Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Friday, Jul 30th

Last update09:39:33 PM GMT

You are here: Trang chủ

Bài viết của chúng tôi


Thư Ngỏ gửi Tiến Sĩ Đỗ Ngọc Bích (Đại Học Yale)

Email In PDF.

Đinh Kim Phúc

Nhân đọc bài Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộccủa Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC Việt ngữ ngày thứ bảy, 17 tháng 4 năm 2010, tôi có đôi điều muốn thưa chuyện cùng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích.

Trước hết, đọc những dòng sau đây của Đỗ Ngọc Bích:

1. “Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc ‘hơi nhiều”.

Thưa tiến sĩ, trong những năm cuối 1970 và đầu 1980 tiến sĩ đang ở đâu? Đang ở trời Tây trong giảng đường đại học hay nép mình trong góc phố an bình nào đó ở Việt Nam trong lúc hàng ngàn người dân Việt đã ngã xuống chống giặc để cho cô có mãnh bằng học vị hôm nay. “Chủ nghĩa dân tộc có điều khiển” là gì thưa tiến sĩ? Sao lời lẽ của tiến sĩ tương tự như bộ máy tuyên truyền chụp mũ trên Mạng Hoàn Cầu đến thế!

2. “Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”.

Cô tiến sĩ ơi, tôi tin rằng cho dù Cô được học và lớn lên trên đất Mỹ, nhưng giáo trình nào? tài liệu nào của Mỹ đã dạy cho Cô “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”? Sao tiến sĩ không nói luôn là “Việt Nam vốn bị Trung Quốc đô hộ tự nghìn xưa, là phần đuôi của Đại Hán?” Còn cái mà Cô gọi là “ân huệ” thì phải chăng Cô muốn cùng Giáo sư Lê Xuân Khoa thảo luận lại “ Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”.

3. Thêm nữa, “Cho dù Trung quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà ‘mình nên nhớ’. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng”.

Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích muốn nhớ, thì nhân đây tôi giúp cho Cô nhớ:

“Theo dõi việc đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ từ ngày đầu đến ngày cuối, tôi – và các nhà báo khác có quan hệ chặt chẽ với các đoàn xã hội chủ nghĩa – không nghi ngờ gì về việc đoàn Trung Quốc không ủng hộ mạnh mẽ đoàn Việt Nam. Nhiều năm sau Hội nghị, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn nói một cách trung thành: “các kết quả đã đạt được qua thảo luận và thỏa thuận chung”. Điều đó đúng sự thật theo nghĩa đen, nhưng không đúng sự thật thực sự, dù chỉ là một nửa.

Khi hội nghị thảo luận đến vấn đề quy định một giới tuyến để quân đội Pháp rút về phía Nam và quân đội Việt Minh rút về phía Bắc, ông Phạm Văn Đồng đề nghị một đường ranh giới dọc theo vĩ tuyến 13. Trong tình hình thảm hại của lực lượng Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ, và số còn lại trong những lực lượng tinh nhuệ của họ thì đang bị bao vây ở đồng bằng Sông Hồng và các nơi khác ở miền Bắc, đó không phải là một đề nghị không phải chăng. Đề nghị đó sẽ cho Việt Minh có 100km biên giới chung với Cam-pu-chia và sẽ bù đắp lại việc họ không giành được một vùng tập kết cho các lực lượng Khơ-me I-xa-rắc. Nhưng, trước “chủ nghĩa thực tế” và “chủ nghĩa thực dụng” đó, từng bước ông Phạm Văn Đồng đã buộc phải lùi đường ranh giới của mình qua vĩ tuyến 14 (như vậy cũng vẫn cho Việt Minh có một biên giới nhỏ với Cam-pu-chia), rồi qua vĩ tuyến 15 tới vĩ tuyến 16, tại đó ông kiên quyết giữ lập trường.

Đã hai lần trong lịch sử Việt Nam, vĩ tuyến 16 từng là ranh giới phân chia tạm thời. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khi quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc kéo vào phía Bắc và quân đội Anh vào phía Nam (bề ngoài là để vây quét tàn dư của quân đội chiếm đóng Nhật và đưa chúng về Nhật), đường ranh giới giữa hai lực lượng này chạy dọc theo vĩ tuyến 16 và qua ngoại ô phía Nam của Đà Nẵng. Khi đất nước bị chia cắt giữa nhà Trịnh và nhà Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, đường ranh giới cũng chạy dọc vĩ tuyến 16 trở thành giới tuyến lô-gích – nếu cần phải có một giới tuyến.

Những người Pháp đòi một đường ranh giới dọc vĩ tuyến 17. Sau một cuộc gặp riêng giữa Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng mới của Pháp, Pi-e Măng-đét Phrăng và Chu Ân Lai, Chu ủng hộ lập trường của Pháp…

Chu Ân Lai nói rõ với người Pháp rằng Trung Quốc đến Giơ-ne-vơ trước hết là để bảo vệ lợi ích của chính mình chứ không phải lợi ích của các lực lượng cách mạng Đông Dương. Điều này trở nên sáng tỏ một cách tàn nhẫn trong một cuốn sách về Hội nghị Giơ-ne-vơ, dựa trên những tài liệu về Hội nghị chưa hề được công bố, của nhà viết sử và chuyên gia về Châu Á người Pháp Phrăng-xoa Gioay-ô – Tác giả kể lại một cuộc họp giữa Chu Ân Lai và An-tô-ni I-đơn tại Giơ-ne-vơ một ngày trước khi Bộ Ngoại giao Anh công bố quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ được nâng lên hàng đại sứ.

“Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã nói riêng với I-đơn là ông ta nghĩ rằng có thể ‘thuyết phục được Việt Minh rút khỏi Lào và Cam-pu-chia’. Qua đó, Trung Quốc đã đi một bước rất dài theo luận điểm của người Cam-pu-chia, người Lào, người Anh và người Pháp. Điều đó bao hàm việc thừa nhận rằng Việt Minh đúng là kẻ xâm lược ở hai nước đó, ngược lại với luận điểm lâu nay của Việt Minh – đó cũng là coi các vấn đề Lào và Cam-pu-chia không giống như vấn đề Việt Nam. Ngoài ra, Chu Ân Lai còn nói sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của các Chính Phủ Vương quốc Lào và Cam-pu-chia ngay khi nào ông ta được bảo đảm rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ được xây dựng ở hai nước này”.

Trung Quốc thực sự đã quyết định quay lưng lại các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Lào và Cam-pu-chia để cầu xin ân huệ của các Chính phủ Anh và Pháp. “Nó cho phép trang bị quân đội chính phủ hiện nay đang đấu tranh chống du kích Pa-thét Lào và Khơ-me I-xa-rắc, và trong tương lai có thể đẩy lùi mọi hoạt động mới của Việt Minh ở bên ngoài biên giới Việt Nam”…

Bài phát biểu ngắn của ông Đồng tại phiên họp bế mạc phản ánh sự cay đắng của ông khi phải chấp nhận những quyết định do sự áp đặt của người khác, bè bạn cũng như đối thủ. Các nhà báo không được dự phiên họp này (cũng như mọi phiên khác), nhưng Gioay-ô đã tóm tắt những gì đã xảy ra:

“Ông Phạm Văn Đồng chỉ có một câu cám ơn hai đồng Chủ tịch, chứ không nói một lời nào biết ơn đối với Trung Quốc. Liệu có thể giải thích sự im lặng này một cách nào khác hơn là dấu hiệu về sự bất bình của Việt Minh đối với đồng minh của họ, những người tuy là nguồn ủng hộ vững chắc trong quá trình thương lượng, nhưng vẫn không ngần ngại tìm cách hạn chế những yêu cầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mỗi khi lợi ích dân tộc của chính họ đòi hỏi?”.

