оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно
You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Tránh tư duy "con đà điểu" trong bảo vệ chủ quyền biển Đông

Email In PDF.

Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông xin chân thành cảm ơn quý độc giả VNN đã quan tâm, nhiệt tình gởi rất nhiều câu hỏi có ý nghĩa đến buổi giao lưu ngày 09/04/2010. Vì thời gian có hạn, chúng tôi chưa thể trả lời tất cả các câu hỏi của quý độc giả trên VNN. Chúng tôi kính mong nhận được ủng hộ và được trao đổi thêm với quý vị trên diễn đàn website này. Trân trọng!

BDHQNCBD

Dưới đây là nội dung của buổi giao lưu trực tuyến:

Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-04-09-tranh-tu-duy-con-da-dieu-trong-bao-ve-chu-quyen-bien-dong

Trong tranh chấp Biển Đông, để có thể phát huy sự đoàn kết của dân tộc, theo tôi mỗi người Việt Nam cần tạo sự đồng thuận trong cách thức đấu tranh. Một mặt, chúng ta cần phân tích các sự kiện lịch sử một cách duy lý và khoan dung. Mặt khác, chúng ta cần tạo một không gian tự do về mặt học thuật và trao đổi để những người quan tâm có thể mổ xẻ, phân tích những cơ sở liên quan đến chủ quyền của Việt Nam, từ đó có thể soi sáng những lập luận chưa đúng mà phía Trung Quốc đưa ra để ngụy tạo cho cơ sở của họ - Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Tuần Việt Nam giới thiệu nội dung cuộc giao lưu trực tuyến ngày 9/4 với TS. Trần Vinh Dự, TS. Giáp Văn Dương, TS. Lê Vĩnh Trương và  Lê Minh Phiếu, các thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Quỹ luôn mở rộng cửa cho những ai quan tâm

Vienle: QNCBĐ nghĩ sao khi đổi tên thành Quỹ biển Đông Nam Á để kêu gọi sự hợp tác chung nội khối ASEAN với mục đích quốc tế hóa nhằm bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam?

TS. Trần Vinh Dự: Bạn nói rất đúng. Trên thực tế, Quỹ có tên tiếng Anh là South East Asian Sea Foundation - tức là Quỹ nghiên cứu Biển Đông Nam Á nếu dịch hoàn chỉnh ra tiếng Việt.

Trọng Thiết: Việc ra đời QNCBĐ thời điểm này là cần thiết và có ý nghĩa đối với việc tạo thêm sự quan tâm của mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương và người dân đối với chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Bởi, ngoài các cơ quan, đơn vị tổ chức Nhà nước có trách nhiệm và tiếng nói ở góc độ "chính thống" thì rất cần các tổ chức "phi chính phủ" có tiếng nói mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn về các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo mà chính chúng ta đang phải "lựa" bởi nhiều lý do khác nhau.

Như việc mới đây một tổ chức địa lý Hoa Kỳ đề sai tên quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ thế giới, hay các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, mặc dù Bộ Ngoại giao các cơ quan báo chí lên tiếng, song giá như chúng ta có các tổ chức "phi chính phủ" về biển đảo đứng ra bảo trợ, làm chủ tọa để "lên tiếng" vì quyền lợi của Tổ quốc chắc chắn sẽ có thêm sự tiếp sức cần thiết cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đang rất khẩn trương, gay go, quyết liệt như hiện nay.

Tôi muốn biết Quỹ có những nội dung hoạt động chính như thế nào trong năm 2010?

TS. Lê Vĩnh Trương: Hiện nay công việc của QNCBĐ bao gồm: Thực hiện một chương trình tài trợ học bổng  cho các học sinh vùng biển trong năm học 2010-2011; Kết hợp với Trung tâm nghiên cứu biển đảo của ĐH KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh thành lập một chương trình Hỏi-Đáp dành cho cho sinh viên. Đồng thời chuẩn bị các cuộc nói chuyện về biển Đông với sinh viên tại các nhà văn hóa ở các thành phố lớn. QNCBĐ cũng sẽ  tập hợp tất cả các bài viết của các cây bút trong Qũy để xuất bản một tập sách trong nước và nếu có điều kiện sẽ dịch sang tiếng Anh và các ngôn ngữ Đông Nam Á để quảng bá cho chính nghĩa của Việt Nam.

Song song đó, QNCBĐ có những kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành công tác quốc tế, Đông Nam Á vận nhằm mục đích quảng bá về sự thật lịch sử chủ quyền và pháp lý của Việt Nam về Biển Đông.

Nhà báo Đức Liên (trái) và Tiến sĩ Trần Vinh Dự tại cuộc trực tuyến. Ảnh Đoàn Quý

Lê Thị Hiền: Nếu tôi muốn là thành viên của Quỹ thì phải đáp ứng những điều kiện gì?

Lê Minh Phiếu: Hiện chúng tôi có hai quy chế đối với người tham gia: Cộng tác viên và Thành viên. Cộng tác viên là những người được kết nạp một cách dễ dàng hơn và được trông đợi đóng góp ít hơn thành viên. Trừ đối với những người mà chúng tôi đã biết rõ, tất cả những người quan tâm đều sẽ được kết nạp trước tiên vào nhóm cộng tác viên. Sau một thời gian, nếu như người đó có nhiều đóng góp, thì sẽ được mời làm thành viên.

Do vậy, nếu bạn quan tâm, chúng tôi rất hân hạnh được mời bạn vào nhóm cộng tác viên. Nếu bạn có quan tâm và có đóng góp, chắc chắn chúng tôi sẽ mời bạn vào nhóm thành viên sau một thời gian.

Công và của đều là đóng góp tự nguyện

Dan Trung: Tôi được biết Quỹ Nghiên Cứu hoạt động dựa trên sự tự nguyện đóng góp công sức và tài chính của nhiều người, nhất là các thành viên của Quỹ. Gia đình tôi cũng có đóng góp chút ít. Cho tôi hỏi là Quỹ có được hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất từ Nhà nước chúng ta hay không? Và, hỏi thật, các bạn có sợ những kẻ tham lam nước ngoài đe dọa không?

TS. Trần Vinh Dự: Đúng như bạn nói, Quỹ kể từ khi thành lập đã hoạt động dựa trên sự đóng góp tự nguyện của nhiều người. Trong đó đáng kể nhất là các đóng góp về thời gian và công sức trong các dự án nghiên cứu, viết, xuất bản, và công bố các hồ sơ, tài liệu, và công trình nghiên cứu về biển Đông. Cho tới nay, hoạt động của Quỹ đều dựa trên sự đóng góp công sức tự nguyện nên chúng tôi vẫn chưa cần đến các nguồn tài chính đáng kể nào.

Tuy nhiên, trong tương lai, với tư cách là một Quỹ mà mục tiêu chính là hỗ trợ các nghiên cứu về biển Đông, chúng tôi sẽ có các kế hoạch huy động tài chính để phục vụ các chương trình như học bổng Sức sống biển Đông.

Với tư cách là một Quỹ, chúng tôi trân trọng các đóng góp từ tất cả các nhà tài trợ. Tuy nhiên, Quỹ nghiên cứu biển Đông không chấp thuận bị ảnh hưởng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. Quỹ NCBĐ có tôn chỉ, mục đích, và sứ mệnh riêng mà chúng tôi đã công bố rộng rãi.

Chúng tôi kiên quyết bảo vệ lập trường này của mình. Các nguồn tài chính đóng góp, nếu có, sẽ trên cơ sở nhà tài trợ tôn trọng lập trường của chúng tôi và không tìm cách gây ảnh hưởng đến đường lối của Quỹ.

Riêng về cái bạn gọi là "những kẻ tham lam nước ngoài đe doạ", chúng tôi tự thấy chúng tôi là người Việt Nam và có trách nhiệm thiêng liêng là phải bảo vệ những gì ông cha chúng ta để lại, từ đó có thể chuyển lại nguyên vẹn cho con cháu chúng ta sau này. Đó là một cam kết xuyên thế hệ. Những hệ luỵ hoặc hi sinh cá nhân, nếu phải có, cũng là việc bình thường và chúng tôi sẵn sàng đón nhận.

TS. Lê Vĩnh Trương: Xin chân thành cảm ơn bạn Dan Trung và gia đình đã tin tưởng và hỗ trợ. Chúng tôi được những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới hỗ trợ tinh thần. Dĩ nhiên cũng có những hiểu lầm nhưng đó là chuyện tất yếu trên bước đường của Quỹ. Điều khích lệ lớn nhất của chúng tôi là tấm lòng của người VN không phân biệt tôn giáo, chính kiến, quốc tịch... đã ủng hộ chúng tôi.

Chúng tôi có 1 chương trình nho nhỏ để đàm luận với những người tham lam ấy. Và chúng tôi tin rằng mình có thể tác động để cho họ bớt tham lam.

Vân Anh: Hạn chế trong hoạt động hiện nay của Quỹ là gì?

Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương (phải) và nhà báo Đức Liên. Ảnh Đoàn Quý

TS. Giáp Văn Dương: Hạn chế lớn nhất trong hoạt động hiện nay của Quỹ là cách thức hoạt động nghiệp dư, hoàn toàn dựa trên sự tình nguyện của các thành viên và cộng tác viên. Quỹ chúng tôi rất muốn tiến tới hoạt động chuyên nghiệp, nhưng do thiếu nhân lực, tài lực, nên việc chuyên nghiệp hóa này còn gặp nhiều khó khăn.

Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của xã hội để một ngày không xa, Quỹ có thể chuyển đổi thành tổ chức hoạt động mang tính chuyên nghiệp.

Lê Minh Phiếu: Điều trở ngại lớn nhất mà chúng tôi gặp phải đó là tất cả các thành viên và cộng tác viên, kể cả ban điều hành hay cố vấn đều hoạt động theo sự thiện nguyện, bán thời gian và chủ yếu là trực tuyến, trong khi, hầu như ai cũng đều rất bận bịu với những công việc riêng. Do vậy, chúng tôi không đủ nhân lực để có thể triển khai hết những ý tưởng và kế hoạch.

Chúng tôi đang cải thiện điều này bằng việc xúc tiến mở một văn phòng tại Việt Nam và tuyển một vài người làm việc thường trực và toàn thời gian có trả lương.

TS. Lê Vĩnh Trương: Tất cả các thành viên đều là những cá nhân vừa làm những công việc mưu sinh, vừa tham gia hoạt động trên tinh thần thiện nguyện nên tính tập trung có thể chưa cao.

Theo chúng tôi nghĩ, một số giới người Việt vẫn giữ thói quen phó thác cho Nhà nước hoặc các tổ chức nghiên cứu và giải quyết những việc như Biển Đông do họ chưa nhận thấy quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế từ biển. Điều đó dẫn đến sự hưởng ứng hạn chế của mọi người trong quá trình thúc đẩy xã hội hóa đối với QNCBĐ.

