оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно
You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế

Email In PDF.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước của lãnh đạo Trung Quốc đến Mỹ vào cuối tháng 9 năm 2015, tại cuộc họp báo chung với Barack Obama ở khuôn viên Toà Nhà trắng, Tập Cận Bình tuyên bố các đảo (thuộc hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Quốc từ ngàn xưa. Sau khi khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục những hoạt động trên Biển Đông, như luật pháp quốc tế cho phép, Tổng thống Obama khuyến khích các bên tranh chấp tìm kiếm giải pháp.[1]

 

Bài sau đây, trong loạt bài nghiên cứu Biển Đông của người viết, trước hết, xem xét một số vấn đề liên quan tới chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế, kế đến, bàn về yếu tố ảnh hưởng quá trình hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Pháp trong nửa đầu thế kỷ XX, và phương án khả thi cho tranh chấp biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc.[2]

 

1. Đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, và chủ quyền quốc gia

 

Đảo Phú Lâm, thuộc nhóm đảo An Vĩnh, nằm ở phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa, có tên quốc tế là Woody Island. Nó còn được biết với tên Ile Boisée dưới thời Pháp thuộc. Bộ đại từ điển do nhà địa dư học Hà Lan Jacobus Van Wijk Roelandszoon biên soạn, xuất bản năm 1821, là tư liệu phương Tây ghi rõ đảo Phú Lâm là của Việt Nam.[3] 

 

Khoảng đầu thập niên 1920, chính quyền Pháp ở Đông Dương thường xuyên cho tàu tuần hành khu vực Hoàng Sa, từng khám xét tàu Nhật chuyên chở phốt phát, khai thác từ đảo Phú Lâm. Tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Từ giữa đến cuối thập niên 1920, nhiều đoàn khảo sát người Pháp thực hiện nghiên cứu khoa học ở Hoàng Sa-Trường Sa, bao gồm đảo Phú Lâm.

 

Tháng 9 năm 1930, chính quyền Pháp chính thức thông báo chủ quyền Trường Sa đến các siêu cường. Tháng 2 năm 1932: Bộ Ngoại giao Pháp yêu cầu Bộ Quốc phòng Pháp chiếm hữu đảo ở Trường Sa. Tháng 3 năm 1932: Bộ Quốc phòng thông báo cho Bộ Ngoại giao kế hoạch chiếm hữu đảo tại khu vực không nguy hiểm, có thể tạm thời trú đóng. Do tình hình thời tiết, kế hoạch không xảy ra trước tháng 4 năm 1933, Kế hoạch bao gồm cả bản thảo cho tuyên bố sử dụng khi chiếm hữu đảo. Monique Chemillier-Gendreau, chuyên gia Pháp về luật pháp quốc tế, nhận định thông báo này có mục đích chính thức chiếm hữu toàn bộ quần đảo Trường Sa.[4]

 

Tháng 4 năm 1933: Bộ Quốc phòng hoàn thành kế hoạch chiếm hữu 6 đảo ở Trường Sa. Tháng 7 năm 1933: Sự chính thức chiếm hữu đăng trên Công báo (Journal officiel) Pháp. Anh công nhận chủ quyền của Pháp dù tàu Anh đã đến Trường Sa năm 1877. Tháng 8 năm 1940: Bộ Ngoại giao nêu lên sự thông báo chủ quyền Trường Sa đến các nước, sự chính thức chiếm hữu ở Trường Sa đăng trên Công báo, sự sáp nhập Trường Sa vào đơn vị hành chính ở Trung phần Việt Nam, sự công nhận của Anh, và cho biết Nhật là nước duy nhất phản đối hành xử chủ quyền của Pháp.[5]

 

Trong những năm đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp tiếp tục quản lý đảo Phú Lâm nói riêng và Hoàng Sa nói chung, cho đến khi bị quân đội Nhật ngăn chặn vào tháng 3 năm 1945. Pháp không có quân trú đóng ở Trường Sa nhưng khi hải quân Nhật gia tăng hoạt động tại Trường Sa, Pháp phản đối. Một lần nữa, Anh công nhận chủ quyền của Pháp. Để đánh dấu sự hiện diện, chính quyền Pháp đưa lực lượng dân vệ người Việt đến Trường Sa, trú đóng cạnh dân vệ của Nhật.[6]

 

Hội nghị quốc tế ở Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945 quyết định Nhật phải hoàn trả các vùng đất của Trung Hoa, bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh, cụ thể là Formosa, Pescadores, Manchuria. Dù tham dự cả hai hội nghị, Tưởng Giới Thạch không đòi chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Cuối năm 1946, quân đội Tưởng Giới Thạch bất ngờ đổ bộ lên Hoàng Sa-Trường Sa. Khi phát hiện sự hiện diện của quân Tưởng ở đảo Phú Lâm, Pháp phản đối. Chính quyền Tưởng bác bỏ đề nghị của Pháp đưa tranh chấp ra quốc tế giải quyết. Đầu năm 1950, sau khi nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa (CHNDTH) thành lập, quân Tưởng rút khỏi đảo Phú Lâm. Trong khi quân đội Pháp ở Đông Dương duy trì sự hiện diện ở đảo Hoàng Sa (tên quốc tế là Pattle Island), Pháp không gửi quân đến đảo Phú Lâm.[7]

 

Tháng 10 năm 1950, lễ bàn giao quyền kiểm soát Hoàng Sa giữa Pháp và Việt Nam xảy ra. Tổng trấn Trung phần Việt Nam Phan Văn Giáo chủ trì lễ bàn giao. Không có lễ bàn giao quyền kiểm soát Trường Sa giữa Pháp và Việt Nam vì không có chứng cứ quân đội Pháp hiện diện ở Trường Sa vào thời điểm đấy.[8]

 

Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa ở nửa đầu thế kỷ XX:

 