Tối ngày 22 tháng 7, ông Phạm Văn Đồng và các thành viên khác của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự một cuộc chiêu đãi của Chu Ân Lai để “chúc mừng thắng lợi của Hội nghị”. Họ chờ đợi một cuộc “chúc mừng giữa những người đồng chí”. Họ rất ngạc nhiên khi thấy đoàn đại biểu Liên Xô đã không được mời, trong khi các đoàn đại biểu của “Hoàng đế” Bảo Đại, Vương quốc Lào và Cam-pu-chia lại có mặt. Chu Ân Lai trước hết nâng cốc chúc mừng Hoàng đế Bảo Đại rồi đến Vua lào và Vua Cam-pu-chia. Người phụ tá cao cấp của ông Phạm Văn Đồng (mà tôi đã trích dẫn trước đây) nói với tôi :

“Chúng tôi hầu như không thể tin ở mắt và tai mình nữa. Về sau, chúng tôi thấy vấn đề rõ hơn. Trung Quốc muốn các nước Đông Dương nằm trong túi mình, và hy vọng rằng ba Vương quốc ở đây sẽ được duy trì như những nước triều cống như kiểu Thiên hoàng trị vì đế quốc Trung Hoa với những quốc gia phiên thuộc! Trung Quốc không thể coi thường hơn nữa nội dung xã hội của các quốc gia ấy cũng như số phận của các lực lượng cách mạng ở đó – Nhìn lại những gì xảy ra sau này với Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia và việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam rõ ràng đã được khởi động bởi thái độ của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ và đặc biệt là cuộc chiêu đãi cuối cùng này”.

Chu Ân Lai đã bố trí để tại cuộc chiêu đãi các trưởng đoàn Cam-pu-chia và Lào, Tép Phan và Phủi Xa-na-ni-côn, ngồi cùng một bàn với vài phụ tá cao cấp của Chu Ân Lai. Tại bàn do Chu Ân Lai chủ trì, Ngô Đình Luyện (em Ngô Đình Diệm, người mới được CIA đưa lên cầm quyền ở Sài Gòn) được xếp ngồi giữa Phạm Văn Đồng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngô Đình Luyện và Tạ Quang Bửu đã từng cùng học tại Pháp và Chu Ân Lai tìm hết cách làm cho hai người gợi lại những kỷ niệm thời thanh niên. Có lúc, Chu gợi ý Ngô Đình Luyện sang thăm Bắc Kinh. Khi Luyện hỏi sang đó dưới danh nghĩa nào, Chu Ân Lai trả lời: “Tại sao các ngài không đặt một công sứ quán ở Bắc Kinh?”. Nhận thấy ông Phạm Văn Đồng giật nẩy người phản ứng, Chu Ân Lai lạnh lùng nói rằng việc ông Phạm Văn Đồng gần gũi với Trung Quốc hơn về tư tưởng không loại trừ việc Sài Gòn có đại diện ngoại giao tại Bắc Kinh. “Dù sao, hai ngài đều chẳng phải là người Việt Nam cả sao, và tất cả chúng ta đây chẳng phải là người Châu Á cả đó sao?”. Đây nữa lại là một viên thuốc đắng mà ông Phạm Văn Đồng phải nuốt tại Giơ-ne-vơ. Lý do khiến Chu Ân Lai ủng hộ việc đẩy lùi càng lâu càng tốt cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước đã trở nên quá rõ ràng. Trung Quốc quan tâm tới việc mở rộng ảnh hưởng của chính mình ở Sài Gòn hơn là giúp Việt Minh giành thắng lợi chính trị và tái thống nhất đất nước…

“Chúng tôi lẽ ra đã có thể giành được hơn nhiều, nhiều lắm. Chúng tôi đã thỏa thuận trước với người Trung Quốc về mọi vấn đề – nhưng Chu Ân Lai đã họp kín với Măng-đét Phrăng, và tất cả đều bị thay đổi. Nếu lúc đó chúng tôi cứ tiếp tục chiến tranh, thì có lẽ chúng tôi đã thắng và được tất cả. Phải nói rằng người Trung Quốc đóng một vai trò cực kỳ nguy hiểm trong suốt cuộc thương lượng, và đã phản bội chúng tôi một cách đê tiện nhất”.

Việc các nhà lãnh đạo Việt Nam giữ gìn điều bí mật về vai trò của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là một điều đáng khâm phục về tính thận trọng, ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa – nhưng cũng là một điều đáng tiếc là họ không thông báo rộng rãi trong một chừng mực nào đó những việc xảy ra sau hậu trường ở Hội nghị. Tôi đã từng theo dõi đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ, đã từng thường trú ở Hà Nội trong nhiều năm để đưa tin về việc thi hành các quyết định của Hội nghị, đã từng có vô số cuộc nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp và những người khác, nhưng tôi chẳng hề được một gợi ý xa xôi nào về những gì xảy ra sau hậu trường ở Giơ-ne-vơ, cho mãi đến khi Trung Quốc đã phạm điều phản bội tột cùng bằng cách xâm lược Việt Nam!…”(1)

4. Lại nữa: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?”.

Đã có biết bao nhiêu tư liệu của Pháp (và nước ngoài) xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền An Nam mà Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích chưa đọc hay không biết?

Thưa tiến sĩ, Cô đọc được tiếng Việt và tiếng Pháp không? Thôi thì tôi nhắc lại tài liệu sau đây bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt cho Cô dễ hiểu:

Ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của hội nghị San Francisco, đại biểu Liên Xô Andrei A. Gromyko sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh – Mỹ để ký với Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống.

Hai ngày sau, ngày 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao như sau:

Và nói một cách thẳng thắn rằng phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm mống gây xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn từ xưa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam”.

(“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam”)

Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn, không có một phái đoàn nào phản đối.

5. “Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me.

Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn.

Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy”.

Xin thưa với Cô tiến sĩ Quan hệ quốc tế và Hoa Kỳ học:

Nếu dựa vào những lý lẽ “lịch sử” theo kiểu như vậy, tuy có phần hấp dẫn đối với cô nhưng rõ ràng sẽ mở ra một hộp Pandoras của những xung đột không thể nào giải quyết được.(2)

Một sách giáo khoa về luật pháp quốc tế của Michael Akehurst khái quát vấn đề chung đó như sau : “Đất đai chinh phục được ngày nay, hoặc ít ra đất đai do một kẻ xâm lược chinh phục, thì không thể được thừa nhận quyền sở hữu. Trong quá khứ thì được. Nhưng quyền sở hữu trước kia dựa vào sự chinh phục bây giờ có trở nên mất giá trị không? Nếu trở nên mất giá trị, thì kết quả sẽ rất là sửng sốt; nếu rút ra kết luận logic của việc đó, thì có nghĩa là bắt Mỹ sẽ trả lại cho người Idian da đỏ, và người Anh sẽ phải trả lại nước Anh cho người xứ Welsh”.(3)

Những ví dụ như vậy có thể nhân lên không bao giờ hết. Kết luận mà phần đông các nhà cầm quyền đạt được là những khái niệm về luật pháp quốc tế không thể áp dụng lui trở lại cho các cuộc xung đột trong quá khứ để làm mất giá trị pháp lý của những biên giới ngày nay được.