QNCBĐ cố gắng cải thiện tình hình này bằng cách thông qua truyền thông, thông qua các cuộc hội thảo và trong tương lai có thể thông qua các cuộc nói chuyện với các giới đồng bào để gỡ bỏ thói quen nói trên.

Có rất nhiều học giả nghiên cứu Biển Đông nói chung (trong và ngoài quỹ) cần một sự hỗ trợ cao hơn về tinh thần và vật chất từ phía QNCBĐ cũng như xã hội để có thể  toàn tâm, toàn ý nghiên cứu Biển Đông.

Hiện tại QNCBĐ chưa có văn phòng đại diện tại Việt Nam và chúng tôi đang tiến hành xin giấy phép.

Để bảo đảm tính khoa học và trung dung, chúng tôi buộc phải chọn lựa rất cao đối với các nguồn tài chính đóng góp cho QNCBĐ. Vì lẽ đó, ngân sách của Quỹ vẫn còn chưa đủ mạnh.

Ngọc Nhung: Đâu là những kinh nghiệm rút ra được sau một thời gian hợp tác và hoạt động cùng nhau trong quỹ?

TS. Giáp Văn Dương: Kinh nghiệm rút ra sau một thời gian hoạt động là sự tuân thủ tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc làm việc của Quỹ cần phải đảm bảo ở mức cao nhất để không sa đà, chệch hướng, đảm bảo tính khoa học và duy lý trong mọi hoạt động của Quỹ.

TS. Lê Vĩnh Trương: QNCBĐ bao gồm các thành viên ở các ngành nghề khác nhau như Pháp luật, Hải dương học, Khoa học hạt nhân, Vật lý, Kinh tế học... Tuy nhiên, điểm chung của chúng tôi là yêu thích nghiên cứu trên tinh thần trung dung và ôn hòa với mục đích có được những nghiên cứu có ích cho Việt Nam.

Do vậy, những khác biệt trong vấn đề nghề nghiệp hầu như đã được san bằng thông qua những trao đổi chân thành và tự nguyện. Tất cả những bài viết của chúng tôi đều được góp ý thẳng thắn nhưng thân ái. Đó là kinh nghiệm làm việc không dễ tìm được ở những môi trường khác.

Biển Đông mở ra rất nhiều đề tài nghiên cứu

Chung Hoàng: Các nghiên cứu của quỹ, ngoài việc đăng trên các báo và trang mạng, có được gửi đến cơ quan nhà nước nào không? Nếu có, Quỹ có nhận được phản hồi gì không?

TS. Trần Vịnh Dự (trái) và TS. Lê Vĩnh Trương. Ảnh: Đoàn Quý

TS. Lê Vĩnh Trương: Ngoài việc đăng báo và các trang mạng, các nghiên cứu viên của Quỹ đã có chia sẻ và thảo luận với các cơ quan nhà nước như: Ban Biên giới Chính phủ, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau và đã nhận được những phản hồi rất tích cực.

Những công việc cụ thể của Quỹ gồm có đưa ra ý kiến  trước các sự vụ: lập hồ sơ chung với Malaysia, phản đối Trung Quốc bắt ngư dân đòi tiền chuộc, khuyến cáo chính quyền không nên nộp tiền chuộc và kiến nghị nên quốc tế hóa vấn đề Biển Đông...

Nhật Huy: Quỹ cho biết sẵn sàng hỗ trợ các dự án vừa và nhỏ, đặc biệt các dự án nghiên cứu của sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu về Biển Đông tại các trường đại học ở Việt Nam. Vậy tình hình nghiên cứu vấn đề này ở các trường đại học đang diễn ra thế nào? Đâu là những đề tài vừa tầm với việc nghiên cứu của sinh viên?

TS. Trần Vinh Dự: Chúng tôi đang tích cực tiếp xúc với các trung tâm, các viện nghiên cứu, và các trường đại học có chương trình giảng dạy liên quan đến biển để nắm được tình hình nghiên cứu của các cơ sở này.

Chúng tôi cũng đang cố gắng thúc đẩy việc ra đời một chương trình học bổng thường niên về Biển Đông. Nếu mọi việc đúng theo kế hoạch, học bổng "Sức Sống Biển Đông" do Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và đối tác trong nước cùng thực hiện sẽ ra đời vào khoảng tháng 9 năm nay.

Có một số mảng đề tài mà chúng tôi cho là vừa sức với sinh viên. Danh mục các chủ đề gợi ý này sẽ được cung cấp khi chúng tôi công bố chương trình học bổng của mình. Dưới đây chỉ là một số gợi ý từ phía cá nhân tôi:

Kinh tế biển:

1. Đánh giá thực trạng và dự đoán tiềm năng hải sản trên biển Đông.

2. Đánh giá thực trạng khai thác và dự báo nguồn lợi dầu khí trên biển Đông.

3. Phân tích thực trạng kinh doanh của hệ thống cảng biển của Việt Nam. Nghiên cứu việc bố trí tối ưu hệ thống cảng biển dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam.

4. Khai thác năng lượng thủy triều và năng lượng gió trên biển (phong điện)

5. Thực trạng khai thác và tiềm năng du lịch biển.

6. Khả năng phát triển các khu kinh tế mở dọc bờ biển.

7. Phát triển kinh tế trên các đảo của Việt Nam.

Luật biển:

1. Các luật quốc tế về biển và hàng hải nói chung.

2. Luật quốc tế về phân định biên giới trên biển (UNCLOS và tiền UNCLOS)

3. Các case studies về phân định biên giới trên biển mà Việt Nam cần quan tâm.

4. Nghiên cứu về cơ chế sử dụng trọng tài và tòa án quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp trên biển.

5. Vấn đề gác lại tranh chấp và hợp tác khai thác trên biển trên khía cạnh pháp lý và khả năng thực thi.

Lịch sử và văn hóa liên quan đến biển:

1. Khai thác biển của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

2. Các nét văn hóa độc đáo của cư dân ven biển.

3. Các bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông.

4. Nghiên cứu, giải mã và phê phán các bằng chứng mà Trung Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của họ trên biển Đông.

5. Nghiên cứu về việc sử dụng các bằng chứng lịch sử trong việc giải quyết tranh chấp biên giới trên biển.

Địa chính trị biển:

1. Vai trò của biển Đông đối với quốc tế.

2. Vị trí và tầm quan trọng của các đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông

3. Vị trí chiến lược (nếu có) của Việt Nam trên biển Đông và làm thế nào để sử dụng được các lợi thế này?

Địa lý biển Đông:

1. Cấu tạo địa chất của biển Đông.

2. Các dòng hải lưu trên biển Đông.

3. Hiện tượng bồi lấn trên biển Đông, ảnh hưởng của nó đến vận tải biển và sự vận hành của hệ thống cảng biển của Việt Nam.

4. Khí hậu và thời tiết ở biển đông, các ảnh hưởng của chúng đến kinh tế và quốc phòng của Việt Nam trên biển.

Ngôn ngữ học và Đông phương học:

1. Các di chỉ, di tích, di vật viết bằng chữ Hán, chữ Nôm liên quan đến quá trình khám phá đất đai, phát hoang hay tạo dựng dinh đền vùng song biển Việt Nam.

2. Nghiên cứu các tư liệu các tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Nhật, và các tiếng các quốc gia Đông Nam Á có liên quan đến bờ biển Việt Nam

Hương Lan: Quỹ đang tiến hành dịch các sách và tài liệu tiếng nước ngoài về chủ quyền trên biển Đông của VN ra tiếng Việt, vậy quỹ có liên hệ với các nhà xuất bản và công ty sách trong nước để phát hành rộng rãi các ấn phẩm này không, thái độ của các cơ quan xuất bản trong nước ra sao?

TS. Lê Vĩnh Trương: Quỹ NCBĐ đã liên lạc với NXB Tri Thức để tiến tới ấn hành một số tài liệu và đầu sách tiếng Việt và dịch sang tiếng Anh, đồng thời chúng tôi đã trao đổi kế hoạch hợp tác tuyên truyền với VietNamNet. Và chúng tôi đã nhận được thái độ hợp tác rất tích cực.

Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa: Hiện nay tôi đọc rất nhiều tài liệu được dịch bởi thành viên QNCBĐ. Xin hỏi Quỹ đã có cách tổ chức việc biên dịch đó như thế nào? Hỏi từ việc lấy nguồn tài liệu đến việc phân công công việc. Kinh nghiệm này rất quan trọng đối với các nhóm hoạt động về chủ quyền biển đảo khác, ví dụ như Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa?

TS. Lê Vĩnh Trương: Chúng tôi có một đội ngũ biên dịch viên ở nhiều nơi trên thế giới, được điều phối bởi các thành viên như chị Đinh Ngọc Thu (Mỹ), anh Dương Danh Huy (Anh), anh Lê Minh Phiếu (Pháp).

Việc nắm bắt các bài viết trên mạng và dịch sang tiếng Việt được đội ngũ biên dịch làm việc thật nhanh và trao lại cho những thành viên khác chỉnh sửa, biên tập. Sau đó, chúng tôi cùng tham gia biên tập để bài viết được đến tay bạn đọc nhanh chóng nhất.

Nhân đây chúng tôi cũng mong muốn Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm và lưu trữ tư liệu Biển Đông sao cho phong phú.

Vì sự công bằng và bình yên cho biển đảo

Nguyen Vinh Quang: Trung Quốc gần đây dự định tiến hành khảo cổ Hoàng Sa. Theo tôi đó là bước đi khôn ngoan để đánh động dư luận trong nước và nhất là cộng đồng quốc tế về quyền sở hữu của mình ở Biển Đông. Nhưng tôi thấy ở Việt Nam mình chưa tuyên truyền sâu rộng (lịch sử hình thành, lịch sử chiếm đóng của Trung Quốc, thuỷ chiến Hoàng Sa....) đến với người  dân. Vậy Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông trong thời gian tới sẽ làm gì, hành động như thế nào, hay quỹ chỉ dừng lại ở hình thức nghiên cứu như đúng tên gọi của quỹ.

Lê Minh Phiếu: Những vấn đề mà bạn nêu đúng là còn nhiều người Việt Nam chưa biết đến. Song, chúng ta cần ghi nhận là hiện cũng có nhiều nhóm, diễn đàn đang có những nỗ lực phổ biến những điều mà bạn bận tâm. Do vậy, chúng tôi sẽ cố gắng làm những điều mà chúng tôi cho rằng cần thiết nhưng chưa được thực hiện bởi người khác.

Đương nhiên, những vấn đề mà bạn nêu sẽ được chúng tôi nghiên cứu, hành động nếu như nó liên quan đến từng chủ đề hay chương trình hành động cụ thể của chúng tôi.

TS. Giáp Văn Dương. Ảnh: Cao Nhật

TS. Giáp Văn Dương: Mục đích của Quỹ Nghiên cứu biển Đông là hỗ trợ những nghiên cứu về biển Đông, bao gồm cả kinh tế biển, chủ quyền biển đảo, lịch sử, địa lý tự biển... với mục đích cao nhất là góp phần bảo vệ chủ quyền và vệ lợi ích hợp pháp của Việt Nam tại đây. Những hỗ trợ này bao gồm hỗ trợ về thông tin, tài liệu, tài chính thông qua sự tài trợ của các nhà hảo tâm và sự đóng góp của bản thân các thành viên.