1.1  Nhật Bản:

Là cường quốc châu Á, Nhật theo đuổi chủ trương bành trướng từ thập niên 1890, gây chiến tranh với Trung Hoa năm 1894, với Nga năm 1905, chiếm đóng Formosa, Pescadores, đảo Sakhalin. Trong thập niên 1920, phe quân sự Nhật, có tinh thần cực đoan, thắng thế. Nhật dùng vũ lực chiếm đóng Manchuria năm 1931, xâm lược miền Đông Trung Hoa năm 1937-1938, tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai cuối năm 1940. Nhật tuyên bố đầu hàng khối đồng minh tháng 8 năm 1945 sau khi bị Mỹ ném hai quả bom nguyên tử.[9]

 

1.2  Chiến tranh Đông Dương:

Vào đầu thập niên 1950, cuộc chiến tranh chống Pháp ở Việt Nam đi vào thời kỳ mới. Pháp cần Mỹ giúp đỡ sau khi có sự thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu, sự gia tăng nguồn viện trợ từ khối cộng sản, sự lớn mạnh trong phong trào chống chiến tranh Đông Dương ở Pháp, sự thất bại quân sự của Pháp trong Chiến dịch Biên giới, v.v. Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Mỹ gửi 23,3 triệu dollars viện trợ cho Pháp. Đến năm 1954, Mỹ hỗ trợ khoảng 75% ngân sách chiến tranh Đông Dương của Pháp.[10]

 

Từ đầu thập niên 1920, đối diện với tham vọng bành trướng của Nhật ở châu Á, Pháp hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa để ngăn chặn bước tiến của Nhật. Từ cuối thập niên 1940 đến giữa thập niên 1950, do mối đe dọa của Nhật không còn, do mức độ khốc liệt trong chiến tranh Đông Dương gia tăng, do thiếu hụt ngân sách, Pháp giảm thiểu quan tâm về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa.

 

Tháng 9 năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam (QGVN) Trần Văn Hữu tuyên bố Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Việt Nam. Các nước tham dự hội nghị không phản đối tuyên bố của Việt Nam. QGVN, cùng 47 nước khác, bao gồm Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, v.v. ký Hiệp ước Hoà bình. Theo Hiệp ước, Nhật từ bỏ mọi quyền và yêu sách chủ quyền của Nhật ở Hoàng Sa-Trường Sa.[11]

 

Tháng 7 năm 1954, Hội nghị Geneva kết thúc, chính thức công nhận nền độc lập của Việt Nam. Việt Nam chia đôi. QGVN (sau là Việt Nam Cộng hoà) được quyền quản lý Hoàng Sa-Trường Sa. Nỗ lực củng cố quyền hành của chính quyền Ngô Đình Diệm và mở rộng vai trò của Mỹ đưa đến áp lực khiến quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam cuối tháng 4 năm 1956, trước thời hạn quy định trong Hiệp ước Geneva.[12]

 

Dù Mỹ cho Pháp biết quan tâm của họ về vị thế chiến lược của Hoàng Sa, chính quyền Pháp không có phản ứng thích hợp. Nắm lấy thời cơ, tháng 12 năm 1955, Trung Quốc bắt đầu đưa quân xâm nhập đảo Phú Lâm. Cuối tháng 2 năm 1956, tàu tuần tra Pháp đi gần đảo Phú Lâm, phát hiện quân Trung Quốc đang xây dựng công sự, thiết lập sự chiếm đóng bất hợp pháp.[13]

 

Trước đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Trung Quốc, vào đầu tháng 6 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao QGVN lên tiếng khẳng định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, như thông báo ở Hội nghị San Francisco năm 1951. Cho đến thời điểm bị quân đội Trung Quốc chiếm đóng vào đầu năm 1956, Việt Nam hành xử chủ quyền ở đảo Phú Lâm nói riêng và ở Hoàng Sa-Trường Sa nói chung, theo đúng Định ước Berlin năm 1885 và luật pháp quốc tế.

 

Không ngừng ở khu vực đảo Phú Lâm, lần lượt vào tháng 1 năm 1974 và tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng phần đảo còn lại của Hoàng Sa và 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hòa và 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.[14]

 

2. Chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế 

 

2.1 Có thế bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng phản đối xâm phạm chủ quyền và khẳng định chủ quyền không ?

 

Theo Nguyễn Quốc Định, chuyên gia Pháp gốc Việt về luật pháp quốc tế, phản đối ngoại giao và khẳng định chủ quyền trước hành động xâm phạm của nước khác là điều không thể thiếu. Nuno Sergio Marques Antunes, chuyên gia Bồ Đào Nha về tranh chấp hàng hải quốc tế, cũng nhấn mạnh vai trò của phương thức này trong nghiên cứu của ông.[15]

 

Tuy nhiên, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền sẽ không có giá trị nếu nó không được nối tiếp với một trong hai phương thức: tích cực giải quyết tranh chấp qua đàm phán hoà bình, hay qua sử dụng hệ thống toà án quốc tế. 

 

Trong hai vụ kiện, giữa Pháp và Anh năm 1953, giữa Nicaragua và Honduras năm 2007, Toà án Quốc tế (ICJ) phán xét rằng, do xem khẳng định chủ quyền, phản đối ngoại giao của Pháp, Nicaragua là không đầy đủ, ICJ đưa quyết định thuận lợi cho Anh, Honduras.[16] 

 

Trong tranh chấp quần đảo Falklands giữa Argentina và Anh, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền của Argentina không bảo vệ được chủ quyền quần đảo Falklands khi Argentina không tiến hành kiện Anh ra ICJ.[17]

 

2.2 Có nên để quá trình giải quyết tranh chấp chủ quyền kéo dài ?

 

Như đề cập ở trên, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền có giới hạn thời gian của nó. Kế đến, trong giải quyết tranh chấp giữa hai nước, khi cần thiết, ICJ sử dụng nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định”. ICJ có thể đưa quyết định thuận lợi cho nước đang chiếm giữ một vùng đất, vùng biển, mặc dù chủ quyền ban đầu không thiết lập rõ ràng, nhưng có hành xử thích hợp sau đấy.