Những vấn đề đó đặc biệt gay gắt trong các thuộc địa cũ của các cường quốc thực dân Châu Âu. Akehurst nhận xét : “Những biên giới thuộc địa, được vạch ra bằng vũ lực trong các thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã trở thành những biên giới của những nước mới độc lập, mà không nước nào muốn thấy biên giới của họ bị đưa ra đặt vấn đề lại. Các nước Mỹ la tinh và Á-Phi, với một cái ngoại lệ (như Trung Quốc chẳng hạn) đã đồng ý rằng các biên giới thuộc địa phải được tiếp tục sử dụng, theo luật pháp quốc tế, như những biên giới sau độc lập. Ở Mỹ la tinh, điều đó được hiểu là nguyên tắc Utipossidetis, nghĩa là :Như bạn đã sở hữu, bạn sẽ tiếp tục sở hữu(4). Các biên giới thuộc địa, nhất là ở Châu Phi thường không theo thiên nhiên, không tính đến sự phân chia của bộ tộc và cắt qua các khu vực thuộc cùng một đơn vị kinh tế, nhưng vì các quốc gia mới được độc lập không thể đồng ý vạch lại một cách triệt để các biên giới nên khôn khéo hơn cả là duy trì các biên giới hiện có để tránh tình hình mất ổn định và xung đột.

Như vậy, lý luận như tiến sĩ thì nước Mỹ cũng là một phần của Trung Quốc như một vị tướng Trung Quốc từng tuyên bố gần đây.

6. Cuối cùng, “Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?”

Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…

Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?”

Một câu hỏi thật bất ngờ, tôi không tin rằng ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ lại có một giảng viên ngạo mạn và kém cỏi về lịch sử nước nhà đến thế.

Thưa tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích, đọc những quan điểm và cách đặt vấn đề về lịch sử của Cô, chúng tôi không thể không nghi ngờ về trình độ hiểu biết sơ đẳng cũng như tự hỏi rằng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích hẳn phải là một người Hoa xa xứ Trung Quốc?

Chào trân trọng

Chú thích:

(1) Wilfred G. Burchett, China, Cambodia, Vietnam Triangle, Vanguard Books, 1982.

[ Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, NXB TTLL, HN, 1986].

(2)- Theo thần thoại Hy Lạp, Pandoras là người đàn bà do Thần lửa tạo ra và bị đưa xuống để trừng phạt trần gian đã lấy trộm lửa. Thần Zeus cho chị ta một cái hộp, khi mở ra thì đủ tất cả các thói hư tật xấu bay ra làm ô nhiễm cả thế giới. Hộp Pandora do đó có nghĩa là vật hào nhoáng nguy hiểm.

(3), (4)- Grant Evans – Kelvin Rowley. The Red Brotherhood at war (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tấn Cưu – Chân lý thuộc về ai?), NXBQĐND, 1986.

Tranh chấp trên Biển Đông và giải pháp khai thác chung (kỳ 1)

Email In PDF.

Hoàng Việt (Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông)

http://www.tuanvietnam.net/2009-12-14-tranh-chap-tren-bien-dong-va-giai-phap-khai-thac-chung-ky-1-

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, thỏa thuận về khai thác chung phải được coi là giải pháp tạm thời nhằm giảm xung đột giữa các bên tranh chấp và chỉ nhằm mục đích phát triển nguồn tài nguyên mà thôi. Thỏa thuận này không được làm ảnh hưởng tới yêu sách về chủ quyền lãnh thổ cũng như các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Đây là điều cần lưu ý khi bàn tới giải pháp khai thác chung.

Ngoài ra, trong vấn đề hợp tác khai thác chung, cũng cần chú ý tới một điều quan trọng khác là: Trong luật pháp quốc tế về biên giới lãnh thổ, có một nguyên tắc là “sự liên tục và xác định đường biên giới”. Điều này cũng được nêu ra tại Điều 62 Công ước Vienna về Luật Điều ước Quốc tế năm 1969, khuyến cáo sự ổn định của các đường biên giới.

Trên những nguyên tắc đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “cái tạm thời của ngày hôm nay có thể trở thành vĩnh viễn sau một thời gian nào đó”. Thực tế trên thế giới thì thỏa thuận giữa Iceland và Jan Mayen tháng 10 năm 1981, thỏa thuận giữa Bahrain và Ảrập Xêut tháng 2 năm 1958 đã trở thành những thỏa thuận vĩnh viễn.

Đối với Biển Đông, cho tới nay, đã có nhiều đề nghị cho phương án hợp tác khai thác chung trên vùng biển tranh chấp này.

1. Phương án “chia sẻ tài nguyên Biển Đông”

Năm 1997, nhóm Mark J. Valencia của Đại học Hawaii đã đưa ra ý tưởng cho việc chia sẻ tài nguyên trong khu vực quần đảo Trường Sa. Nhóm học giả này cho rằng các nỗ lực giải quyết tranh chấp hiện tại đã lảng tránh hai vấn đề quan trọng, đó là chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, các nỗ lực gần như không có tác dụng bao nhiêu bởi vì vẫn chưa ngăn chặn được các hoạt động đơn phương của các quốc gia liên quan.

Do đó, để khắc phục tình trạng này, nhóm Mark J. Valencia khuyến cáo nên đưa ra một cơ chế hợp tác đa phương tại khu vực tranh chấp với nguyên tắc: Các tuyên bố về chủ quyền Biển Đông đều được công nhận; giải pháp tạm thời không ảnh hưởng đến giải pháp cuối cùng; không có các hoạt động quân sự; tài nguyên thiên nhiên được khai thác và chia sẻ theo nguyên tắc bình đẳng và công bằng.

Các bên trong tranh chấp sẽ thiết lập một thể chế quản lý tài nguyên biển trong khu vực để tổ chức nghiên cứu, khảo sát đánh giá về tiềm năng dầu khí. Qua đó, các bên sẽ xác định khu vực và phương thức hợp tác chung thông qua một cơ chế đa phương điều hành hoạt động khai thác chung và phân chia các nguồn lợi.

Thành viên bao gồm tất cả các bên tranh chấp và không có tranh chấp; cơ chế ra quyết định là đồng thuận và nguyên tắc phân bổ tài nguyên phụ thuộc vào tuyên bố đòi hỏi của các bên có tính đến yếu tố lịch sử. Tuy nhiên, việc quyết định phân chia tài nguyên hay quyết định về nhượng quyền khai thác sẽ được các bên tranh chấp trực tiếp thông qua.