Quỹ cũng đưa ra những phân tích, tư vấn về tranh chấp trên tinh thần khoa học, duy lý, vì sự công bằng và bình yên cho biển đảo. Các hoạt động tuyên truyền sâu rộng không thuộc phạm vi hoạt động của Quỹ. Các cơ quan hữu quan của Nhà nước phải làm việc này. Tuy nhiên, Quỹ sẵn sàng hỗ trợ báo chí, truyền thông và các cơ quan hữu quan trong việc phổ biến thông tin về biển đảo tới người dân.

Nguyễn Văn Sửu: Tôi muốn được hiểu sâu hơn cơ chế hoạt động của QNCBĐ, có nguồn tài trợ nào không, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam có quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quỹ thế nào? Nhà nước, Chính phủ đã sử dụng sản phẩm (là bài nghiên cứu đã đăng tải của các thành viên Quỹ như thế nào?

TS Lê Vĩnh Trương: Chúng tôi hy vọng các bài nghiên cứu sẽ đến với bạn đọc các giới. Hiện có những quan điểm của QNCBD đã được các giới ủng hộ và đồng tình, ví dụ như: Hoạt động ngoại giao nhân dân, sử dụng sức mạnh mềm, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, không nộp tiền chuộc... và chúng tôi cũng hy vọng những kiến nghị, ý kiến nói trên đã được Nhà nước lắng nghe.

Cơ chế hoạt động của QNCBĐ gồm 40 thành viên và hơn 120 cộng tác viên và chúng tôi hiện đang tự đi tìm tài trợ. Như đã đề cập ở phần trên, để bảo đảm tinh thần khoa học và trung dung, chúng tôi có những chọn lọc cẩn trọng đối với các nguồn tài trợ.

Hiện nay, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quan tâm của các cơ quan truyền thông như: báo VietNamNet, Tuổi Trẻ, Thanh Niên và sắp tới là báo Thời đại.

Cho người dân biết có thể đóng góp bảo vệ biển đảo như thế nào

Xuân Long: Có nghiên cứu, khảo sát nào cụ thể cho thấy mức độ nhận thức đúng đắn của người Việt Nam về vấn đề biển Đông?

TS. Giáp Văn Dương: Theo tôi được biết, hiện chưa có nghiên cứu cụ thể nào (theo tiêu chuẩn học thuật) về mức độ nhận thức của người dân Việt Nam về vấn đề biển Đông. Tuy nhiên, qua báo chí, tôi có thể thấy: phần lớn người dân Việt Nam đều quan tâm đến vấn đề biển Đông.

Điều này cũng dễ hiểu, vì chủ quyền biển đảo, cũng như chủ quyền lãnh thổ, là vấn đề thiêng liêng ngàn đời. Cha ông đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi và máu để khai khá, gìn giữ mảnh đất này, thì con cháu đương nhiên cũng tiếp nối truyền thống đó.

Giữ nước đã ăn vào máu của người Việt. Đó là tinh thần Việt.

Lê Minh Phiếu: Năm ngoái, Quỹ NCBD có tổ chức một cuộc thăm dò nhỏ qua mạng internet để khảo sát về mức độ nhận thức của người sử dụng internet đối với những vấn đề liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Đa số người trả lời đã có những câu trả lời đúng với những vấn đề được hỏi.

Song, cũng phải thừa nhận rằng đó là những người biết sử dụng internet và một khi chấp nhận trả lời, họ là những người đã có quan tâm đến vấn đề Biển Đông ở một mức độ nhất định. Để có một bức tranh toàn diện về vấn đề bạn nêu, có lẽ chúng ta cần một cuộc khảo sát với những đối tượng rộng rãi hơn.

TS. Lê Vĩnh Trương: Chúng tôi chưa được biết liệu đã có tổ chức nào có nghiên cứu khảo sát về việc này hay chưa. Còn riêng QNCBĐ, một trong những dự án tương lai của chúng tôi là tiến hành nghiên cứu khảo sát để hiểu được mức độ quan tâm của người Việt Nam về vấn đề Biển Đông.

Huỳnh Bá Phước: Người Việt Nam làm và ăn nước mắm từ rất xa xưa, đến mức đã là chuyên viên, không như một số dân tộc gần bên, không biết đến món ăn này. Nước mắm chủ yếu làm từ cá biển, thật nhiều cá biển. Điều này có phải chứng tỏ người Việt Nam đi biển giỏi hơn? Và nếu đúng vậy, nó có ý nghĩa gì trong việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông?

TS. Giáp Văn Dương: Việc người Việt biết ăn và sành ăn nước mắm khó có thể dùng để khẳng định người Việt đi biển giỏi hơn người một số dân tộc gần bên, dù nước mắm được làm phần nhiều từ cá biển. Tuy nhiên, điều này gợi đến suy nghĩ về một nền kinh tế biển có thể đã hình thành từ lâu đời của người Việt. Điều này rất có ý nghĩa trong việc nhận thức lại về tư duy biển của người Việt: cha ông ta không hẳn đã quay lưng ra biển như nhiều người đã từng nghĩ.

Tạ Du: Người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp được gì trong việc giành lại hoặc tiếp sức với nhân dân trong nước khẳng định chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Trường và Hoàng Sa nói riêng, và bảo vệ an ninh trên biển Đông nói chung? Nếu họ có thể góp phần trong việc này, mà tôi nghĩ sẽ giúp ích nước nhà trên rất nhiều phương diện, không chỉ biển Đông, nhà nước làm thế nào để vận động sự hợp tác của họ?

TS. Giáp Văn Dương: Người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp vào việc khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó có nhiều hình thức mà người dân trong nước không có được, như việc tiếp cận các kho tư liệu về biển đảo ở các thư viện nước ngoài, phổ biến thông tin về chủ quyền biển đảo của Việt Nam đến cộng đồng quốc tế để kêu gọi sự ủng hộ từ bên ngoài, hỗ trợ về mặt kinh tế, kĩ thuật cho ngư dân, bộ đội, chiến sĩ, hỗ trợ các dự án nghiên cứu về biển đảo...

Để thu hút sự hỗ trợ này từ người Việt ở nước ngoài, nhà nước trước hết cần đứng ra kêu gọi, vận động họ tham gia cùng nhân dân trong nước. Nhà nước cần có danh mục những việc cần làm cho công cuộc bảo về chủ quyền biển đảo để mỗi người Việt Nam, dù là ở trong hay ngoài nước, có thể tùy điều kiện cụ thể của mỗi người mà tham gia, ví dụ: kế hoạch thu thập các bản đồ cổ khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở các thư viện nước ngoài, kế hoạch tọa đàm về chủ quyền biển đảo Việt Nam với các thư viện, trường đại học các nước, kế hoạch xây dựng tủ sách/trường học cho Trường Sa, kế hoạch hỗ trợ ngư dân bị xâm hại, kế hoạch cung cấp thiết bị kĩ thuật như máy định vị cho ngư dân khi đánh bắt xa bờ, kế hoạch phản đối những thông tin sai lệch về chủ quyền biển đảo...

TS. Trần Vinh Dự. Ảnh: Đoàn Quý

Đoàn kết và không né tránh

N.C.Hải: Theo các anh, trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền,Việt Nam mình có đơn độc không? Người Việt mình đã thật sự đồng tình và đoàn kết một lòng chưa?

Lê Minh Phiếu: Từ trước đến nay, Trung Quốc theo đuổi chính sách giải quyết cách tranh chấp trên biển Đông thông qua con đường song phương. Trung Quốc đã và đang cố gắng vô hiệu hóa mọi nỗ lực của các bên để quốc tế hóa cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông (đặc biệt là đường chín đoạn đứt khúc hình chữ U - đường lưỡi bò) đã xâm phạm đến vùng biển của tất cả những nước khác bao quanh Biển Đông. Nó còn xâm phạm đến vùng biển quốc tế, tức vùng biển chung của cả nhân loại.

Mặc khác, biển Đông là nơi có những tuyến hàng hải quan trọng của thế giới. Do vậy, những yêu sách và hành động mạnh bạo của Trung Quốc cũng làm cho các nước liên quan e ngại.

Vì thế, có nhiều nước trên thế giới điều có một điểm chung với Việt Nam trong vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Đó cũng là lý do tại sao chúng ta thấy có sự xuất hiện ngày càng nhiều những học giả, những người hoạt động ở nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng tỏ sự e ngại hay phản đối yêu sách và hành động của Trung Quốc trên Biển Đông.

Do vậy, Việt Nam sẽ không đơn độc trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông nếu chúng ta biết điều này và có những hành động để kêu gọi sự ủng hộ và hợp tác của bạn bè quốc tế.

Còn với câu hỏi người Việt mình đã thật sự đồng tình và đoàn kết một lòng chưa, theo tôi, người Việt mình có lẽ ai cũng muốn đứng lên bảo vệ và gìn giữ từng vùng đất, vùng biển thiêng liêng của Tổ Quốc. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, cách thức và phương pháp đấu tranh của người Việt mình có nhiều điểm khác nhau, thậm chí đôi khi ảnh hưởng lẫn nhau.

Kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt Nam đã cho thấy rằng, đoàn kết là một điều mà dân tộc ta không thể thiếu trước những đe dọa về chủ quyền hay lãnh thổ. Trong tranh chấp Biển Đông, để có thể phát huy sự đoàn kết của dân tộc, theo tôi mỗi người Việt Nam cần tạo sự đồng thuận trong cách thức đấu tranh.

Để làm được điều đó, cần có nỗ lực từ hai phía:

Một mặt, chúng ta cần phân tích các sự kiện lịch sử một cách duy lý và khoan dung. Sự trách cứ lẫn nhau không thể làm thay đổi những gì đã xảy ra trong lịch sử. Nếu như chỉ để nêu ra những sự kiện lịch sử chỉ để trách cứ lẫn nhau, đặc biệt là khi đứng trước các diễn đàn quốc tế, chúng ta vô tình đi tuyên truyền cho những luận điểm có hại cho sự nhận thức của quốc tế về cơ sở pháp lý của chủ quyền Việt Nam.

Mặt khác, chúng ta cần nên tránh "tư duy con đà điểu": tránh né một vấn đề không tự thân làm cho vấn đề đó mất đi. Do vậy, chúng ta cần tạo một không gian tự do về mặt học thuật và trao đổi để những người quan tâm có thể mổ xẻ, phân tích những cơ sở liên quan đến chủ quyền của Việt Nam, từ đó có thể soi sáng những lập luận chưa đúng mà phía Trung Quốc đưa ra để ngụy tạo cho cơ sở của họ.