 

Trong hai vụ kiện, giữa Norway và Sweden năm 1909, giữa Qatar và Bahrain năm 2001, nguyên tắc này là một trong những yếu tố khiến Sweden, Bahrain nhận được quyết định thuận lợi.[18] 

 

Theo M. Taylor Fravel, chuyên gia Mỹ về quan hệ quốc tế, từ khi CHNDTH thành lập năm 1949 cho đến nay, trong tổng số 23 cuộc tranh chấp lãnh thổ hay lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, Trung Quốc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán 17 lần và sử dụng vũ lực 6 lần. Trong đó, 3 lần sử dụng vũ lực là với Việt Nam: Tại Hoàng Sa năm 1974, khu vực biên giới cực Bắc năm 1979, và Trường Sa năm 1988. Ba lần còn lại là với Đài Loan, Ấn Độ và Liên Xô.[19]

 

Hiến chương Liên hiệp quốc có Chương I, Điều 2, Khoản 4, ngăn cấm thành viên của tổ chức Liên hiệp quốc đe doạ hay sử dụng vũ lực chống toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của thành viên khác. Hiến chương Liên hiệp quốc cũng có Chương VII, Điều 51, đề cập đến quyền tự vệ cá nhân hay quyền tự vệ tập thể khi thành viên bị tấn công vũ trang.[20]

 

Trong hơn 30 năm nay, học giả Trung Quốc và học giả phương Tây, như Wu Shicun, Marwyn Samuels, Greg Austin, v.v., trực tiếp hay gián tiếp, bóp méo hay làm lu mờ sự thật, khi đưa lập luận Trung Quốc thực hiện “quyền tự vệ” hay bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ” trong xung đột biển đảo với Việt Nam.[21]

 

Dù chưa có nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, về nguyên tắc “quieta non movere” và sự sử dụng vũ lực trong chiếm đóng, các quyết định của Toà án Quốc tế, giới hạn thời gian, tình trạng ổn định, và sự kiện Trung Quốc tích cực tạo hoả mù trong chứng cứ lịch sử và trong hành động chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa-Trường Sa, cho thấy sự bất lợi cho nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc gia tăng, khi tranh chấp kéo dài, không được giải quyết theo luật pháp quốc tế.[22]

 

2.3    Có cần thiết từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá nằm trong vùng đặc quyền kinh

tế (EEZ) của Philippines và Malaysia để giảm thiểu căng thẳng trong tranh chấp ?

 

Khái niệm EEZ trong Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS), được công nhận năm 1982, và có hiệu lực từ năm 1994, là về "quyền chủ quyền" của nước tiếp cận biển, không phải về công nhận chủ quyền của đảo, đá nằm trong EEZ của một nước.

 

Đảo, đá #123 nằm trong EEZ của nước A có thể thuộc chủ quyền của nước B hay thuộc tranh chấp chủ quyền giữa hai nước B và C. Nếu chứng cứ chủ quyền của A yếu hơn B và C, và nếu B đơn phương từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá  #123, trong khi C tiếp tục đòi hỏi, khi có phán xét, ICJ sẽ trao chủ quyền đảo, đá #123 cho C, không phải cho A.

 

Việt Nam hành xử chủ quyền ở Trường Sa trước Philippines và Malaysia. Do Trung Quốc cũng đòi chủ quyền Trường Sa, tranh chấp xảy ra. Từ hành xử chủ quyền trên 6 đảo, đá ở quần đảo Trường Sa đầu thập niên 1930, Việt Nam hiện hành xử chủ quyền ở 21 đảo, không kể 7 bãi đá ngầm bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng năm 1988. So với các nước có tranh chấp ở Trường Sa, Việt Nam có con số đảo, đá lớn nhất.[23] 

 

Quan hệ giữa Việt Nam với Philippines, và với Malaysia, trong bối cảnh Biển Đông, tiến triển tốt đẹp trong nhiều năm qua. Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về khu vực giữa EEZ của hai nước cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS)), theo đúng quy định của UNCLOS, năm 2009; Việt Nam và Philippines hỗ trợ cho nhau trong tranh chấp với Trung Quốc, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước vào tháng 11 năm 2015.[24]

 

Do đó, không cần thiết từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá nằm trong EEZ của Philippines và Malaysia vì không có căng thẳng trong tranh chấp giữa Việt Nam và hai nước này.

 

2.4 Không kiện Trung Quốc ra Toà án Quốc tế được vì Trung Quốc không hợp tác ?

 

Cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp trên đất liền hay trên biển giữa các nước là Toà án Quốc tế (ICJ), Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Toà án Trọng tài Đặc biệt theo Phụ lục VIII của UNCLOS. 

 

ICJ hiện hữu từ năm 1946; ba Toà án còn lại hình thành sau khi UNCLOS có hiệu lực năm 1994. ICJ và ITLOS đòi hỏi mọi bên trong tranh chấp đồng ý tham gia vào quá trình thưa kiện. 

 

Tuy nhiên, Điều 53 trong Quy chế của ICJ có nói rằng:

 

 1. Bất cứ khi nào một trong các bên không trình diện trước Tòa án, hoặc không bảo vệ trường hợp của họ, bên kia có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định theo hướng có lợi cho mình.

2. Trước khi thực hiện yêu cầu, Tòa án phải biết, không những là Toà án có thẩm quyền theo quy định ở các Điều 36 và 37, mà còn là vụ kiện có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý.[25]

 

Trong gần 70 năm qua, ICJ phán xét hơn 160 vụ kiện; Điều 53 được ICJ sử dụng 7 lần.[26]

 

Do tính chất quan trọng của vụ kiện và phạm vi giới hạn của bài, người viết tập trung vào một trong 7 trường hợp: Vụ kiện về “Những hoạt động quân sự và bán quân sự ở trong và chống Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, bắt đầu từ tháng 4 năm 1984.