Nhóm Mark J. Valencia cũng đưa ra 5 kịch bản cho việc chia sẻ trong việc khai thác tài nguyên tại Biển Đông. Cụ thể là:

(1) Toàn bộ Biển Đông sẽ được chia dựa trên đường cách đều từ các đường cơ sở của các bên, bỏ qua sự hiện diện của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;

(2) Phân chia Biển Đông dựa trên đường cách đều tính từ các đường cơ sở, bỏ qua sự hiện diện của Trường Sa, nhưng trao cho Hoàng Sa toàn bộ hiệu lực như là lãnh thổ của Trung Quốc;

(3) Phân chia Biển Đông dựa trên “sự công bằng tương đối” và những mối quan ngại về địa chính trị. Trong đó, thực chất là sự phân chia dựa trên sức nặng của các tuyên bố chủ quyền, vị trí chiếm đóng các đảo và yêu sách về các thềm lục địa;

(4) Các nước tự xác định ranh giới 200 hải lý tính từ đường cơ sở (với các đường cơ sở phải được xây dựng một cách hợp lý), ở những nơi có vùng chồng lấn thì sẽ chia theo đường cách đều các ranh giới 200 hải lý đó, bỏ qua sự hiện diện của Hoàng Sa và Trường Sa;

(5) Tương tự như kịch bản (4) nhưng Hoàng Sa có đầy đủ hiệu lực và thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc. [1]

Điểm chung của tất cả các kịch bản phân chia nói trên là đều bỏ qua một phần hoặc toàn bộ sự hiện diện của hai quần đảo đang bị tranh chấp và giành nhiều lợi thế cho Trung Quốc (ví dụ kịch bản số (2) và số (5) đều coi Hoàng Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc).

Theo phương thức này thì các bên tranh chấp đều phải tôn trọng và công nhận yêu sách của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông và có thể khai thác chung các khu vực thềm lục địa của các nước khác. Đây có lẽ chính là điều khiến cho đề xuất này trở nên bất khả thi bởi lẽ không một quốc gia tranh chấp nào chấp nhận từ bỏ chủ quyền.

Thêm nữa, việc phân chia này cũng rất phức tạp, trên thực tế cũng chẳng khác gì việc xác định chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, việc phân chia này lại phụ thuộc vào “sức nặng” hơn là tính hợp lý của các yêu sách về chủ quyền.

2. Phương án “Gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc

Bản tham luận của hai học giả Trung Quốc Ji Guoxing là Li Jinming trong Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội vừa rồi đã nhắc lại quan điểm truyền thống của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp Biển Đông, đó là chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của họ.

Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc được ông Đặng Tiểu Bình đưa ra lần đầu tại Tokyo tháng 10 năm 1982. Đây là một phương án được Trung Quốc đưa ra với quan điểm cùng hợp tác khai thác chung khu vực Biển Đông.

Về mặt hình thức, đề nghị này của Trung Quốc dường như là hợp lý, vì nó phù hợp với thực tiễn và luật pháp quốc tế, đặc biệt là xu hướng hợp tác trên biển ở các khu vực khác trên thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận phương án này có những vấn đề tồn tại như sau:

Về mặt pháp lý, cơ sở để Trung Quốc tham gia tranh chấp Biển Đông là dựa vào yêu sách về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lập lờ sử dụng “đường lưỡi bò” - một yêu sách phi lý chiếm gần 80% toàn bộ Biển Đông.

Trung Quốc hiểu rằng nếu đấu tranh trên mặt trận pháp lý, họ khó có thể giành được lợi thế trong cuộc tranh chấp Biển Đông. Do đó, đề nghị “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc làm cho dư luận dễ bị lầm tưởng là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Về mặt chính trị, đề nghị “gác tranh chấp, cùng khai thác” được thực hiện, Trung Quốc sẽ đạt được nhiều mục tiêu có lợi cho họ, trong đó họ có thể duy trì được yêu sách lãnh thổ và vùng biển không phải của Trung Quốc. Quan trọng hơn, đây là một giải pháp chính trị khôn khéo của Trung Quốc nhằm trấn an dư luận, mở rộng ảnh hưởng và chia rẽ các nước trong khu vực.

Về thực chất, ta có thể thấy như sau:

- Một mặt, Trung Quốc đề nghị khai thác chung, nhưng mặt khác Trung Quốc vẫn duy trì yêu sách “đường lưỡi bò” chiếm gần 80% Biển Đông và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Quan trọng hơn, phần lớn các khu vực mà Trung Quốc đề nghị khai thác chung đều nằm trên khu vực thềm lục địa hiển nhiên thuộc chủ quyền của nước khác. Thực ra, ý tưởng khai thác chung của Trung Quốc dường như là sự tham gia của các nước khác trong việc khai thác những gì họ coi là của họ, trái ngược với hình thức khai thác chung truyền thống – đó là việc cùng đóng góp các quyền đối với tài nguyên trong các vùng tranh chấp.

Đánh giá về các đề xuất của Trung Quốc, nhóm Mark J. Valencia nhận xét: “Một bài học khác có thể thu được từ phương pháp của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ khác, đó là họ có thể sẵn sàng đàm phán và thậm chí tham gia vào một thỏa thuận khai thác chung (song phương) khi họ không nắm được quyền kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ đang tranh chấp, ví dụ, quần đảo Trường Sa hay Điếu Ngư, ở Biển Đông Trung Hoa.

Mặt khác, nếu họ nắm quyền kiểm soát chắc chắn hoàn toàn khu vực, ví dụ quần đảo Hoàng Sa, họ sẽ không muốn đàm phán, chứ đừng nói tới việc tham gia vào bất kỳ một chương trình hợp tác nào”.[2]

(còn nữa)

Chú thích

[1]: Mark J. Valencia, John M. Van Dyke,  and Noel A. Ludwig, Sharing the resouces of the South China Sea, University of Hawaii’s Press, 1997, 278, p. 143 – 146

[2]: Mark J. Valencia, John M. Van Dyke,  and Noel A. Ludwig, Sharing the resouces of the South China Sea, University of Hawaii’s Press, 1997, 278, p. 87

Cập nhật ngày Thứ năm, 17 Tháng 12 2009 00:35

Khi Trung Quốc tăng cường tranh chấp Biển Đông

Email In PDF.

Ngày đăng: 23/08/2009 22:43 GMT+7

(TuanVietNam) - Một sự cân bằng quyền lực và quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông là cần thiết để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông

Xem xét hiện tượng Trung Quốc tăng cường tranh chấp Biển Đông với các nước trong khu vực, đặc biệt là với Việt Nam, không nên chỉ giới hạn trong ý nghĩa chủ quyền và các nguồn lợi tài nguyên, hàng hải do Biển Đông mang lại, mà cần đặt vào một khung cảnh rộng hơn bao gồm những vấn đề trong nội tại của đời sống chính trị Trung Quốc. Từ đó thấy rằng một sự cân bằng quyền lực và quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông là cần thiết để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông.

http://tuanvietnam.net/khi-trung-quoc-tang-cuong-tranh-chap-bien-dong

Tăng cường tranh chấp toàn diện

Tranh chấp Biển Đông ngày càng trở thành mối lo lớn cho Việt Nam. Ngoài những đụng độ trong quá khứ như các trận hải chiến năm 1974 và 1988 [1], trong thời gian gần đây, Trung Quốc bắt đầu tấn công và bắt giữ ngư dân [2]. Việc bắt ngư dân làm con tin rồi đòi tiền chuộc, ủi chìm tàu của ngư dân, đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trong vùng biển đang tranh chấp thể hiện hành động ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Đường gạch nối màu đỏ là ranh giới lưỡi bò mà Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của mình. Đường gạch nối màu xanh là vùng đặc quyền kinh tế của các nước theo công ước Luật biển Liên hợp Quốc 1982.