Nguyễn Trung Kiên: Như chúng ta đã biết, Trung Quốc rất quyết tâm chiếm phần lớn biển Đông. Tương quan về sức mạnh quân sự của TQ so với các nước tranh chấp nghiêng về phía TQ. Trong trường hợp nỗ lực quốc tế hoá việc tranh chấp của chúng ta bị TQ chống phá quyết liệt và thành công. Khi đó chúng ta sẽ phải làm gì?

TS. Giáp Văn Dương: Trong trường hợp nỗ lực quốc tế hoá việc tranh chấp của chúng ta bị TQ chống phá quyết liệt và thành công thì chúng ta cần phải đẩy mạnh dân tộc hóa việc bảo vệ chủ quyền biển đảo: Cả nước hướng ra biển Đông, cả dân tộc cùng đồng tâm nhất chí bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Như vậy, quốc tế hóa phải đi cùng dân tộc hóa. Hai chiến lược này phải tiến hành song song, đồng thời, tạo thế trong ngoài hỗ trợ nhau.

Biển Đông đang thực sự là không gian sinh tồn của Việt Nam. Dự đoán đến năm 2020, tức là chỉ còn 10 năm nữa, kinh tế biển sẽ đóng góp hơn 50% GDP của cả nước. Nhưng đầu tư cho biển đảo hiện còn chiếm tỷ trọng quá ít so với đầu tư trên đất liền.

Việc này cần phải được điều chỉnh và cân đối lại.

Trọng Thiết: Quỹ có những sáng kiến gì trong việc tạo ra nguồn lực để xây dựng lực lượng hải quân ngày càng hùng mạnh hơn, đủ sức bảo vệ chủ quyền trong mọi tình huống.

TS. Lê Vĩnh Trương: Là những nhà nghiên cứu khoa học về biển đảo, chúng tôi không dám lạm bàn sâu về vấn đề quân sự, song nếu được phép kiến nghị, chúng tôi xin đưa ra 3 điểm sau:

Một là, về con người, chúng ta cần xây dựng một lớp người yêu biển và yêu quân chủng hải quân, thông qua các hoạt động giáo dục từ cấp tiểu học trở lên.

Hai là, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia cùng lực lượng hải quân đầu tư khai thác tài nguyên biển: phong điện, khai khoáng... để có sức mạnh tổng hợp giữa kinh tế với quốc phòng. Từ đó gia tăng tiềm lực cho ngân sách, phục vụ yêu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng.

Ba là, đề xuất Nhà nước tiếp tục theo đuổi chiến lược ngoại giao quốc phòng đa phương, đa dạng hơn để xây dựng niềm tin và tăng cường hiểu biết với quân đội và hải quân các nước trong khu vực.

Lê Minh Phiếu: Theo tôi, Việt Nam nên tiến hành việc chuyên nghiệp hóa và tinh giản hóa quân đội. Việc chuyên nghiệp hóa sẽ giúp cho việc tránh phân tán nguồn lực cho quân đội vào những lĩnh vực khác mà dân sự có thể hoàn toàn làm được (ví dụ như kinh doanh).

Tinh giản hóa quân đội sẽ tránh việc dàn trải nguồn lực vào những địa bàn không cần thiết, giúp cho việc tập trung nguồn lực để xây dựng lực lượng hải quan vốn rất cần thiết hiện nay.

Tương quan với Trung Quốc

Thuỷ Nguyễn: VN chưa có nhiều các tổ chức phi chính phủ hoạt động cho việc bảo vệ biển đảo, các bạn thấy tương quan này so với Trung Quốc thì thế nào?

Lê Minh Phiếu: Bạn nói một thực tế rất đúng và rất đáng buồn. Và thật sự là để có thể tận dụng được những nguồn lực quý giá của đất nước, chúng ta cần có sự hình thành và hoạt động của nhiều tổ chức phi chính phủ trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hoạt động cho việc bảo vệ biển đảo.

Có nhiều điều, Nhà nước làm thì có lợi, nhưng có nhiều điều, người dân làm thì có lợi. Việc thiếu vắng các tổ chức phi chính phủ làm cho nhiều vấn đề được vận hành giống như một chiếc xe chạy mà chỉ có một cái bánh.

Để có thể có sự ra đời của nhiều tổ chức phi chính phủ cho việc bảo vệ biển đảo và để có thể đạt được một mức độ tương quan nhất định so với lực lượng hoạt động của Trung Quốc, tôi nghĩ điều đầu tiên và quan trọng nhất là Nhà nước cần thiết lập một hành lang pháp lý rõ ràng và thông thoáng cho sự ra đời và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.

Thuỷ Chung: Theo tôi biết có những thời điểm chính quyền TQ nói đến vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và có những luận điệu tiêu cực về chính quyền VN, những lúc ấy, truyền thông TQ đều nhất loạt đứng về phía chính phủ mình và chĩa mũi dùi về phía chính phủ VN. Anh đánh giá thế nào về vai trò của truyền thông TQ đối với vấn đề này trong tình hình hiện nay?

TS. Trần Vinh Dự: Tôi cho chuyện báo chí truyền thông của một nước bênh vực lợi ích quốc gia của nước mình là chuyện bình thường.

Tuy nhiên, một số các bài báo của họ mà tôi có cơ hội được đọc đã đi quá xa theo hướng chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Giọng điệu của một số bài báo này vừa thiếu thân thiện, hiếu chiến, và không duy lý. Theo tôi có lẽ các bài này không phản ánh lập trường của chính phủ Trung Quốc cũng như dân tộc Trung Quốc nói chung. Những bài báo như vậy không có lợi cho Trung Quốc theo nghĩa nó tạo ra một hình ảnh rất phản cảm về đất nước này.

Lê Minh Phiếu: Hiện tại, vì nhiều lý do, chính quyền cũng như truyền thông Trung Quốc đang cố súy rất mạnh mẽ tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở nước này. Biển Đông là một trong những để tài cho các cuộc bàn luận đầy cảm tính và mang nặng tính dân tộc chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, việc làm này của truyền thông Trung Quốc như rót thêm dầu vào lửa và đây thật sự là một điều rất nghiêm trọng. Sẽ là tốt đẹp hơn cho quan hệ lâu dài và tốt đẹp giữa hai nước nếu truyền thông Trung Quốc nên gia tăng hàm lượng duy lý, bớt chủ quan và duy ý chí trong các chương trình của mình.

Cần thêm nhiều thông điệp ngoại giao

Lê Thị Thanh Huyền: Vấn đề tranh chấp lãnh hải trên biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể được giải quyết theo chiều hướng có lợi cho ta hay không và bằng phương sách nào? Việt Nam với nhiệm kỳ Chủ tịch Asean 2010 đã xây dựng quan điểm, lập trường như thế nào về vấn đề biển Đông giữa các quốc gia trong khu vực cũng như với các đối tác bên ngoài? Chúng ta sẽ đưa ra chương trình hành động cụ thể ra sao?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương đang trò chuyện trực tuyến
với độc giả. Ảnh. Cao Nhật

TS. Giáp Văn Dương: Đó là một lợi thế. Vấn đề còn lại là biến lợi thế đó thành sức mạnh thực tế. Muốn vậy, cần quốc tế hóa tranh chấp để thế giới biết được tính chính nghĩa của ta; liên kết với các nước ASEAN, tạo thế "quần ngưu đả hổ" để chống lại sự lấn tới của Trung Quốc, tăng cường thông tin và truyền thông về biển đảo, kể cả những thông tin không có lợi, cho toàn dân biết để tạo sự đồng thuận trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, tạo cân bằng với những áp lực truyền thông từ phía Trung Quốc và các nước đang có tranh chấp khác.

Vấn đề tranh chấp biển Đông hoàn toàn có thể giải quyết theo hướng có lợi cho Việt Nam, vì chúng ta có hồ sơ lịch sử và pháp lý mạnh nhất. Nói cách khác là chúng ta có chính nghĩa trong tranh chấp.

Riêng quan điểm lập trường, chương trình hành động cụ thể về vấn đề tranh chấp biển Đông khi Việt Nam là chủ tịch ASEAN trong năm 2010 này, xin dành phần trả lời cho các cơ quan hữu quan của Chính phủ.

Trường Giang: Chúng ta đã được ít nhiều nghe người đại diện ngoại giao Trung Quốc tại Việt Nam nói về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Vậy ngược lại theo anh chúng ta cần truyền tải thông điệp ngoại giao như thế nào đến phía Trung Quốc?

TS. Lê Vĩnh Trương: Chúng tôi không dám làm thay công việc quan trọng của Bộ Ngoại giao, nhưng trong khuôn khổ câu hỏi trên, chúng tôi xin được phép có ý kiến nhỏ. Chúng ta đã cứu nạn những thuyền đánh cá Trung Quốc bị tai nạn, chúng ta đã có những khẳng định ôn tồn mà cương quyết của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, chúng ta đã có phát biểu mạnh mẽ của Chủ tịch nước trên đảo Bạch Long Vĩ. Và hiện tại Vietn amNet, Quỹ NCBĐ cùng các độc giả hiện đang có một thông điệp ngoại giao nhân dân gửi đến Trung Quốc thông qua chương trinh giao lưu trực tuyến này.

Hà Thu: Xin các anh cho biết thêm thông tin về tiến trình đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông ra Tòa Án hay Trọng Tài Quốc Tế?

Lê Minh Phiếu: Tranh chấp trên Biển Đông mà có liên quan đến Việt Nam hiện có 2 loại:

Tranh chấp các quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa giữa nhiều nước

Tranh chấp biển, trong đó bao gồm tranh chấp vùng biển thuộc các đảo/quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tranh chấp vùng biển không thuộc các đảo/quần đảo nhưng chồng lấn do đường chữ U.

Các bên có thể đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế để giải quyết các tranh chấp trên như các nước Đông Nam Á đã làm.

Liên quan đến đến việc phân định các vùng biển, các bên còn có thể đưa ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal on the Law of the Sea), Trọng tài, Trọng tài đặc biệt (theo quy định cụ thể của UNCLOS, đặc biệt là phần XV, Phụ lục V, VI, VII, VIII của Công ước này).

Tuy nhiên, dù đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế hay Trọng tài, điều cần thiết là các bên trong tranh chấp cần đồng ý rằng Tòa án hay Trọng tài đó sẽ có thẩm quyền giải quyết. Đây là một điều mà Trung Quốc chưa sẵn sàng chấp nhận và do vậy có lẽ khó xảy ra trong tương lai gần.

Lê Quang: Hiện trên thế giới, các trường ĐH, viện/tổ chức nghiên cứu nào trên thế giới có những nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề biển Đông? Quỹ Nghiên cứu Biển Đông có liên hệ hợp tác gì với họ không/hoặc sử dụng các kết quả nghiên cứu đó như thế nào? Xin cho biết tình hình nghiên cứu về biển Đông tại các nước có liên quan trong khu vực (Trung Quốc, Phillipines....) Họ nghiên cứu gì, công khai những thông tin gì...?