 

Viện dẫn lý do là ICJ có khả năng vượt quá giới hạn và bị chính trị hoá, Mỹ từ chối tham gia. Dựa trên Điều 53, ICJ tiến hành vụ kiện và có quyết định thuận lợi cho Nicaragua cuối tháng 6 năm 1986.[27]

 

Trong hơn 20 năm qua, vụ kiện đưa đến những tác động tích cực, không chỉ cho Nicaragua và Mỹ mà còn cho các nước khác.

 

Đối với Nicaragua: 

Mặc dù không được Mỹ trực tiếp bồi thường thiệt hại quy định trong phán xét của ICJ, Nicaragua nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, có giá trị hàng trăm triệu dollars, khi quan hệ giữa hai nước cải thiện từ đầu thập niên 1990.[28]

 

Đối với Mỹ: 

Mỹ nhận thức đuợc mối lo ngại, khi từ chối tham gia vụ kiện, là ICJ sẽ bị chính trị hoá, không trở thành hiện thực. Dự đoán của Mỹ không chính xác. Phán xét trong vụ kiện khiến Mỹ phải thực hiện thay đổi trong chính sách và trong quyết định liên quan đến giải quyết tranh chấp.[29]

 

Đối với những nước khác: 

Trong hai thập niên 1960-1970, phán xét của ICJ trong các vụ kiện giữa Ethiopia-Nam Phi, Liberia-Nam Phi năm 1966, Namibia-Nam Phi năm 1971, v.v., khiến những nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á nhận định ICJ chưa đủ mạnh, chưa sẳn sàng để có quyết định đúng đắn, không thiên vị, về hành động sai trái của một số nước ở phương Tây hay thân phương Tây. 

 

Phán xét trong vụ kiện giữa Nicaragua-Mỹ cho thấy ICJ có thể đưa quyết định thuận lợi cho một nước nhỏ, yếu kém, chống một nước lớn, hùng mạnh hàng đầu thế giới. Kết quả là số nước đưa tranh chấp ra ICJ giải quyết gia tăng từ sau vụ kiện của Nicaragua.[30]

 

3. Giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc

 

3.1 Phương án giải quyết tranh chấp của Philippines

 

Sau gần 20 năm theo đuổi đàm phán hoà bình để giải quyết tranh chấp Trường Sa nhưng đối diện với lập trường ngang ngược của Trung Quốc, vào đầu năm 2013, Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS. Viện dẫn lý do về thẩm quyền của Toà án Trọng tài, Trung Quốc từ chối tham gia. 

 

Vào cuối tháng 10 năm 2015, Toà án Trọng tài khẳng định thẩm quyền của Toà án cho 7 trong 15 điểm trong hồ sơ kiện của Philippines và xem xét những điểm còn lại trong thời gian sau. Phán xét của Toà án đánh dấu thắng lợi đầu tiên cho Phillipines trong vụ kiện Trung Quốc.[31]

 

3.2 Nỗ lực thúc đẩy đàm phán hoà bình của Việt Nam

 

Vào cuối tháng 9 năm 1975, trong cuộc họp với lãnh đạo Trung Quốc, khi Bí thư Thứ nhất đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thừa nhận có tranh chấp và đề nghị hai nước thảo luận sau.[32]

 

Trong hơn ba tháng qua, tuyên bố của Tập Cận Bình về chủ quyền trên Biển Đông trong các chuyến thăm từ châu Mỹ sang châu Á cho thấy rất rõ một thực tế là, kể từ cuộc họp giữa lãnh đạo hai nước Việt-Trung năm 1975 cho đến nay, Trung Quốc dứt khoát gạt bỏ mọi thiện chí của Việt Nam để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa. Trung Quốc chủ trương duy trì một lập trường nhất quán trong hơn 40 năm: không đàm phán hoà bình với Việt Nam về Hoàng Sa-Trường Sa.[33]

 

3. 3 Phương án giải quyết tranh chấp của Việt Nam

 

Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền quốc gia của Việt Nam khi chiếm đóng bất hợp pháp đảo Phú Lâm năm 1956, sử dụng vũ lực ở Hoàng Sa năm 1974, ở Trường Sa năm 1988, hàng năm ngang nhiên tuyên bố lệnh cấm đánh cá trên vùng biển của Việt Nam, liên tục gây thiệt hại tài sản và ngay cả thiệt hại nhân mạng cho ngư dân Việt Nam. 

 

Trong 5 năm qua, Trung Quốc tích cực hoàn thiện hay xây dựng mới tổ chức hành chính, sân bay quân sự, quân cảng, hải đăng, v.v., ở Hoàng Sa-Trường Sa, cải tạo và tăng diện tích các bãi đá ngầm chiếm đóng bất hợp pháp ở Trường Sa thành đảo nhân tạo, ở tốc độ kỷ lục chưa từng có trong lịch sử.[34]

 

Kể từ khi Trung Quốc chính thức chiếm đóng đảo Phú Lâm đầu năm 1956 cho đến nay, tranh chấp Biển Đông hiện ở mức độ căng thẳng và khẩn trương cao nhất. So với các nước có tranh chấp trên Biển Đông, với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp, Việt Nam là nước bị thiệt hại lâu dài nhất, nặng nề nhất, trong tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

 

Cuối năm 2011, lần đầu tiên lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh trước Quốc hội sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam,“... năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974 Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự đang quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn - chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn - chính quyền Việt Nam cộng hòa lúc đó đã lên án hành động xâm chiếm này và đã đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp.”