Song song với các hoạt động trên biển, Trung Quốc đồng thời thỏa hiệp lợi ích dưới dạng khai thác tài nguyên chung và tăng cường hợp tác, đầu tư kinh tế với các nước trong khu vực đang có tranh chấp với Việt Nam, nước mà dư luận Trung Quốc cho rằng có khả năng là rào cản lớn nhất trong kế hoạch "mở rộng" biển đảo (thu hồi lãnh thổ thần thánh theo cách nói của người Trung Quốc) của chính quyền Trung Quốc.

Các chuyển động của Trung Quốc, như việc tăng cường hải quân và tàu tuần tra, xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Hải Nam, thành lập thành phố hành chính Tam Sa, gửi công hàm cho Tổng Thư kí Liên hiệp quốc trong vòng 24 giờ sau khi Việt Nam và Malaysia trình hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng của mình lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc, cho thấy quyết tâm của Trung Quốc trong vấn đề này.

Bề nổi của tảng băng chìm

Về mặt hình thức, việc tranh chấp Biển Đông của Trung Quốc đối với Việt Nam và các nước trong khu vực thể hiện ra ngoài bằng việc đòi hỏi chủ quyền biển và đảo trong “đường lưỡi bò”, chiếm khoảng 75-80% diện tích Biển Đông và toàn bộ các quần đảo bên trong đường này như Hoàng Sa, Trung Sa, Trường Sa.

Tuy nhiên, nội dung thực sự của việc tăng cường tranh chấp của Trung Quốc sâu xa hơn thế.

Sự mở rộng của Trung Quốc trên Biển Đông thực ra chỉ là một phần của một kế hoạch mở rộng tổng thể, bao gồm “mở rộng cứng” như bành trướng trên biển, trên đất liền và “mở rộng mềm” như tăng cường sự hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị, v.v. cho Trung Quốc.

Đối với Việt Nam, sự tăng cường tranh chấp ở Biển Đông còn phải đặt trong bối cảnh người Trung Quốc tăng cường sự có mặt ở Campuchia và Lào, và đặc biệt, ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Ảnh: VNN

Sự tăng cường tranh chấp cũng cần tính đến bối cảnh nội bộ của Trung Quốc, khi họ có thể dùng chiến thắng trong tranh chấp Biển Đông như một khẳng định cho sức mạnh của chính quyền và hướng dư luận trong nước ra khỏi những vấn đề nhạy cảm của họ như bạo động Tân Cương, Tây Tạng [4-5]. Nguy hiểm hơn, điều này lại được cộng hưởng với chủ nghĩa dân tộc Đại Hán của Trung Quốc và các học thuyết mới về sự trỗi dậy của Trung Quốc như mở rộng biên giới quyền lợi quốc gia, chia đôi ảnh hưởng ở Thái Bình Dương với Mĩ [6].

Ngoài những lợi ích hiển nhiên về tài nguyên ở Biển Đông như dầu mỏ, khí đốt và giao thông hàng hải, Trung Quốc còn có thể coi việc tăng cường tranh chấp, và tranh chấp thắng, ở Biển Đông như một cách thể hiện sức mạnh của một siêu cường mới nổi đối với các nước trong khu vực và trên trường quốc tế, đồng thời tạo hàng rào bảo vệ Đại lục và gây sức ép lên Đài Loan.

Tuyên bố về “đường lưỡi bò” dù hết sức vô lý nhưng lại được cả chính quyền, dân chúng và giới học giả Trung Quốc ủng hộ, biện minh và quyết không từ bỏ [7]. Việc phản đối ngay lập tức hồ sơ của Việt Nam và Maylaysia chứng tỏ Trung Quốc không sẵn sàng dùng Luật Quốc tế để giải quyết chuyện tranh chấp biển Đông.

Điều này cũng đã được tiên đoán bởi nhiều chuyên gia, ví dụ như ông Lý Quang Diệu. Điều đó cho thấy, trừ phi có sức ép quân sự hoặc sức ép quốc tế đủ mạnh, Trung Quốc sẽ đơn phương tăng cường tranh chấp bất kể sự phản đối của Việt Nam và các nước khác.

Quốc tế hóa và cân bằng quyền lực

Trong bối cảnh đó, một sự cân bằng quyền lực tại Biển Đông là cần thiết. Việt Nam nên quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông và tranh thủ sự ửng hộ của các nước có lợi ích trực tiếp tại Biển Đông như Mĩ, Nhật, Hàn Quốc, đồng thời kết hợp với các nước Đông Nam Á khác trong cuộc chiến bảo vệ quyền lợi hợp pháp ở Biển Đông theo luật biển quốc tế.

Để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường tranh chấp, Việt Nam cũng nên định hình lại chiến lược xử lý tranh chấp Biển Đông, ví dụ theo cách khu biệt hóa từng vấn đề theo hướng dễ làm trước, khó làm sau như: tách việc tranh chấp biển, đảo, Hoàng Sa và Trường Sa thành những vấn đề riêng biệt. Đồng thời, tăng cường đàm phán với các nước trong khu vực trên cơ sở lợi ích chung để thiết lập sự tin tưởng, tạo thế trận “quần ngưu đả hổ” trong cuộc chiến bảo vệ lợi ích chung trước sự tăng cường tranh chấp của Trung Quốc. Việc xin tư vấn của tòa quốc tế về xử lý tranh chấp và các vấn đề kĩ thuật liên quan cũng sẽ tạo thêm áp lực công lý lên đàm phán với Trung Quốc.

Biển Đông ngày nay không chỉ là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là không gian sinh tồn cho dòng giống Lạc Hồng. Để mất Biển Đông, không chỉ có tội với tiền nhân, mà còn đánh mất không gian sinh tồn của con cháu.

Vì thế, giải quyết tranh chấp Biển Đông đang và sẽ là bài toán lớn mà Việt Nam cần phải giải, cả trong ngắn, trung và dài hạn. Với tương quan lực lượng hiện thời và sự mở rộng mạnh mẽ của người Trung Quốc, việc giải bài toán này cần được tiến hành sớm được ngày nào hay ngày đó.

Đây là vấn đề nhạy cảm, thu hút sự chú ý của toàn dân, nên cần có chiến lược rõ ràng, dứt khoát, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tăng cường tranh chấp bằng tất cả các phương tiện và trên mọi phương diện, một chính sách đối ngoại khôn ngoan, dựa trên cân bằng sức mạnh, hợp tác khu vực và công lý quốc tế là cần thiết hơn bao giờ hết.

Thông tin về diễn biến của tranh chấp cũng cần được báo chí đưa tin rộng rãi, không chỉ vì đây là một phần của cuộc sống người dân mà còn để tạo ra một sự cân bằng ngay từ trong nước trước những áp lực ngày càng tăng của Trung Quốc.