TS. Giáp Văn Dương: Biển Đông hiện đang nổi lên như là một trong những vấn đề nóng của khu vực, vì thế thu hút được sự quan tâm của quốc tế. Hiện có nhiều trường, viện nghiên cứu trên thế giới có những nghiên cứu về vấn đề này, ví dụ: chỉ trong một thời gian ngắn, đã có hai hội thảo quốc tế về biển Đông được tổ chức ở ĐH Yale và ĐH Temple ở Mỹ.

Tuy nhiên, Quỹ chúng tôi chỉ có thể nắm được những nghiên cứu được công bố dưới dạng sách, báo hoặc báo cáo khoa học của họ và sử dụng chúng làm tài liệu tham khảo cho các lập luận của mình.

Chúng tôi có một số liên hệ cá nhân với một số người nghiên cứu về vấn đề này để trao đổi một số vấn đề cũng như để xin bản quyền để xuất bản một số tác phẩm của họ tại Việt Nam.

Chúng tôi hiện giờ chưa có hợp tác gì đáng kể với họ trong nghiên cứu. Chúng tôi sẽ kiện toàn phần này trong thời gian tới.

Lê Minh Phiếu: Theo tôi được biết, Trung Quốc đang đẩy rất mạnh nghiên cứu và công bố, tuyên truyền về biển Đông, tạo ra số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế áp đảo so với ta, tạo ra "cuộc chiến không cân sức giữa các học giả". Điều này quả thật đáng tiếc.

Các nước khác cũng đẩy mạnh nghiên cứu và truyền thông về biển Đông một cách tự do theo đúng tinh thần học thuật. Vì thế, Việt Nam, thay vì tự hạn chế mình, nên cạnh tranh với họ.

Vì người Việt có ai là không ăn nước mắm

Thạc sĩ Lê Minh Phiếu: "Việt Nam, thay vì tự hạn chế mình, nên cạnh tranh với họ".

Thanh Việt: Được biết các anh đều là những trí thức trẻ đã thành đạt, tại sao các anh lại quan tâm tới tình hình Biển Đông và quyết định thành lập/tham gia Quỹ nghiên cứu BĐ?

Lê Minh Phiếu: Cảm ơn bạn đã có câu hỏi đi kèm với một lời khen. Riêng về cá nhân, tôi không nghĩ xứng đáng với lời khen đó. Song, tôi cho rằng, việc làm một điều gì đó mà mình nghĩ có ích cho đất nước nói chung hay làm một cái gì đó vì Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông nói riêng không phụ thuộc hay liên quan gì nhiều lắm đến việc có thành đạt hay không.

Bất kể một người có thành đạt hay không, chúng ta đều có thể làm một điều mà chúng ta thấy quan tâm, thấy có ích, cần thiết và trong khả năng hạn hẹp của mình.

TS. Giáp Văn Dương: Tôi tham gia Quỹ Nghiên cứu biển Đông vì muốn góp một phần nhỏ bé, nhưng thiết thực, vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Cách làm việc khoa học, duy lý của Quỹ cũng rất phù hợp với người làm khoa học như tôi.

TS. Lê Vĩnh Trương: Toàn dân VN ai cũng liên quan đến Biển Đông. Có mấy người VN không ăn nước mắm? Tôi tham gia QNCBD vì mong muốn những người VN liên quan đến Biển Đông sẽ quan tâm đến Biển Đông, hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của bản thân mình gắn liền với Biển Đông.

Cập nhật ngày Thứ ba, 13 Tháng 4 2010 02:21

Vụ kiện Phi-Trung và quyền lợi Việt Nam

Email In PDF.

Bộ Ngoại giao Philippines đưa thông tin Tòa Trọng Tài tại Den Haag tiến hành phiên điều trần chính phân xử vụ kiện Phi-Trung về Biển Đông ngày 24/11/2015.

Trước đó, ngày 29/10/2015 Tòa đã phán quyết về phiên điều trần sơ khởi của vụ kiện.

Phiên điều trần đó là bước đầu, qua đó Tòa xác định mình có thẩm quyền hay không, và hồ sơ của Philippines có thể thụ lý được hay không.

Trung Quốc cho rằng trả lời cho hai câu hỏi này đều là “Không”. Nếu trả lời đó đúng, hồ sơ của Philippines sẽ bị loại ngay từ bước này.

Nhưng, kết luận về phiên điều trần sơ khởi, Tòa đã bác bỏ quan điểm của Bắc Kinh và tuyên bố rằng trong 15 điểm Philippines đưa ra, Tòa có thẩm quyền để xử 7 điểm, trong đó có 2 điểm với điều kiện không có sự chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa, tương đương với điều kiện không có thực thể địa lý nào trong quần đảo Trường Sa được hưởng hai quy chế này.

Tòa cũng cho rằng vấn đề thẩm quyền của 7 điểm khác có thể có những yếu tố nằm ngoài phạm trù sơ khởi, do đó Tòa phải xem xét các điểm này trong phiên điều trần chính mới có thể kết luận về thẩm quyền.

Như vậy, Philippines đã chiến thắng gần như hoàn toàn trong bước đầu: Tòa sẽ tiến hành phiên điều trần chính để xét ít nhất 14 điểm trong hồ sơ của Manila. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Philippines sẽ thắng tất cả những điểm này trong phiên điều trần chinh, đặc biệt là những điểm phụ thuộc vào điều kiện có thực thể địa lý nào trong quần đảo Trường Sa được hưởng quy chế EEZ hay không.

Theo ghi nhận của Tòa, Việt Nam đã khẳng định rằng Tòa có thẩm quyền để phân xử, và, thêm vào đó, trong 7 thực thể địa lý được nêu ra trong hồ sơ của Philippines, không thực thể nào được hưởng quy chế EEZ.

Nhưng Việt Nam không cho biết quan điểm của mình về có thực thể nào khác được hưởng quy chế này hay không. Việt Nam cũng tuyên bố bảo lưu các quyền lợi và quyền pháp lý của mình, nhưng không cho biết quyền lợi của mình cụ thể là gì.

Image copyright
Image caption Áp phích của người biểu tình ở Philippines phản đối Trung Quốc trên Biển Đông.

Sự ủng hộ của Việt Nam cho Philippines tuy mạnh mẽ về nguyên tắc nhưng dè dặt về chi tiết. Việt Nam đã thể hiện muốn Tòa phân xử vụ kiện này, và chắc chắn là Việt Nam muốn Tòa bác bỏ đường lưỡi bò Trung Quốc, nhưng có lẽ các nhà hoạch định chính sách Việt Nam vẫn quan ngại rằng phán quyết của Tòa về một số điểm trong hồ sơ của Philippines có thể đi ngược với quyền lợi của Việt Nam.

Dư luận người Việt phần lớn ủng hộ việc Philippines kiện Trung Quốc. Có không ít sự ngưỡng mộ, thậm chí ca ngợi, cho động thái của Philippines, và có cả ý kiến cho rằng Việt Nam nên tham gia vụ kiện hoặc khởi tự khởi kiện Trung Quốc.

Mâu thuẫn quyền lợi

Nhưng có vấn đề quan trọng vẫn ít được phân tích trước công luận. Đó là mặc dù hồ sơ của Philippines có nhiều điểm có lợi cho Việt Nam qua việc bác bỏ yêu sách biển quá lố của Trung Quốc, hồ sơ này cũng có một số điểm có thể mâu thuẫn với quyền lợi của chúng ta (Việt Nam), tùy chúng ta xác định quyền lợi này bao gồm những gì.

Điểm 4 của hồ sơ Philippines cho rằng Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây và Đá Xu Bi là những bãi lúc nổi lúc chìm, do đó không những không có lãnh hải mà còn không nước nào có thể đòi chủ quyền. Điểm 5 cho rằng Đá Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây là thuộc EEZ và thềm lục địa của Philippines.

Câu hỏi người Việt cần trả lời là hai điểm này có mâu thuẫn với quyền lợi của Việt Nam hay không? Việt Nam có đòi quyền lợi gì với Đá Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây không? Nên phản đối hay chấp nhận điểm 4 và 5? Hay là Việt Nam không tự khẳng định, và phó thác cho Philippines, Trung Quốc và Tòa tranh cãi với nhau về hai điểm này?

Hai điểm 4 và 5 còn ảnh hưởng cả đến một số thực thể Việt Nam đang chiếm giữ, thí dụ như Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ.

Mặc dù Philippines không kiện Việt Nam và không đề cập đến những thực thể này, nếu chúng đúng là bãi lúc nổi lúc chìm và nếu Philippines thắng Trung Quốc ở điểm 4 và 5, hệ quả lô gíc sẽ là không nước nào được đòi chủ quyền trên những thực thể này, chúng sẽ thuộc về EEZ của họ, và khi đó nếu họ muốn thì Việt Nam sẽ phải bàn giao lại cho họ. Việt Nam có sẵn sàng chấp nhận hệ quả này không?

Điểm 9 của hồ sơ Philippines khiếu nại rằng Trung Quốc đã, một cách bất hợp pháp, không ngăn chặn công dân của mình khai thác thủy sản trong EEZ của Philippines. Mặc dù Philippines chỉ kiện Trung Quốc, không kiện Việt Nam, nếu Tòa công nhận rằng một khu vực nào đó là EEZ của Philippines, và việc công dân Trung Quốc khai thác hải sản trong khu vực đó là bất hợp pháp, hệ quả lô gíc của phán quyết đó sẽ là việc Việt Nam đơn phương khai thác hải sản trong khu vực đó cũng sẽ là bất hợp pháp.

Image caption Philippines kiên quyết phản đối các tuyên bố của Trung Quốc trên Biển Đông và đồng thời khẳng định chủ quyền của họ ở các vùng biển tranh chấp.

Khu vực này có thể là 200 hải lý tính từ đường cơ sở quần đảo của Philippines, chỉ ngoại trừ lãnh hải 12 hải lý của các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Trong trường hợp đó, ngư dân Việt Nam sẽ không được đánh bắt trong khu vực cách các đảo Trường Sa hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý. Việt Nam có sẵn sàng chấp nhận hệ quả này không?

Tóm lại, nếu Việt Nam chỉ đòi chủ quyền với các đảo (tức là những thực thể cao hơn mức thủy triều cao) và lãnh hải 12 hải lý thì sẽ không có mâu thuẫn gì giữa ba điểm này và quyền lợi của Việt Nam.

Nhưng nếu Việt Nam có đòi những bãi lúc nổi lúc chìm cách các đảo này hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý, thí dụ như Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây, Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ, thì sẽ có mâu thuẫn.

Việc Việt Nam đóng quân ở một số thực thể hữu quan có nghĩa Việt Nam có đòi những thực thể đó, tức là có mâu thuẫn. Nếu ViệtNam đòi quyền tài phán cách đảo hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý thì cũng sẽ có mâu thuẫn.

Tiến thoái lưỡng nan

Ba điểm 4, 5 và 9 đặt Việt Nam vào thế tiến thoái lưỡng nan. Phản đối hay phản biện với Tòa thì sẽ vô hình trung giúp Trung Quốc và có thể gây phương hại cho EEZ và thềm lục địa của mình dọc bờ biển đất liền.