 

Vào tháng 5 năm 2014, trong chuyến thăm Philippines, Thủ tướng khẳng định, “Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông ... Việt Nam chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế.”[35]

 

Vào tháng 11 năm 2015, khi gặp gỡ kiều bào Đức, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhắc lại lời dạy của vua Lê Thánh Tông, ““Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay, lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”

Ông cha chúng ta như thế, đến đời chúng ta cũng phải thế.”

 

Vào cùng tháng 11 năm 2015, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho biết là cử tri cả nước “đề nghị sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý để khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”.[36]

 

Sự kết hợp giữa ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, với thực tế tình hình Biển Đông, và với các nghiên cứu về luật pháp quốc tế, cho thấy Việt Nam đang ở ngưỡng cửa của phương án: Kiện Trung Quốc ra hệ thống toà án quốc tế.

 

Khi sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề chủ quyền giữa hai nước, mà còn giúp tạo tin tưởng từ các nước phụ thuộc vào giao thông hàng hải ngang qua một khu vực với hơn 5.300 tỷ dollars mậu dịch quốc tế hàng năm. Cách hành xử như trên sẽ chứng minh mạnh mẽ rằng Việt Nam là nước tôn trọng luật pháp, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

 

Bên cạnh là cường quốc kinh tế hàng thứ hai và cường quốc quân sự hàng thứ ba trên toàn cầu, Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Quốc tế về Luật Biển. Trung Quốc luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi chủ quyền đảo, đá trên Biển Đông.

 

Nếu Trung Quốc muốn chứng minh họ tôn trọng luật pháp, có trách nhiệm, tương xứng với vị thế của nước họ, nếu Trung Quốc muốn thuyết phục quốc tế về chứng cứ chủ quyền của họ, phủ nhận vai trò mà Toà án Quốc tế hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay sẽ là hành động phản tác dụng nhất của Trung Quốc. Khi Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện, Điều 53 trong Quy chế của Toà án Quốc tế cho phép vụ kiện tiến hành khi có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý. Quyết định không thuận lợi cho Trung Quốc đưa đến cái giá phải trả có khả năng vượt khỏi mọi dự đoán của Trung Quốc.

 

Trong hơn 40 năm qua, do tham vọng bành trướng và lập trường ngang ngược cố hữu của Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc không được giải quyết qua đàm phán hoà bình. Nghiên cứu dựa trên phán xét của Toà án Quốc tế cho thấy cánh cửa sử dụng biện pháp pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ hoà bình trong khu vực quan trọng hàng đầu thế giới, không mở ra cho Việt Nam mãi mãi.

 

Thái Văn Cầu

 

Chú thích:

 

1. Obama, Xi, “Remarks by President Obama and President Xi of the People's Republic of China in Joint Press Conference”, 2015

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2015/09/25/remarks-president-obama-and-president-xi-peoples-republic-china-joint

 

2. Thái Văn Cầu, “Quyền kế thừa của nhà nước và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa”, 2014

http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/hai-chien-hoang-sa/quyen-ke-thua-cua-nha-nuoc-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-5203.html

 

Cùng tác giả, “VN chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/183772/vn-chua-bao-gio-tu-bo-chu-quyen-o-hoang-sa.html

 

“Tự do hàng hải và Chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/199292/tu-do-hang-hai-va-chu-quyen-hoang-sa---truong-sa.html

 

“Luật pháp Quốc tế và Chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa”, 2014

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/luat-phap-quoc-te-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

 

“Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa”, 2013

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/hai-nha-nuoc-viet-nam-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

 

3. Bộ đại từ điển của nhà địa dư học Hà Lan Jacobus Van Wijk Roelandszoon gồm 11 cuốn, xuất bản trong hơn 20 năm, 1821-1842. Khi viết về Paracells (Hoàng Sa) trong phần chữ P, trang 862, có danh sách các đảo, bao gồm đảo Phú Lâm, tọa độ quần đảo Hoàng Sa, và nói rõ là Hoàng Sa thuộc Việt Nam.

 

4. Monique Chemillier-Gendreau, “La souverainete sur les archipels Paracels et Spratleys”, 1996, tr. 105-106, 244-246

 

5. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 247-249

 

6. John E. Dreifort, “Myopic Grandeur The Ambivalence of French Foreign Policy Toward the Far East, 1919-1945”, 1991, tr. 149-152

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 250

 

7. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 43

 

8. Chính Đạo, “Việt Nam Niên Biểu (1939-1975), (Tập B: 1947-1954), 1997, tr. 196

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 111

 

9. Timo Kivimäki, “War or Peace in the South China Sea?”, 2002, tr. 9-10

James Bowen, “Japan's territorial expansion in East Asia 1875-1930”, 2010

http://www.pacificwar.org.au/historicalbackground/JapExpansion.html

 

10. Fredrik Logevall, “Embers of War: The Fall of an Empire and the Making of America's Vietnam”, 2012, tr. 231

Bruce Palmer, “The 25-Year War: America's Military Role in Vietnam”, 1984, tr. 6

 

11. “Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan”, (I&II), 1951&1952, tr. I-261-263

 

12. Fredrik Logevall, sđd, tr. 224-229

 

13. Stein Tonnesson, “The South China Sea in the Age of European Decline”, 2006, tr. 29-30

Theo Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 45, Trung Quốc thiết lập sự chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm vào tháng 4 năm 1956, trong giai đoạn cuối của quân đội Pháp rời khỏi Việt Nam. Xem thêm Fredrik Logevall, sđd, tr. 650.