Giáp Văn Dương

Chú thích:

1. Tuổi trẻ, ngày 6/12/2007, có thể xem tại:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=232776&ChannelID=330
2. Về việc tàu Trung Quốc tấn công ngư dân Việt Nam, ngày 16/1/2005, Bộ Ngoại Giao, có thể xem tại: http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns050117170913
3. Tuổi trẻ, ngày 7/7/2009, có thể xem tại:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=325383&ChannelID=2
4. Sài gòn giải phóng, ngày 15/3/2009, có thể xem tại:
http://www.sggp.org.vn/thegioi/2008/3/146046/
5. Far Eastern Economic Review, ngày 1/5/2009, có thể xem tại:
http://feer.com/essays/2009/may/beijing-learns-to-be-a-superpower
6. Peter Kien-Hong Yu, Contemporary Southeast Asia, Bộ 25, Số 3 (2003), tr. 405-30, bản dịch tiếng Việt có thể xem tại:
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_PeterYu.htm
7.Xem Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict (Hawaii: Pacific Forum CSIS, tháng 3 1998), trang V. Cũng xem Bernard H. Oxman, “Political, Strategic, and Historical Considerations”, International Maritime Boundaries, trang 5-40.

Chủ quyền Việt Nam và luật pháp quốc tế

Email In PDF.
06/10/2009 05:58 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Là nước nhỏ và nghèo, Việt Nam cần tạo tiếng nói ở những diễn đàn phù hợp, dựa vào những điều luật quốc tế chính danh hiện có để giữ chủ quyền. Nhưng như vậy đã đủ chưa?

http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/8092/index.aspx

Luật quốc tế

 

Kể từ hiệp ước Westphalia (1648), Utrecht (1713) đến hiệp ước Paris 1814 chấm dứt chiến tranh Napoleon rồi Hòa ước Versailles (1919)[2], nhân loại đương đại đã chứng kiến sự ra đời của hai văn kiện lớn có tính chất hiến pháp cho thế giới đó là Hiến chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Công ước về Trao quyền độc lập cho các nước thuộc địa và nhân dân các nước thuộc địa (1960)[3].

Cung điện Versaile, nơi chứng kiến việc kí Hòa ước Versaile kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất. Ảnh vietbao.vn


Khi viết nên những văn kiện vừa nêu, các nước ký kết vừa bước ra khỏi những cuộc chiến đầy thương tích, mang trong lòng những ưu tư và cả niềm tin về một thế giới hòa bình và thịnh vượng. Các hiệp ước trên thể hiện khát vọng ngàn đời của con người là hướng thiện và mưu cầu hạnh phúc cho mình và mọi người. Khuynh hướng giải quyết quan hệ quốc tế trong các ký kết trên định hình quan điểm chủ đạo của trường phái tự do (liberalism).

Song song với cách tiếp cận nhân quần trên là quan điểm cho rằng từng quốc gia cụ thể phải được đặt ở vị trí trung tâm hành động (statism). Chính nhà nước của quốc gia đó, chứ không ai khác, phải đảm bảo mục đích sống còn cho đất nước (survival) bằng khả năng tự chuyển xoay tình thế (self-help) của mình. Cách nhìn này tạo nên quan điểm chủ đạo của trường phái thực tế (realism) trong quan hệ quốc tế.

Các tác giả Barry Buzan, Hans Morgenthau còn đi xa hơn: nghi ngờ khả năng bảo vệ công bình thế giới bằng luật quốc tế và nhấn mạnh thực tế chua chát của chính trị thực dụng (realpolitik), chính trị cường quyền (power politics). Khi đó, các quốc gia phải tìm cho mình một lợi thế so sánh nào đó trên phương diện chính sách để mưu cầu sống còn.

Và thực tế đời sống chính trị thế giới

Cho đến nay, những cường quốc có khả năng cầm trịch trong sân khấu thế giới lại thường mưu tìm những liên minh co giãn nhằm gia tăng ảnh hưởng để đạt đến những vị trí quyền uy hơn trong cộng đồng thế giới.

Trong khi đó, những nhà nước và dân tộc nhỏ bé luôn tìm cách nhờ cậy vào sự tôn trọng các văn kiện luật có tính hiến pháp ký kết những năm 1945, 1960 và dựa vào những liên minh hữu nghị để có thể tự vệ và phát triển trong hòa bình.

Tuy nhiên khi những thế cân bằng của các liên minh lớn bị phá vỡ và tái thiết lập, các điều luật quốc tế với những nội dung và lý lẽ hướng thượng thường phải nhường bước cho các thỏa thuận thực tế. Khi ấy, các quốc gia này phải tự tìm cách thích ứng với trật tự mới trước khi viện dẫn những điều khoản nhằm bảo vệ sự bình đẳng của cộng đồng thế giới.

Thực tế đáng buồn cho thấy quốc gia nào làm sai trình tự thường sẽ khó có cơ hội để lên tiếng nữa!

Trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, chủ nghĩa nghi ngờ được Barry Buzan, Hans Morgenthau đề ra lại càng có cơ hội sống lại khi các cuộc xuất quân mang danh nghĩa Liên Hiệp Quốc thường nhận được các phản kháng chiếu lệ từ quốc tế. Vì lẽ, có nhiều lần những tiếng nói của các nước nhỏ ngay cả tại Liên Hiệp Quốc cũng không được trả lời.

Diễn đàn quốc tế lớn nhất này bàn những chuyện ít hiện thực hơn những diễn đàn bên lề, có khi song phương hay đa phương như WTO, G7, G8, G8+1. Các hội nghị nhỏ hơn này nhận được hoa cờ chúc mừng cũng như biểu tình phản kháng khắp nơi, minh chứng cho sức sống của chúng.

Gần đây là G2 SAED không che giấu tham vọng rạch đôi thiên hạ của hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc.

Lãnh đạo các nước tại Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20). Ảnh: AP


Những nước lớn có khuynh hướng ứng xử thực dụng (real-politik) về đối ngoại nhưng lại đồng thời vận dụng các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do (liberalism) để cổ vũ cho việc tuân thủ luật pháp quốc tế nhằm nắm thế thượng phong đối với các nước nhỏ.

Pháp tiến hành 210 cuộc thử hạt nhân từ 1960 đến 1996, Mỹ tấn công Iraq, Afganistan gần đây, Nga tấn công Grudia năm 2008, Trung Quốc bành trướng thế lực năm 1974, 1988 là những ví dụ rõ ràng và đau đớn nhất của khuynh hướng chính trị thực dụng realpolitik.

Theo các nhà quan sát, chủ nghĩa thực dụng đã khiến các lãnh đạo Mỹ tập trung nhiều hơn vào quyền lợi hơn là ý thức hệ, mưu tìm hòa bình bằng sức mạnh và nhận thức rõ rằng các siêu cường có thể cộng sinh kể cả khi giữa họ có thể tồn tại những giá trị và niềm tin trái ngược nhau[1].

Bài học cho Việt Nam

Với vị thế một nước nhỏ và chưa giàu, Việt Nam cần tạo tiếng nói ở những diễn đàn phù hợp với tình hình, trong khi vẫn luôn dưa vào những điều luật quốc tế chính danh hiện có. Có thể không đồng quan điểm với các nhà hoài nghi, song các nhà làm chính sách Việt Nam chắc chắn không xa lạ với chủ nghĩa thực dụng chính trị.

Với chủ nghĩa đó, luật quốc tế chỉ đảm bảo cho thế giới nhược tiểu quyền…phát biểu, còn quyền hành xử sẽ do các nước lớn sử dụng tùy thuộc vào cân bằng lực lượng và lợi ích của họ mà thôi…

Có thể nhận thấy một cách hiển nhiên rằng khuynh hướng áp dụng pháp lý quốc tế của trường phái tự do (liberalism) chưa đủ uy thế đối chọi lại với khuynh hướng chính trị thực dụng (realpolitik). Từ thực tế đó, người Việt có lẽ nên tự hỏi nước ta đã được hưởng những gì từ thành tựu của năm thế kỷ luật quốc tế.