Không phản đối và không phản biện, nếu Tòa công nhận ba điểm này, Việt Nam sẽ khó có cơ sở pháp lý để có yêu sách với một số bãi lúc nổi lúc chìm như Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây, Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ.

Không những thế, Việt Nam sẽ khó có cơ sở pháp lý cho việc khai thác kinh tế trong một phần của khu vực Trường Sa. Phải làm gì để cân bằng một bên là việc chống Trung Quốc và bảo vệ EEZ và thềm lục địa dọc bờ biển đất liền, và bên kia là quyền lợi trong khu vực Trường Sa?

Thực chất, vụ kiện Phi-Trung đã đẩy Việt Nam tới điểm phải giải hai bài toán khắc nghiệt. Bài toán thứ nhất là quyền lợi của Việt Nam ở Trường Sa là gì: Việt Nam đòi chủ quyền với những thực thể nào, quyền tài phán ra cách các thực thể này bao xa? Giải đáp cho bài toán này sẽ cho biết hồ sơ kiện của Philippines có mâu thuẫn với quyền lợi của Việt Nam hay không, nếu có thì mâu thuẫn thế nào?

Nếu bản thân mình chưa biết quyền lợi của mình là gì thì việc yêu cầu Tòa tính đến quyền lợi của mình, tuy là điều vẫn phải làm, nhưng thiếu đi một phần giá trị.

Bài toán kế tới là nếu có mâu thuẫn với quyền lợi của mình thì Việt Nam phải ứng phó thế nào? Nếu Việt Nam phản đối và phản biện hồ sơ của Philippines để bảo vệ quyền lợi của mình thì sẽ vô hình trung giúp Trung Quốc. Đây là hai bài toán khắc nghiệt, nhưng dường như Việt Nam còn chưa giải được bài thứ nhất.

Mục đích của bài viết này không phải là đề nghị Việt Nam nên chấp nhận hay phản đối điểm nào trong hồ sơ kiện của Philippines, đặc biệt là các điểm 4, 5 và 9, cũng không phải là đề nghị Việt Nam nên chọn những gì là quyền lợi của mình.

Mục đích đó là để cho thấy trong khi vụ kiện Phi-Trung buộc Việt Nam phải đối diện với hai bài toán khó liên quan đến quyền lợi đất nước, dường như các cơ quan có chức năng của nhà nước, các chuyên gia và giới trí thức chưa có phân tích đáng kể trước công luận để giúp người dân cũng như các đại biểu của họ suy nghĩ về hai bài toán này.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một thành viên sáng lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, tác giả cảm ơn các ông Phan Văn Song, Hoàng Việt và Lê Trung Tĩnh đã góp ý cho bài viết.

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/11/151127_duongdanhhuy_baitoankho

Thông báo tuyển thành viên và cộng tác viên rành tiếng Trung

Email In PDF.

Kính gửi quý vị và các bạn quan tâm tới Biển Đông,

Gần đây Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án "Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam", xem thêm ở địa chỉ sau:

http://www.seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-vietnam/270-th-tng-tng-thong-tin-bo-v-ch-quyn-bin-o
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201003/Thu-tuong-Tang-thong-tin-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-900537/

Ngoài việc thông tin cho nhân dân trong nước về tình hình biển đảo và quá trình tranh chấp trên Biển Đông thì một nhiệm vụ quan trọng là chúng ta cần phải cho độc giả người Trung Quốc, đặc biệt các độc giả là các học giả Trung Quốc có lương tâm, biết thông tin chính xác về lịch sử, quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như các đảo, quần đảo, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên Biển Đông phù hợp với UNCLOS (Công ước của Liên hợp quốc về luật biển) 82. Chúng ta cũng cần thông tin về việc Trung Quốc thi hành việc tuần ngư trái phép, thăm dò tài nguyên trái phép, thao diễn quân sự trái phép cũng như những việc xâm phạm chủ quyền (bắn và bắt tầu thuyền ngư dân) trên các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam làm ảnh hưởng lớn đến ngư dân Việt Nam cũng như ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Việt Nam.

Nhằm thực hiện việc cung cấp thông tin chính xác đa chiều cho độc giả người Trung Quốc, Quỹ rất cần sự ủng hộ và tham gia của những người hiểu biết tiếng Trung. Do vậy Quỹ gửi thông tin này nhằm tuyển chọn thành viên và cộng tác viên am hiểu tiếng Trung giúp một số việc sau trên tinh thần tình nguyện:

1. Dịch tư liệu/tài liệu tiếng Việt sang tiếng Trung để đăng trên trang web tiếng Trung http://zh.seasfoundation.org/ của Quỹ

2. Dịch tài liệu tiếng Trung sang tiếng Việt nhằm những người nghiên cứu Việt Nam hiểu được luận điểm của Trung Quốc

3. Tham gia các diễn đàn tiếng Trung để chuyển tải thông tin chính xác của phía Việt Nam cho độc giả Trung Quốc

4. Nghiên cứu và viết bài báo phản bác luận điểm của Trung Quốc.

Những ai đọc được thông tin này có khả năng tiếng Trung và quan tâm tới Biển Đông hoặc nếu biết bạn bè người thân có khả năng tiếng Trung xin liên hệ gửi kèm CV và giấy chứng nhận hoặc bằng chứng kỹ năng tiếng Trung tới Ban điều hành Quỹ theo địa chỉ sau:

Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Hoặc trực tiếp tới Ban quản lý trang tiếng Trung:

Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Trân trọng

Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông - Vì Công Bằng Và Hòa Bình Trên Biển Đông
東南亞海洋研究基金會 -為東南亞海中的公平與和平
URL: http://www.seasfoundation.org/

Cập nhật ngày Thứ ba, 06 Tháng 4 2010 21:08

Từ bỏ một phần Trường Sa là 'sai lầm'

Email In PDF.

Tàu chiến Mỹ trên Biển ĐôngImage copyrightUS Navy
Image captionHoa Kỳ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp trên Biển Đông, nhưng tuyên bố cần bảo đảm quyền tự do hàng hải quốc tế ở khu vực.

Trong bài “Việt Nam cần xét lại chiến lược Biển Đông”, Tiến sỹ Vũ Quang Việt và Phó Giáo sư Jonathan London hoàn toàn đúng khi cho rằng tương lai Việt Nam đang nằm trên bàn cân và Viêt Nam cần xét lại chiến lược của mình.

Trong bản tiếng Anh trên CogitASIA, hai tác giả cho rằng Việt Nam nên xem xét từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các đảo đá (rock) bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước khác, (không rõ vì sao bản tiếng Việt trên BBC lại thiếu quan điểm này).

Đáng tiếc là khuyến nghị từ bỏ tuyên bố chủ quyền trong bản tiếng Anh không có cơ sở pháp lý cũng như có nhiều thiếu sót trong phân tích chiến lược, do đó có khả năng làm cho tương lai biển đảo của Việt Nam rớt từ bàn cân xuống vực thẳm.

Thiếu cơ sở pháp lý là vì theo luật quốc tế, một nước, ở đây là Việt Nam, có thể có chủ quyền đối với đảo đá trong EEZ của nước khác, thí dụ như EEZ của Philippines và Malaysia.

Thật ra, việc đòi chủ quyền với các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa với lý do chúng nằm trong EEZ của mình, như Malaysia làm, mới chính là sai trái với luật quốc tế.

Khuyến nghị trong bài viết có nghĩa Việt Nam từ bỏ yêu sách có cơ sở pháp lý của mình và chấp nhận yêu sách không có cơ sở pháp lý của nước khác.

Thiếu sót chiến lược?

Hơn nữa, trong UNCLOS đảo đá được định nghĩa là những thực thể tự nhiên cao hơn mức thủy triều cao nhưng không duy trì được sự cư ngụ của con người hay đời sống kinh tế riêng.

Biểu tình về Biển đảo ở PhilippinesImage copyrightAP
Image captionNgười biểu tình Philippines với các biểu ngữ khẳng định chủ quyền và phản đối hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trước Tòa Lãnh sự TQ ở Philippines.

Giả sử Tòa Trọng Tài phân xử vụ kiện Trung-Philippines kết luận rằng Thị Tứ, Bến Lạc, Nam Yết, An Bang, Sinh Tồn, Song Tử và các thực thể khác đều là đảo đá, hoặc giả sử Việt Nam cho chúng là đảo đá, không có vùng đặc quyền kinh tế thì,theo bài viết, Việt Nam cũng nên xét về từ bỏ tuyên bố chủ quyền với các thực thể này.

Không nước nào có thể từ bỏ tuyên bố chủ quyền hàng loạt và không căn cứ trên cơ sở pháp lý như thế.

Xét trên phương diện chiến lược, khuyến nghị đó cũng có nhiều thiếu sót.

Thứ nhất, giả sử như việc làm giảm bớt các tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia là thật sự cần thiết cho sự hợp tác, đáng lẽ cả ba bên đều phải giảm bớt yêu sách chủ quyền, thay vì Việt Nam phải trả giá cho cả ba bằng việc đơn phương từ bỏ tuyên bố của mình trên hàng loạt thực thể địa lý.

Thứ nhì, giả sử như Việt Nam từ bỏ tuyên bố chủ quyền theo khuyến nghị đó, nhưng 10 năm sau Philippines hay Malaysia có chính sách thân Trung Quốc, không đoàn kết chống yêu sách quá lố của Trung Quốc nữa thì sao? Lúc đó khiếu nại với ai?

Rõ ràng “từ bỏ tuyên bố chủ quyền để tăng cường hợp tác” là một canh bạc có nhiều rủi ro trong đó Việt Nam có thể mất cả “lời” (nếu có) lẫn vốn.

Thứ ba, dù Việt Nam có trả giá bằng việc từ bỏ tuyên bố chủ quyền trên hàng loạt thực thể địa lý, sẽ vẫn còn tranh chấp giữa Philippines và Malaysia. Nếu tranh chấp chủ quyền là điều cản trở sự đoàn kết thì sự cản trở đó sẽ vẫn tồn tại, Việt Nam có trả giá cho cả ba cũng không giải quyết được vấn đề.

Thứ tư, bài viết đã bỏ qua một điều then chốt trên thực tế, đó là mặc dù có tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Philippines, cũng như giữa Việt Nam và Malaysia, Brunei, tranh chấp đó không dẫn đến sự căng thẳng giữa Việt Nam và các nước này, mà cũng không không cản trở sự hợp tác giữa Việt Nam và họ.

Ngược lại, Việt Nam và các nước này đã và đang hợp tác trong việc đoàn kết chống Trung Quốc.

Ba ví dụ

Như một thí dụ, năm 2009 Việt Nam và Malaysia nộp một báo cáo chung về ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa. Đó là một sự hợp tác quan trọng trong việc áp dụng UNCLOS cho Biển Đông.

altImage copyrightAFP
Image captionPhilippines cắm cờ trên bãi cạn Scarborough trên Biển Đông.

Tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đã không cản trở sự hợp tác này.