 

14. Special Vietnam Presse, No. 830, 2 Juin 1956

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 119

Hong Thao Nguyen, “Vietnam's Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim”, 2012, tr. 188

 

15. Nguyen Quoc Dinh, “Droit international public”, 1975, tr. 331 

Nguyễn Quốc Định là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam trong chính quyền 

Bửu Lộc năm 1954, là chủ tịch và phó chủ tịch của UNCLOS I (1956) và UNCLOS II (1960)

Epsey Cooke Farrell, “The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea: An Analysis of Vietnamese Behavior within the Emerging International Oceans Regime”, 1998, tr. 43

Nuno Sergio Marques Antunes, “Estoppel, Acquiescence and Recognition in Boundary Dispute Settlement”, 2000

 

16.  Yong Zhou, “International Relations and Legal Cooperation in 

General Diplomacy and Consular Relations”, 2014, tr. 322

Toà án Quốc tế, “Minquiers and Ecrehos (France/United Kingdom)”, 1953

http://www.icj-cij.org/docket/index.php?sum=88&p1=3&p2=3&case=17&p3=5

 

Toà án Quốc tế, “Territorial and Maritime Dispute between Nicaragua and Honduras in the Caribbean Sea (Nicaragua v. Honduras)”, 2007

http://www.icj-cij.org/docket/?p1=3&p2=3&code=nh&case=120&k=14

 

17. Daniel K. Gibran, “The Falklands War: Britain versus the Past in the South Atlantic”, 2008, tr. 42-43 

 

18. Toà án Trọng tài Thường trực, “The Grisbadarna Case between Norway and Sweden Decided October 23, 1909”, 1909, tr. 130-132

http://dspace.hil.unb.ca:8180/bitstream/handle/1882/995/PhaseII_NL_Memorial_AnnexOfAuthorities_Volume1_Tab3.pdf?sequence=3

 

Toà án Quốc tế, “Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain)”, 2001, tr. 70-75

http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7027.pdf

 

19. M. Taylor Fravel, “Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China's Territorial Disputes”, 2008, tr. 46-47

 

20. “Charter of the United Nations”, 1945

https://www.un.org/en/documents/charter/index.shtml

 

“Hiến chương Liên hiệp quốc”, 1945

http://luatgialong.com.vn/upload/hien-chuong-lien-hop-quoc-nam-1945.pdf

 

21. Marwyn S. Samuels, “Contest for the South China Sea”, 1982, tr. 100-101

Greg Austin, “China's Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development”, 1998, tr. 73-77

Wu Shicun, “Solving Disputes for Regional Cooperation and Development in the South China Sea: A Chinese Perspective”, 2013, tr. 60

 

22. Toà án Quốc tế, “Dissenting Opinion of Judge Torres Bernárdez”, 2001, tr. 267-269

http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7047.pdf

 

23. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 155-156

 

24. “Việt Nam - Philippines lập quan hệ đối tác chiến lược”, 2015

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/viet-nam-philippines-lap-quan-he-doi-tac-chien-luoc-3313738.html

 

25. Statute of the Court, International Court of Justice

http://www.icj-cij.org/documents/?p1=4&p2=2

 

26. Andreas Zimmermann, Karin Oellers-Frahm, Christian Tomuschat, Christian J. Tams, “The Statute of the International Court of Justice: A Commentary”, 2006, tr. 1335

 

27. “Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United States of America)”, 1986

http://www.icj-cij.org/docket/?sum=367&p1=3&p2=3&case=70&p3=5

 

28. “House OKs $720 Million in Aid to Nicaragua, Panama: Congress: Senate Democrats are threatening to delay some funds. Bush wants action by Thursday.”, 1990

http://articles.latimes.com/1990-04-04/news/mn-697_1_senate-democrats

 

“U.S. Foreign Assistance to Latin America and the Caribbean: Recent Trends and FY2013 Appropriations”, 2012

https://www.fas.org/sgp/crs/row/R42582.pdf

 

29. Lori Damrosch, “The Impact of the Nicaragua Case on the Court and Its Role: Harmful, Helpful, or In Between?”, 2012

 

30. Lori Damrosch, sđd, tr. 140-143

 

31. Truong-Minh Vu & Trang Pham, “Who Will ‘Win’ in the Philippines’ South China Sea Case Against China?”, 2015

http://thediplomat.com/2015/08/who-will-win-in-the-philippines-south-china-sea-case-against-china/

 

Trưởng đoàn luật sư của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc là luật sư Mỹ Paul Reichler. Năm 1986, luật sư Reichler, ở tuổi 38, là luật sư chính trong vụ kiện về “Những hoạt động quân sự và bán quân sự ở trong và chống Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ”. Toà án Quốc tế xử Nicaragua thắng kiện, như đã nêu trong phần 2.4.

 

“Dũng sĩ giúp Philippines trong vụ kiện 'đường lưỡi bò'”

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/dung-si-giup-philippines-trong-vu-kien-duong-luoi-bo-3254868.html

 

“PH lawyer vs China: 'Giant slayer' who defeated US”, 2015

http://www.rappler.com/nation/98981-philippines-lawyer-china-paul-reichler-profile

 

“Companero Paul, of Harvard Law”, 1988

http://www.nytimes.com/1988/06/11/world/companero-paul-of-harvard-law.html

 

32. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN, “La Souverainete du Viet Nam sur les archipels Hoang Sa et Truong Sa”, 1979, tr. 55

 

33. “Sang Singapore, ông Tập Cận Bình: 'Các đảo ở Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại'”, 2015

http://thanhnien.vn/the-gioi/sang-singapore-ong-tap-can-binh-cac-dao-o-bien-dong-la-cua-trung-quoc-tu-thoi-co-dai-631112.html

 

“Xi Again Defends China’s Claim to South China Sea Islands”, 2015

http://www.nytimes.com/2015/11/08/world/asia/xi-jinping-china-south-china-sea-singapore.html?_r=0

 

34. “Trung Quốc xây dựng trái phép ở Hoàng Sa ra sao?”, 2015

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/trung-quoc-xay-dung-trai-phep-o-hoang-sa-ra-sao/734243.html

 

“Trung Quốc xây gì ở Trường Sa một năm qua”, 2015

http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/trung-quoc-xay-gi-o-truong-sa-mot-nam-qua-3258497.html