Hòa Ước Westphalia chấm dứt chiến tranh 30 năm tàn phá châu Âu (1618-1648) được tạm cho là cột mốc khởi đầu của nền pháp lý quốc tế hiện đại. Từ đó đến nay, dường như những gì Việt Nam - một nước nhỏ - có được hoàn toàn không đến từ các đạo luật hướng thượng mà là kết quả của sự tự vùng dậy, tự tìm tòi và lựa thế trong bàn cờ chính trị thế giới.

Nên chăng Việt Nam cần một cái nhìn rộng hơn để tránh phải vấp ngã vì lòng tin thiếu cảnh giác vào một nền luật pháp quốc tế hoàn thiện? Có lẽ, hiện nay chưa phải lúc có thể đặt quá nhiều tin tưởng và trông cậy rằng luật pháp quốc tế sẽ bảo vệ Việt Nam trước nguy cơ chủ quyền có thể bị xâm phạm.

“Tận tín thư bất như vô thư” (Tin vào sách quá thì chẳng thà đừng đọc sách làm chi!) Nếu cứ hiền lành tin rằng các điều luật quốc tế có khả năng giải trừ những nguy cơ đến từ các nền chính trị cường quyền theo chủ nghĩa thực tế, sẽ có những khó khăn lớn trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cha ông.

Trong bối cảnh biển Đông chưa yên bình, người dân Việt Nam có lẽ phải vừa phát biểu về những điều luật về mặt danh nghĩa có thể bảo vệ mình, vừa chuẩn bị sẵn sàng cho những tình huống luật quốc tế có mà như không, hoặc kể cả luật quốc tế bị thay đổi.

Người Việt hy vọng những nhà làm chính sách một mặt tranh thủ sức mạnh của luật quốc tế, truyền bá các bộ luật Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc 1986 UNCLOS, khắp trong và ngoài nước, để chống lại lý luận “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

Mặt khác, một khi những luật lệ này có nguy cơ bị bỏ qua hay được vận dụng thiếu thiện chí ở một nơi nào đó của thế giới, chúng ta phải tự tìm cách tự trang bị những vũ khí phù hợp để tìm công lý và bảo toàn chủ quyền của mình.

Một nền ngoại giao toàn dân, toàn quân và một nền quốc phòng toàn dân, toàn quân cũng như những liên minh thực tế hơn nữa có thể là một phần câu trả lời hiện nay.

  • Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu biển Đông)



[1] Realism taught American leaders to focus on interests rather than ideology, to seek peace through strength, and to recognize that great powers can coexist even if they have antithetical values and beliefs. Tim Dunne and Brian Schmidt (trang 162 The globalization of world politics by John Baylis & Steve Schmidt, 2006)

[2] Tại Hòa Hội Versailles, Nguyễn Ái Quốc đã gởi bản kiến nghị tám điểm yêu cầu Pháp trả tự do dân chủ cho Việt Nam

[3] http://www.un.org/Depts/dpi/decolonization/declaration.htm

Cập nhật ngày Thứ bảy, 23 Tháng 1 2010 08:25

Lập trường hai mặt của Trung Quốc về Luật biển quốc tế

Email In PDF.

21/09/2009 08:52 (GMT + 7)

(TuanVietNam) - Trung Quốc đã gửi công văn phản đối cả hai bản đăng ký thềm lục địa mà Việt Nam và Nhật Bản đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc UNCLOS. Hai công hàm phản đối này thể hiện lập trường hai mặt của Trung Quốc với việc áp dụng Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS).

Lập luận của Trung Quốc với Nhật Bản về bãi đá Okinotori

Okinotori (tên viết bằng chữ Kanji: 沖ノ鳥島. Âm Hán Việt: Xung Điểu đảo) là một bãi đá san hô nổi của Nhật Bản, nằm ở vị trí 20,25 độ vĩ bắc, 136, 05 độ độ kinh đông, cách Tokyo 1740 km về phía đông nam. Nhật Bản đã đệ trình bản đăng ký thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Okinotori vào ngày 12/11/2008. [1] Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối vào ngày 6/2/2009. [2].

Và mới đây, ngày 25/8/2009, sau khi Nhật Bản báo cáo về thềm lục địa tại CLCS, Trung Quốc phản đối một lần nữa [3]. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một bãi đá, tự nó không thể duy trì sự cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng nên chiếu theo điều 123(3) của UNCLOS, bãi đá này không được hưởng EEZ và thềm lục địa.

Trong công hàm nói trên, Trung Quốc đã căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS để phản đối yêu sách của Nhật Bản. Họ sử dụng các khái niệm của UNCLOS như “vùng đặc quyền kinh tế”, “thềm lục địa”…, phân biệt rõ hai khái niệm “đảo” và “đá”, hơn nữa còn lưu ý CLCS rằng, Okinotori chỉ là “đá”, và Ủy Ban chỉ có quyền hạn và trách nhiệm xem xét về “đảo” nên Okinotori nằm ngoài quyền hạn của Ủy ban.

Thế nhưng, đúng 3 tháng sau, ngày 7/5/2009, khi Việt Nam đệ trình bản đăng ký (chung với Malaysia) lên Ủy ban, Trung Quốc lại phản đối bản đăng ký đó bằng một quan điểm vi phạm nghiêm trọng UNCLOS.

Lập luận của Trung Quốc đối với Việt Nam và Malaysia về biển Đông

 

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Vùng màu hồng giữa bản đồ là vùng 
báo cáo Nam mà Việt Nam và Malaysia báo cáo chung.


Trong bản đăng ký chung với Malaysia nộp ngày 7/5/2009, “Việt Nam cho rằng mình được quyền thiết lập một thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở”, theo đúng qui định của UNCLOS [4].

Trung Quốc gửi công hàm lên CLCS phản đối đăng ký của Việt Nam ngay trong ngày. [5] Trong công hàm ấy, lần đầu tiên Trung Quốc công bố tại Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” liếm gần 80% biển Đông.

UNCLOS quy định rằng mỗi quốc gia giáp biển đều có lãnh hải 12 hải lý, có EEZ rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, và nếu thềm lục địa của nước ven biển có thể kéo dài quá 200 hải lý thì nước ấy có thể có “thềm lục địa mở rộng”. Nếu như những vùng trên của các nước chồng lấn với nhau thì sẽ được phân chia theo nguyên tắc công bằng. Vậy, chiếu theo UNCLOS, Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines và Trung Quốc đều là những quốc gia tiếp giáp biển Đông nên mỗi nước đều có phần của mình trên vùng biển này.

Thế nhưng, Trung Quốc đòi hỏi khoảng 80% biển Đông, để lại các nước còn lại bao quanh biển Đông là Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines một phần rất ít ven bờ biển. [6]

Rõ ràng, khi nêu quan điểm về EEZ và thềm lục địa của Nhật Bản, Trung Quốc căn cứ vào UNCLOS một cách nghiêm ngặt, nhưng khi đưa ra quan điểm về chủ quyền của các nước tiếp giáp Biển Đông, Trung Quốc lại vi phạm nghiêm trọng Công ước này.