Thí dụ thứ nhì là khi Việt Nam ban hành Luật Biển 2012, trong đó có ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam thì Philippines và Malaysia không phản đối. Khi Trung Quốc trả đũa Việt Nam bằng cách thiết lập Tam Sa thì Philippines phản đối Trung Quốc, bao gồm tuyên bố rằng Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.

Tuyên bố của Philippines về Hoàng Sa là một sự ủng hộ cho Việt Nam.

Thí dụ thứ ba là Việt Nam là nước ủng hộ Philippines nhiều nhất trong vụ kiện Trung Quốc, qua việc gửi công hàm tới Tòa khẳng định không có ngờ vực gì là Tòa có thẩm quyền để phân xử, và khẳng định rằng trong 7 thực thể Philippines nêu ra trong hồ sơ kiện, không thực thể nào được hưởng quy chế EEZ.

Từ khi Philippines bắt đầu hiểu về hiểm họa từ Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đã không cản trở sự hợp tác Việt-Phi - những sự đụng độ duy nhất giữa lực lượng vũ trang hai nước là trên sân thể thao, sự căng thẳng duy nhất là của dây thừng kéo co.

Vì tuyên bố chủ quyền của Việt Nam không gây ra căng thẳng với Philippines và Malaysia, cũng như không cản trở hợp tác giữa Việt Nam và hai nước này, việc Việt Việt Nam từ bỏ một phần chủ quyền sẽ không đem lại lợi ích gì đáng kể mà lại là một cái giá rất đắt cho Việt Nam.

Nếu tự loại mình?

Thứ năm, nếu Việt Nam tự loại mình ra khỏi tranh chấp chủ quyền trên các thực thể địa lý này thì sẽ chỉ còn lại Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Brunei trong tranh chấp đó.

Trong số các nước còn lại, dù bỏ qua các bằng chứng thêu dệt của Trung Quốc, nước này vẫn là nước tuyên bố chủ quyền với Trường Sa trước nhất, từ sau Thế Chiến II, do đó sẽ đánh bại các nước kia một cách dễ dàng trong tranh biện pháp lý.

Đánh bại được các nước kia trong tranh biện pháp lý, tất nhiên Trung Quốc sẽ hung hăng thêm, và tình hình ở Biển Đông sẽ đen tối thêm.

Trên thực tế, nếu Việt Nam từ bỏ tuyên bố chủ quyền như trong khuyến nghị thì đó sẽ là một món quà cho Trung Quốc và sẽ tai hại không chỉ cho Việt Nam mà còn cho toàn khu vực. Đó là một phản tác dụng nguy hiểm.

Khi đưa ra khuyến nghị Việt Nam từ bỏ một phần tuyên bố chủ quyền, các tác giả cũng có thiếu sót về phương pháp.

Biển ĐôngImage copyrightReuters
Image captionCác hoạt động của Trung Quốc tại một khu vực ở Trường Sa qua quan sát của Hải quân Mỹ.

Theo phương pháp khoa học, điều trước tiên họ phải làm là phân tích để xác định có gì đang gây ra căng thẳng giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia hay không, và nếu có thì điều đó có phải là tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay không.

Kế đến họ phải phân tích xem những yếu tố nào đang cản trở sự hợp tác giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia, và trong các yếu tố đó thì yếu tố nào góp phần bao nhiêu, cụ thể là tuyên bố chủ quyền của Việt Nam góp phần bao nhiêu.

Thiếu khoa học?

Trong khi chưa tiến hành phân tích nhằm chứng minh tuyên bố chủ quyền của Việt Nam góp phần đáng kể gây ra căng thẳng và là cản trở đáng kể cho sự hợp tác, mà lại khuyến nghị Việt Nam bỏ bớt tuyên bố chủ quyền, thì đó là cách tiếp cận thiếu khoa học.

Nếu khuyến nghị Việt Nam bỏ bớt tuyên bố chủ quyền, đáng lẽ các tác giả phải phân tích xem các tác dụng và phản tác dụng của việc đó là gì.

Việc họ hoàn toàn không có phân tích này cũng là cách tiếp cận thiếu khoa học.

Dĩ nhiên là Việt Nam, Philippines và Malaysia cần tăng cường hợp tác để chống yêu sách quá lố của Trung Quốc, nhưng thực tế các hoạt động hợp tác Việt Nam-Malaysia và Việt Nam-Philippines cho thấy các nước này có thể hợp tác mà không bên nào phải từ bỏ phần nào yêu sách chủ quyền của mình.

Thêm vào đó, cũng không có chứng cớ để cho rằng Việt Nam cần từ bỏ bớt tuyên bố chủ quyền để có những sự hợp tác khác mà các tác giả đề nghị.

Bài viết thể hiện của quan điểm riêng của nhóm tác giả, thành viên của nhóm Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - chuyên theo dõi các vấn đề pháp lý, lịch sử, chủ quyền và tranh tụng biển, đảo ở khu vực này.

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/11/151106_vn_chuquyen_biendong

Bản đồ YALE TẬP BẢN ĐỒ HÀNG HẢI 1841 Ở ĐẠI HỌC YALE VÀ CÁCH CHÚ GIẢI BÁ ĐẠO CỦA HỌC GIỚI TRUNG QUỐC

Email In PDF.

 

                                                                                                                                       Phạm Hoàng Quân

 

Do hoàn cảnh lịch sử, nhiều địa đồ quốc gia, địa đồ khu vực hoặc bản đồ hàng hải do người Trung Hoa xưa soạn vẽ lưu lạc nhiều nơi, phần lớn chúng được cất giữ ở thư viện các nước phương Tây và Nhật, trong số đó, những bản đồ hàng hải thường được học giới quốc tế lưu tâm nghiên cứu. 

Tháng 9 năm  2011, Bodleian Library thuộc hệ thống Thư viện Đại học Oxford công bố bản kỹ thuật số “The Selden map of China”, đây là bản đồ hàng hải Trung Hoa thời Minh do John Selden (1584- 1654) sưu tập1Sau khi công bố, nhiều công trình nghiên cứu về bản đồ này lần lượt xuất hiện, như bài nghiên cứu “The Selden Map Rediscovered: A Chinese Map of East Asian Shipping Routes” của Robert Batchelor (The International Journal for the History of Cartography, 2013), dày dặn hơn là sách Mr. Selden’s Map of China của Timothy Brook xuất bản 2014, và cuốn Bản đồ hàng hải Đông Tây dương và Trung Quốc thời Minh (The Selden Map of China- A New Understanding of the Ming Dynasty) của Nhiếp Hồng Bình/Hongbing Annie Nie (bản tiếng Trung và bản tiếng Anh đều do Bodleian Libraries University of Oxford xuất bản 2014).

Tập bản đồ hàng hải 1841 ở Đại học YALE 

   Gần đây, được biết một tập bản đồ hàng hải thời Thanh được cất giữ ở Phòng lưu niệm Sterling thuộc hệ thống Thư viện Đại học Yale (Yale University Sterling Memorial Library) cũng được học giới quan tâm không kém “The Seiden map of China”Nội dung bằng Anh ngữ trên biểu ghi kèm theo tập bản đồ cho biết, chỉ huy chiến hạm H.M.S. Herald (thuộc Hải quân Hoàng gia Anh) lấy được tập bản đồ này từ các thủy thủ trên một tàu buôn Trung Hoa vào năm 1841. Đây là tập bản đồ vẽ tay,  không ghi tiêu đề, không ghi tên tác giả. Học giả Đài Loan Lý Hoằng Kỳ (弘祺khi lưu giảng ở Mỹ đã thấy nó vào năm 1974.

   Tập bản đồ này tuy chưa lưu hành bản kỹ thuật số nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã được chụp ảnh toàn bộ. Năm 1997, Lý Hoằng Kỳ viết bài giới thiệu, 1 đăng trên “Lịch sử nguyệt san” (Đài Bắc) và 1 đăng trên tạp chí “Trung Quốc sử nghiên cứu động thái” (Bắc Kinh)đều gọi nó là “Trung Quốc cổ hàng hải đồ”; năm 2008, Trần Quốc Đống (國棟) trong bài viết đăng trên tuần báo “Trung ương nghiên cứu viện chu báo” (Đài Bắc) gọi nó là “Đông Á hải ngạn sơn hình thủy thế đồ” (Bản đồ mặt nước, hình trạng núi/đảo ven biển Đông Á); một số học giả khác thì gọi bằng các tên như “Thập cửu thế kỷ Trung Quốc hàng hải đồ” (Bản đồ hàng hải Trung Quốc thế kỷ XIX), “Thanh đại Đường thuyền hàng hải đồ” (Bản đồ hàng hải thuyền buồm Trung Hoa thời Thanh), “Da Lỗ tàng Thanh đại hàng hải đồ” (Bản đồ hàng hải thời Thanh ở Yale), “Trung Quốc Bắc Trực L chí Tân Gia Ba hải hiệp hàng hải châm lộ đồ” (Bản đồ chỉ dẫn hàng hải từ Bắc Trực Lệ Trung Quốc đến eo biển Singapore), “Thanh đại Đông Nam dương hàng hải đồ” (Bản đồ hàng hải Đông dương và Nam dương thời Thanh)Trong các bài nghiên cứu của những học giả phương Tây về tập bản đồ này hoặc nhắc đến tập bản đồ này, nó được gọi chung là “Yale Navigational Map 1841”. Tại hội thảo khoa học  Đại học Giao Thông Đài Bắc (6/6/2010), trong tham luận của mình, Giáo sư Stephen Davies- Giám đốc Bảo tàng Sự kiện biển Hồng Kông - gọi nó là “The Yale Maps”, còn Giáo sư Geoff Wade –Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, NUS - thì gọi nó là “Yale University Chinese Navigational Map Book”. Các tên gọi nêu trên đều là những từ khóa để độc giả nào lưu tâm có thể tra cứu tìm hiểu thêm. 

“Yale Navigational Map 1841” là tập bản đồ gồm 123 trang, trong đó 122 trang hình vẽ tiêu danh bằng chữ Hán, một trang biểu ghi của thư viện về xuất xứ tập bản đồ bằng Anh ngữ. Không gian diễn tả giới hạn trong phạm vi vùng biển Đông Á và biển Đông Nam Á. Người vẽ bản đồ lấy cảng Nam Áo (giáp giới Quảng Đông-Phúc Kiến) làm chuẩn, mô tả nhiều tuyến đường, có thể phân hai hướng, phía bắc xa nhất đến Lữ Thuận, bờ nam bán đảo Triều Tiên, Tsushima và Goto Retto (Nhật), phía nam xa nhất đến một số cảng trong vịnh Thái LanTrên từng trang, ngoài các địa danh còn có nội dung ghi chú về khoảng cách, phương hướng giữa hai địa điểm, độ sâu hải đạo, bãi cát ven bờ, bãi ngầm, các vật thể kiến trúc nhìn thấy được, hình dạng và màu sắc các vật thể tự nhiên .v.v.  