 

“Tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa”, 2015

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tau-trung-quoc-dam-chim-tau-ca-viet-nam-tai-hoang-sa-20150710153718199.htm

 

“Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá trên Biển Đông”, 2015

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/trung-quoc-don-phuong-cam-danh-bat-ca-tren-bien-dong-3219356.html

 

“TQ xây đường băng tại Gạc Ma: Phải kiện ra tòa quốc tế!”, 2014

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tinh-hinh-bien-dong-van-de-bien-dong/tq-xay-duong-bang-tai-gac-maphai-kien-ra-toa-quoc-te-3105404/

 

“Không thể có cái gọi là "thành phố Tam Sa”, 2012

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20120630/khong-the-co-cai-goi-la-thanh-pho-tam-sa/499532.html

 

“Tàu Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt Nam”, 2005

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tau-Trung-Quoc-ban-chet-ngu-dan-Viet-Nam/20367005/157/

 

35. “Toàn văn báo cáo giải trình và trả lời chất vấn trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng”, 2011

http://thutuong.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=15274

 

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời phỏng vấn các hãng thông tấn quốc tế”, 2014 

http://thutuong.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=21025#sthash.1vWeB3jQ.dpuf

 

36. “Chủ tịch nước xúc động với “tàu biển Đông” của kiều bào Đức”, 2015

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20151125/chu-tich-nuoc-xuc-dong-voi-tau-bien-dong-cua-kieu-bao-duc/1009063.html

 

“Cử tri đề nghị sớm khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”, 2015

http://vtc.vn/cu-tri-de-nghi-som-khoi-kien-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te.2.580983.htm

 

Giới nghiên cứu và nguyên lãnh đạo quân sự cũng có ý kiến về vấn đề kiện Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông, điển hình như:

 

Trung tuớng Nguyễn Quốc Thước, “TQ xây đường băng tại Gạc Ma: Phải kiện ra tòa quốc tế!”, 2014

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tinh-hinh-bien-dong-van-de-bien-dong/tq-xay-duong-bang-tai-gac-maphai-kien-ra-toa-quoc-te-3105404/

 

Trần Công Trục, “Không khởi kiện, Trung Quốc sẽ còn được đà lấn tới”, 2014

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Khong-khoi-kien-Trung-Quoc-se-con-duoc-da-lan-toi-post140709.gd

 

Đinh Kim Phúc, "Chuẩn Đô đốc Lê Kế Lâm: Gặp nhau thì nói tốt, hết gặp lại cho làm bậy", 2015

http://thanhnien.vn/thoi-su/chuan-do-doc-le-ke-lam-gap-nhau-thi-noi-tot-het-gap-lai-cho-lam-bay-639203.html

 

Hoàng Việt, “Biển Đông - Từ sự ngụy tạo chủ quyền đến vai trò của công pháp quốc tế”, 2015

http://motthegioi.vn/chuyen-hang-ngay/bien-dong-tu-su-nguy-tao-chu-quyen-den-vai-tro-cua-cong-phap-quoc-te-260358.html

 

Ngô Vĩnh Long, “Việt Nam nên kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/174731/-viet-nam-nen-kien-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te-.html

 

Dương Danh Huy, “Việt Nam cần kiện ra tòa quốc tế”, 2014

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/606498/viet-nam-can-kien-ra-toa-quoc-te.html

 

Thái Văn Cầu, “Hướng đi tới cho tranh chấp HS-TS”, 2011

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2011/12/111201_hoangsa_opinion.shtml

 

 

Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Email In PDF.

3. Philippine đã “dính bẫy” chưa? 

Nhiều người bức xúc cho rằng nội dung mà các lãnh đạo tuyên bố trong quan hệ với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông trong thời gian qua là đã “dính bẫy” do Trung Quốc giăng ra, thậm chí là đã quy phục, đầu hàng Trung Quốc. 

Tuy nhiên, dựa trên những nội dung pháp lý đã nêu ở phần 1 ("Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?) và với một tinh thần cầu thị, khách quan khi nhận xét đánh giá nội dung và hình thức của các tuyên bố đặt trong bố cảnh hiện nay, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về bản chất, ý nghĩa và giá trị của các tuyên bố quan trọng đó. 

Theo nguồn tin của các hãng thông tấn khu vực và quốc tế, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm thứ Ba tuần trước 16/5 tuyên bố: ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông. 

alt
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tại Diễn đàn quốc tế Một vành đai, một con đường ở Bắc Kinh, ảnh: Rappler.

Tổng thống Philippines nói ông có thể hợp tác với các nước láng giềng khi trở về nước từ Bắc Kinh, sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường: 

“Nếu có thể có được cái gì đó mà không gặp phiền hà, thì tại sao không chứ?”, ông Duterte nói với các nhà báo. Ông nói thêm rằng với điều kiện là mọi sự phải “công bằng và cân xứng”.  

Căn cứ vào lời lẽ nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Nhà nước Philippines đã chính thức từ bỏ yêu sách của mình trên Biển Đông. Vì sao? 

Thứ nhất, ông Duterte chỉ tuyên bố về nguyên tắc là “sẵn sàng” hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với điều kiện không gặp “phiền hà” và mọi sự phải “công bằng và cân xứng”. 

Suy ra rằng bất cứ một thỏa thuận nào có liên quan đến lãnh thổ, chủ quyền quốc gia là phải tuân thủ đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. 

Nếu không thì sẽ phải “gặp phiền hà” bởi sự phủ quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và bởi sự phản kháng của người dân nước họ. 

Chính vì vậy, bên cạnh những tuyên bố của Tổng thống Duterte trong thời gian tham dự Diễn đàn cấp cao: “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, ông Santa Romana, một quan chức ngoại giao Philippines lại tuyên bố rằng:

Sự tham dự của ông Duterte tại hội nghị thượng đỉnh về Con đường Tơ lụa lần này không thể được coi là Philippines đã “từ bỏ” tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. 