Mặt khác, trong công hàm phản đối Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng Okinotori không có đời sống kinh tế độc lập nên không thể có EEZ và thềm lục địa. Nhưng trong công hàm phản đối Việt Nam, họ lập luận: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với những đảo trên Biển Đông và những vùng nước xung quanh, và được hưởng những quyền chủ quyền và tài phán bao trùm lên những vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan của chúng (hãy xem bản đồ đính kèm)”. [7]

Như vậy, họ đã gần như trực tiếp cho rằng các “đảo” trên Biển Đông có những “những vùng nước”, “tầng đất” và “đáy biển” (tức thềm lục địa) của riêng chúng. Và về quy mô thì tất cả những thứ này hợp lại thành đường lưỡi bò mà họ yêu cầu hãy xem trong bản đồ đính kèm.

Nhưng, tất cả các “đảo” trên Biển Đông đều tương tự Okinotori: không nơi nào có đời sống kinh tế riêng, do đó, không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, lại càng không thể mở rộng đến 80% Biển Đông. Bất kể các đảo trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước nào, nước ấy cũng không được căn cứ vào đó để yêu sách đến 80% Biển Đông. 

Tóm lại, cùng là những thực thể địa lý không có đời sống kinh tế độc lập, nhưng ở công hàm phản đối Nhật thì họ cho là không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, nhưng ở công hàm phản đối Việt Nam thì lại cho là có, thậm chí là có với một quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. [8]

Phản ứng của Việt Nam và Nhật Bản

Ngày 8/5/2009, Việt Nam đã gửi công hàm tới CLCS, một mặt khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt căn cứ vào UNCLOS để bác bỏ phản đối của Trung Quốc. Trong phiên họp chính thức của CLCS ngày 27-28/8/2009 mới đây, Việt Nam đã tái khẳng định lập trường của mình. Lập trường của Việt Nam là đúng, bởi lẽ cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, và do vậy cả hai nước đều phải tuân thủ Công ước này. [9]

 

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Hình tam giác bên trong đường đỏ, 
đường cam và đường chấm là vùng báo cáo Bắc của Việt Nam.

Tuy nhiên, có lẽ Việt Nam nên lưu ý đến lập luận mà Trung Quốc dùng để phản đối Nhật Bản, đối chiếu lập luận đó với lập luận mà họ đã dùng với Việt Nam, để cho thế giới thấy rõ sự mâu thuẫn trong lập trường của họ. Ngay tại Liên Hợp quốc, họ đòi hỏi phải áp dụng UNCLOS ở chỗ này, nhưng vứt bỏ UNCLOS ở chỗ khác.

Về phía Nhật Bản, chưa có thông tin chính thức họ trả lời phản đối của Trung Quốc như thế nào. Nhân đây, những hành động của họ đối với Okinotori có thể gợi ý cho Việt Nam những bài học tốt. Người dân Nhật gần như không quan tâm gì đến Okinotori cho đến năm 2004, khi tàu Trung Quốc tăng cường xuất hiện ở đây, và họ bất ngờ tuyên bố với Nhật rằng Okinotori không đủ điều kiện để yêu sách thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế. [10] Đá Okinotori nằm bên sườn phía đông Nhật Bản, án ngữ đường biển nối liền căn cứ hải quân Guam của Hoa Kỳ và Đài Loan.

Nếu khống chế được điểm yết hầu này, Trung Quốc có thể cắt đứt mối liên hệ trên biển giữa Guam và Đài Loan. Ngay khi cảm nhận được mối nguy, cả chính phủ lẫn người dân Nhật đều hành động một cách quyết liệt và đồng thuận. Về phía nhân dân, hoạt động của các tổ chức dân sự là hết sức ấn tượng, đặc biệt có thể kể đến tổ chức Nippon Zaidan. [11] Được tài trợ bởi các doanh nhân, Nippon Zaidan chi hàng triệu USD tổ chức nghiên cứu một cách quy mô và bài bản về Okinotori trên tất cả các lĩnh vực, và dĩ nhiên, không thể thiếu lĩnh vực công pháp quốc tế. [12]

* Người viết xin cảm ơn anh Lê Minh Phiếu đã biên tập bài viết này.

  • Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

[1] Đăng ký của Nhật

[2] Công hàm TQ phản đối Nhật

[3] “Trung Quốc phản đối đăng ký thềm lục địa của Nhật: Okinotori chỉ là đá”
(沖ノ鳥島は岩」中国、日本の大陸棚申請に反対)

[4] Đăng ký của VN

[5] Công hàm TQ phản đối Việt Nam

[6] Để biện hộ cho quyền sở hữu này, trong công hàm phản đổi, Trung Quốc chỉ đơn giản là khẳng định rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” , đã “quản lý” nó liên tục, và chủ quyền của họ được “quốc tế” “thừa nhận rộng rãi”.

[7] Ở đây họ cố ý né trách UNCLOS đến từng từ ngữ một. Họ không nhắc đến thuật ngữ EEZ, và thay vì dùng thuật ngữ “thềm lục địa” (continental shelf) của UNCLOS, họ dùng những từ đồng nghĩa “tầng đất”(subsoil) và “đáy biển” (seabed).

[8] Có một vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không có đời sống kinh tế độc lập. Vậy, nếu chiếu theo UNCLOS, cần nói về chúng như là “đảo” hay “đá”? Việc gọi chúng là “đảo” hay “đá” không ảnh hưởng đến chủ quyền của VN với chúng, nhưng có thể ảnh hưởng một phần đến việc tranh chấp lãnh hải, EEZ và thềm lục địa bao quanh những đảo/đá đó.

[9] Việt Nam trả lời Trung Quốc

[10] Yukie Yoshikawa, Okinotorishima: Just the Tip of the Iceberg

[11] Các nghiên cứu của Nippon Zaidan về Okinotori

[12] Ví dụ, báo cáo của Kuribayashi Tadao, giáo sư Luật ở Đại học Toyoeiwa, trong khuôn khổ một nghiên cứu của Nippon Zaidan, cũng dựa vào UNCLOS để biện luận rằng Okinotori có thể có thềm lục địa và EEZ. Lý do là, không có một định nghĩa rõ ràng về “đá” trong UNCLOS. Cái ý niệm cho rằng “đá” là nơi con người không thể cư trú và không có đời sống kinh tế độc lập là những căn cứ mơ hồ, vì trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta hoàn toàn có thể làm cho một nơi không thể cư trú thành có thể cư trú, một nơi không có đời sống kinh tế độc lập trở nên có một đời sống kinh tế riêng. 
Tham khảo: 栗林忠男,「沖ノ鳥島」の国際法上の地 (Kuribayashi Tadao,
Vị trí của Okinotori trong Luật pháp quốc tế
Ngược lại, nhiều chuyên gia quốc tế đã so sánh Okinotori của Nhật với Rockall của Anh. Năm 1988, Jon Van Dyke, giáo sư Luật ở ĐH Hawaii, lần đầu tiên cho rằng Okinotori không đủ điều kiện để đòi hỏi 200 hải lý thềm lục địa. Xem: Martin Fackler, A Reef or a Rock? Question Puts Japan In a Hard Place; To Claim Disputed Waters, Charity Tries to Find Use For Okinotori Shima, Wall Street Journal, Feb 16, 2005. pg. A.1.

http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/8053/index.aspx




Cập nhật ngày Thứ hai, 21 Tháng 9 2009 11:02

Trang 1 của 6