   

Chú giải sai lầm đặc biệt nghiêm trọng

Chú giải sai lầm đặc biệt nghiêm trọng thấy trong bài viết 津藏 明代東西洋航海圖 姐眛作 - 耶魯藏 清代東西洋航海圖推介Ngưu Tân tàng Minh đại Đông Tây dương hàng hải đồ t muội tác - Da Lỗ tàng Thanh đại Đông Tây dương hàng hải đồ thôi giới (Giới thiệu “Bản đồ hàng hải Đông Tây dương thời Thanh ở Yale – Tác phẩm chị em với “Bản đồ hàng hải Đông Tây dương thời Minh” ở Oxford) 2 của hai tác giả Qian Jiang (江/Tiền Giang) và Chen Jiarong (佳榮/Trần Giai Vinh) đăng trên tập san “交史研究/Hải giao sử nghiên cứu” (Nghiên cứu lịch sử giao thông trên biển) số 2, tháng 10 năm 2013(trang 1-101)3. Cả hai tác giả đều đang giảng dạy tại Đại học Hồng Kông,  đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực lịch sử giao thông hàng hải, và đây là bài nghiên cứu công phu, giới thiệu tổng quan về lai lịch tập bản đồ và chú giải hầu hết các địa danh ghi trên từng trang.  

  Tuy nhiên, trong các chú giải những địa danh thuộc phạm vi biển Đông Việt Nam.Qian và Chen đã không tuân theo sự biểu thị của bản đồ gốc, và mặt khác, cũng không theo nguyên tắc nghiên cứu hải đồ cổ. Hai tác giả này cứ một mực quy đổi địa danh Vạn Lý Trường Sa và Thạch Đường thành “một dãy Tây Sa và Nam Savới ý cho rằng nó thuộc Trung Quốc, trong khi người vẽ hải đồ xưa đã xếp quần thể Vạn Lý Trường Sa như một vành đai bên cạnh/phía đông các nhóm đảo Tiêm Bút La (Cù Lao Chàm), và Trường Sa vĩ - Thạch Đường đầu (đuôi Trường Sa- đầu Thạch Đường) bên cạnh/phía đông Ngoại La (Lý Sơn), trong tập bản đồ, trang 15, 16, 17 thể hiện rất rõ điều này. Cho dù đây là dạng bản đồ tiếp hợp, trên từng trang, các thực thể địa lý nhiều nơi tuy được vẽ tách rời khỏi bờ lục địa, nhưng không khó để nhận định sự liên đới địa lý giữa các nhóm đảo ven bờ và các quần đảo ngoài khơi vùng biển Đông Việt Nam. 

  Bản đồ gốc, các trang 15, 16, 17: 

Tr.15Tiêm Bút La, Ngoại La

 

Tr.16, Ngoại La 

 

Tr.17, Tiêm Bút La, Thanh Dữ, Thảo Dữ

 

  Sai lầm đặc biệt nghiêm trọng là ở phần chú giải về địa danh Thổ Chu, đảo tiền tiêu thuộc vùng biển Tây Nam Việt Nam. Trong bài viết của Qian và Chen, phần chính văn, mục II-2, viết: “… Đại Hoành (hoặc chỉ Giản Phố Trại đích Thổ Châu đảo, tức Poulo Panjang; nhất thuyết vi Thái quốc đích Ko Kut…” (Đại Hoành, chỉ đảo Thổ Châu của Campuchia, tức Poulo Panjang; có thuyết cho là Đại Hoànhtức đảo Ko Kut của Thái Lan…).    

Đoạn văn trong bài viết của Qian và Chen, chính văn, II-2:

占城大山(在越南南岸的Phan Rang 一帶)─赤坎山(在越南南岸Ke Ga角附近,一說在Phan Thiet一帶)─覆鼎(在越南東南部的Cap Saint Jacques 附近)─鶴頂(或專指覆鼎三山之一的Nui Vung Tau)─大崑崙(越南東南岸外的Condore)─(又作真慈、真糍﹑真薯﹑真嶼﹑大真嶼﹐指中南半島南岸外的Obi島,或稱快島﹑薯島)─(又作假慈、假糍﹑假薯﹑假嶼﹑小真嶼﹐指中南半島南岸外的假奧比即Fausse Obi 島,或稱最島)─大橫(或指柬埔寨的土珠島,即Poulo Panjang;一為泰國的Ko Kut [13])─小橫(或指柬埔寨的Wai島;一為泰國三個小島:Ko RangKo KradatKo Hmak [14])─筆架山(Bangkok 內,或即Khram 島;一說指Kao

  

Bản đồ gốc, tr.73:

Tr.73, đảo Đại Hoành (tên đảo được ghi nhận trong các sách hàng hải Trung Hoa, một số nhà chú giải phỏng định Đại Hoành ứng với đảo Thổ Chu)

 

 

  Ở đây, Qian và Chen đã không nghiên cứu hải đồ cổ một cách đàng hoàng, không nhìn đối tượng theo tiêu chí hàng hải hay diễn biến địa danh mà lại để ý đồ chính trị xen vào. 

  Địa danh Đại Hoành đúng ra chỉ nên chú giải rằng: “các sách ghi chép hàng hải của người Trung Hoa xưa chuyển ý từ tên Mã Lai là Panjang (có nghĩa dài, cao, xa) thành tên chữ Hán là Đại Hoành (đảo lớn nằm ngang)”. 

   Nói người Trung Hoa coppy tên gọi của người Mã Lai hoàn toàn không sai, bởi vì nhiều ghi chép và bản đồ hàng hải phương Tây đã ghi nhận các tên gọi Panian, Paniang, Pinjang, Panjang từ rất sớm, các tên này đều chung gốc từ “panjang”. Ghi chép sớm thấy trong Memorable description of the East Indian Voyage 1618-1625(Ghi chép về tuyến đường biển Đông Ấn Độ năm 1618-1625) của nhà hàng hải Hà Lan Willem Ysbrantsz Bontekoe, trong ghi chép này, Thổ Chu được viết là “the island of Polepaniang”, Polepaniang do nhập chữ Pole (Poulo/cù lao) liền với Paniang, nên hơi khó nhận dạngBản đồ sớm có thể thấy là “Southeast Asia 1675” của John Seller, hoặc Map of Siam 1686 (ghi Thổ Chu là Panian), hoặc bản đồ “Siam 1687” của Vincenzo Coronelli và Jean Baptiste Nollin (ghi Thổ Chu là Panjang), và đến năm 1897 thì The Times Atlas trong bức “Siam and the Malay Archipelago” đã không ghi hòn đảo này là Panjang như nhiều bản đồ trước, mà đã phiên âm tên đảo này theo cách gọi của người Việt là “To Chou”

    Trong quá trình lịch sử, nhiều đảo và quần đảo trong khu vực vịnh Thái Lan có tên gọi bằng tiếng Mã Lai trước khi mang tên bằng ngôn ngữ của quốc gia chủ quản, người nghiên cứu hải đồ cổ phải biết điều đó. Và chỉ nên dừng ở chừng mực chuyển đổi địa danh theo từng thời hoặc đối chiếu cách gọi địa danh của nhiều ngôn ngữ với mục đích nhận biết một thực thể địa lý. Qian và Chen đã làm việc quá phận và ngoài mục đích học thuật khi kéo dài chú giải cho rằng đảo ất đảo giáp thuộc nước này nước nọ.

    Qian và Chen là hai học giả có ảnh hưởng khá lớn trong cộng đồng nghiên cứu lịch sử địa lý Đông Nam Á, công trình được trích dẫn nhiều. Những sai lầm nghiêm trọng trước đây do suy diễn sự diễn biến địa danh không thích hợp đối với các quần đảo trên biển Đông đã gây ảnh hưởng và hiểu lầm không nhỏ. Lần này, cho dù là vô tình hay cố ý, việc chú giải sai về sự quy chiếu lãnh thổ của đảo Thổ Chu là hành vi kích động đặc biệt nghiêm trọng, vừa gây rối loạn học thuật vừa làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia khác và tình cảm dân tộc khác.

   Hai vị Qian và Chen cần phải tiếp thu đối thoại này và nên có lời cải chính trên tập san mà các vị công bố bài viết, như tinh thần cầu thị nghiêm túc mà các vị đã nêu ở lời dẫn. 

 

Chú thích

1/ Xem bài giới thiệu tóm tắt về “The Selden map of China” trên BBC (24/10/2012), và bài phân tích chi tiết trên tạp chí “Nghiên cứu và phát triển”, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên- Huế, số 8-9, 2012, của cùng tác giả (Phạm Hoàng Quân)

2tên tiếng Anh của bài viết: “A Discussion on the Qing Navigational Map Book Kept at Yale University”, Qian Jiang & Chen Jiarong.

3/ Tạp chí cấp quốc gia, của Hội nghiên cứu lịch sử giao thông Trung Quốc-Hải ngoại phối hợp với Bảo tàng lịch sử giao thông hải ngoại Tuyền Châu, trụ sở tại Thành phố Tuyền Châu (Phúc Kiến), số đầu ra năm 1978, từ 1985 ra một năm 2 kỳ]

 

Bản đồ YALEbản đồ gốc minh họa bài viết

bản đồ gốc, trang 15

Các địa danh trên bản đồ (trên xuốngphải qua)

Tiêm Bút La (tức  Lao Chàm), 

Tiêm Bút La (với ghi chúhình thể nhìn từ xa), Thảo Dữ

Ngoại La (đảo  Sơn), Da Tử Đường (đảo Cây Dừa)

Trường Sa  (đuôi Trường Sa) Thạch Đường đầu (đầu Thạch Đường)Thạch Đường đầu ứngvới vị trí các đảo phía bắc quần đảo Trường Sa.

 

bản đồ gốc, trang 16

Các địa danh trên bản đồ (trên xuốngphải qua)

Ngoại Lađông caotây đê (phía đông caophía tây thấp)

Ngoại La

Ngoại La, (hàng chữ dướithuyền tại Thảo Dữ ngoại khaiđối đông nam khán thị thử hình(thuyền từ Thảo Dữ ra ngoàihình dạng Ngoại La nhìn từ hướng đông nam

(4 vật thể không ghi tên phía dưới  những đảo nối liền dãy Vạn  Trường Saứng với vị tríquần đảo Hoàng Sa)

  

bản đồ gốc, trang 17

Các địa danh trên bản đồ (trên xuốngphải qua)

Tiêm Bút La (tức  Lao Chàm)

Thanh Dữ

Thảo Dữ

(đôngTiêm Bút La (tây)

Vạn  Trường Sa (tức ứng với vị trí quần đảo Hoàng Sa)

 

bản đồ gốc, trang 73

Các địa danh trên bản đồ (trên xuốngphải qua)

Đại Hoànhđông đêtây cao (phía đông thấpphía tây cao)

Đại Hoànhđông đêtây cao

Tiểu Hoành.

 

[những chú giải  nội dung khá dài trên 4 trang bản đồ này sẽ công bố theo bài nghiên cứu mởrộng  bản dịch tiếng Việt  những phần liên quan đến biển Đông Việt Nam]

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL