articles/701749/trumps-big-mistake-south-china-sea

[4]http://edition.cnn.com/2017/05/29/asia/south-china-sea-underwater-observation-system/

[5]http://www.eurasiareview.com/31052017-resolving-south-china-sea-dispute-critical-for-world-peace-analysis/

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Co-hoi-hop-tac-an-ninh-Viet--My-tren-Bien-Dong-post177067.gd

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Thu, 01 Jun 2017 09:21:28 +0000
Những kỳ vọng từ chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Phúc http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4363-2017-05-30-03-21-20 http://www.seasfoundation.org/research-documents/geopolitics/4363-2017-05-30-03-21-20
Thủ tướng Nguyễn Xuân PhúcBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES

Chuyến đi Washington của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 30-31 tháng Năm diễn ra trong bối cảnh nước Mỹ đang trong xáo trộn chính trị chưa từng thấy kể từ thời Nixon và trong những giai đoạn cuối cùng của Cuộc chiến Việt Nam cho tới nay.

Trong bốn thập kỷ tiếp theo, nhiều điều đã thay đổi tại Việt Nam và trong quan hệ Mỹ-Việt, nhất là trong thời gian hai thập kỷ kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ và đặc biệt là trong vài năm vừa qua.

Tầm quan trọng của mối quan hệ này càng có ý nghĩa nổi bật trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết liệt trong việc tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp ở Biển Đông.

Quan hệ giữa hai nước cải thiện đến mức tới cuối năm 2016, ta có thể nói một cách tự tin rằng trong các vấn đề về thương mại và an ninh, Việt Nam và Mỹ đã coi nhau là đối tác chiến lược không thể thiếu.

Ông Phúc đi Mỹ: Sẽ đạt lợi ích chính trị, kinh tế hay ngoại giao?

Thủ tướng Việt Nam sắp gặp Donald Trump

Trọng tâm thương mại khi ông Phúc gặp ông Trump?

Thế rồi cuộc bầu cử Mỹ diễn ra. Cũng giống như phần lớn các chính sách đối ngoại của Mỹ, mọi thứ ngày nay trở nên bất định hơn.

Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam có tầm quan trọng to lớn. Nó không chỉ đem đến những dự báo cho sự phát triển quan hệ song phương Mỹ - Việt và viễn cảnh phát triển của Việt Nam, mà còn cho chúng ta biết về ý định của Tòa Bạch ốc, hiện đang trong tình trạng rối ren, đối với vùng Đông Á.

Trong bối cảnh đời sống chính trị Việt Nam, tầm quan trọng của chuyến đi này nằm ở chỗ nó đại diện cho những nỗ lực khó khăn của phe cải cách trong Đảng cộng sản đương quyền, là phe muốn xích lại gần Mỹ hơn. Sẽ là khôn ngoan nếu như chính quyền Mỹ nhận biết được thực tế này.

Dẫu cho chỉ Việt Nam mới quyết định được con đường chính trị của mình, nhưng việc hợp tác với Hà Nội một cách xây dựng sẽ tạo ra lợi ích cho tương lai của mối quan hệ Việt-Mỹ, đem lại lợi ích cho người Việt Nam.

Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam sẽ có ảnh hưởng tới ba vấn đề lớn.

Vấn đề thương mại

Đầu tiên là chủ đề thương mại.

Trong vấn đề này, thách thức đặt ra là phải tìm được con đường dẫn đến các giải pháp hai bên cùng có lợi.

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, cũng như của nhiều nước khác. Điều nổi bật là mức tăng trưởng nhanh trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu.

Ngày nay, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ nhiều hơn bất cứ quốc gia Đông Nam Á nào khác.

Hoa Kỳ bàn giao tàu tuần duyên cho VN

Tính đến cuối 2016, hoạt động thương mại trong lĩnh vực hàng hóa (không bao gồm dịch vụ) giữa hai nước đạt 50 tỷ USD mỗi năm, và con số này được dự đoán sẽ tăng lên 80 tỷ USD vào năm 2020.

Đáng chú ý là xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng một phần tư tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Như phân tích gia mang quốc tịch Mỹ Vũ Quang Việt chỉ ra, thặng dư xuất khẩu thực sự của Việt Nam đối với Hoa Kỳ đang được phóng đại ở các con số này.

Lý do đơn giản nhưng quan trọng là một phần lớn (dù chưa được xác định chính xác là bao nhiêu) của kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ và các thị trường khác là các mặt hàng như điện thoại di động Samsung và linh kiện máy tính Intel.

Công đoạn sản xuất ở Việt Nam chỉ đóng góp thêm từ 5% đến 8 % vào giá trị thành phẩm của các sản phẩm này.

Năm 2016, báo cáo về các số liệu hải quan cho thấy Việt Nam đã xuất khẩu điện thoại di động trị giá 42 tỷ USD và linh kiện máy tính trị giá 19 tỷ USD. Cho dù như vậy, thặng dư thương mại của Việt Nam vẫn là một con số đáng chú ý đối với chính quyền Mỹ.

Nếu nhìn từ khuynh hướng nhìn nhận của ông Trump đối với các vấn đề thương mại, người ta có thể đặt câu hỏi tại sao Việt Nam muốn

http://www.bbc.com/vietnamese/world-40083049

]]>
beo_uu@yahoo.com (anh2) frontpage Tue, 30 May 2017 03:21:20 +0000