Phải chăng đó là chìa khóa an toàn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Philippines trong Biển Đông?

Thứ hai, đi sâu hơn về ý tứ của tuyên bố đó, thiết nghĩ đây cũng là một sách lược khôn ngoan của phía Philippines trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Lịch sử của quá trình Philppines tranh chấp chủ quyền ở đây đã chứng minh và ngay cả phía Philippines cũng đã thừa nhận:

Họ đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền chỉ từ những năm 50 và đã chiếm đóng trên thực tế một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa vào những năm 70 của thế kỷ trước. 

Trên danh nghĩa pháp lý, họ cũng chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với các thực thể nằm trong phạm vi hình lục giác bao lấy một phần quần đảo Trường Sa (trừ nhóm đảo Trường Sa lớn), mà họ gọi là “Kalayaan”. 

alt
Lược đồ phạm vi nhóm đảo Kalayaan do Philippines tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thể hiện trong Sắc lệnh số 1596 của tổng thống Philippines. Ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kalayaan_Island_Group_(vi).png

Họ lập luận rằng nhóm đảo này, mặc dù không phải là một bộ phận cấu thành quốc gia quần đảo, vẫn thuộc chủ quyền của Philippines, vì chúng ở gần Philippines về mặt khoảng cách địa lý.  

Nguyên tắc “khoảng cách địa lý” không có giá trị để bảo vệ cho việc chiếm đóng của họ dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. 

Vì vậy, phải chăng tuyên bố này cũng là một biện pháp pháp lý nhằm giành lấy sự công nhận trên thực tế  việc chiếm đóng phi pháp của họ, nếu các bên liên quan chấp nhận “đề xuất” này?

Thứ ba, Philippines thừa biết rằng đây không phải là lần đầu tiên Philippines tìm cách hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông. 

Năm 2005, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Trung Quốc và Việt Nam trên khắp khu vực.

Nhưng thỏa thuận này sau đó sụp đổ, khiến bà Arroyo sau đó tuyên bố “không thể tin vào người Trung Quốc”. 

Mặc dù như vậy, Philippines vẫn tiếp tục đề xuất chủ trương này cũng chỉ vì mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc mà thôi.

Bởi thế, Tổng thống Philippines nói chuyến đi của ông tới thăm Bắc Kinh là “cơ may” cho Philippines, ông tiết lộ rằng sẽ có thêm nhiều khoản đầu tư từ Trung Quốc, nhưng ông không cho biết thêm chi tiết…

4. Việt Nam chưa “dính bẫy”?

Trước hết chúng tôi xin được trích nguyên văn nội dung được nêu tại Điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa diễn ra:

“Hai bên đã trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển; nhấn mạnh cần tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã đạt được và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”;

alt

Donald Trump - Tập Cận Bình cùng thắng, phần thua thuộc về ai?

Sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung; kiên trì thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; 

Tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. 

Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; 

Tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.  

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm xây dựng “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC); 

Kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Trong nội dung này, chúng tôi xin lưu ý thỏa thuận “hợp tác cùng phát triển” là giải pháp tạm thời áp dụng cho hai khu vực khác nhau: 

Một là ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ: “…Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này…”.

Hai là: “trên biển”: “…tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”.

alt

Lý do không ai hưởng ứng Trung Quốc "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông

Từ nội dung nói trên, chúng tôi cho rằng Việt Nam đã rất thận trọng khi thỏa thuận áp dụng giải pháp “cùng phát triển” cho 2 khu vực biển khác nhau: 

Một là khu vực cửa vịnh Bắc Bộ mà 2 bên đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng chồng lấn.

Trong khi hai bên đang đàm phán để thống nhất một đường phân định cuối cùng thì có thể thỏa thuận áp dụng giải pháp tạm thời “cùng phát triển” cho vùng chồng lấn ở đây.

Đây là một thỏa thuận hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

Hai là: nhóm công tác cần tiếp tục “…bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…” Cụm từ “trên biển” ở đây nên được hiểu như thế nào? 

Phải chăng cụm từ này đã phản ánh sự dung hòa quan điểm của 2 bên về phạm vi áp dụng giải pháp “cùng phát triển”? 

Theo lập trường của Việt Nam, phạm vi này chỉ có thể phải là các vùng chồng lấn được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 khi xác lập phạm vi vùng đặc quyền và thềm lục địa của mỗi quốc gia. 

Còn Trung Quốc có thể cho rằng “trên biển” nói trong tuyên bố này bao gồm toàn bộ vùng biển nằm trong giới hạn đường “lưỡi bò”, trong đó có cả khu vực quần đảo Trường Sa mà họ gọi là “Nam Sa quần đảo”, nơi mà Trung Quốc, kể cả vùng lãnh thổ Đài Loan, cho đến nay đã cưỡng chiếm được 9 thực thể địa lý;

Nhưng lập trường của Trung Quốc về khái niệm "trên biển" lại không bao gồm khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa và đã chiếm đóng trái phép hoàn toàn từ năm 1974.

Đó là cách mà Trung Quốc vẫn thường xuyên sử dụng để áp đặt, mặc cả trong đàm phán ngoại giao. 

Như vậy, có thể thấy lập trường của hai bên về phạm vi áp dung cho giải pháp “cùng khai thác trên biển” còn cần phải được cụ thể hóa bằng các cuộc đàm phán cấp chuyên viên.

Và chắc chắn điều này sẽ không dễ dàng thống nhất được một sớm một chiều, nếu Trung Quốc vẫn cố tình bám giữ yêu sách “lưỡi bò”. 

Như vậy, không thể nói Việt Nam đã “dính bẫy” mà Trung Quốc đã giăng ra trong Biển Đông. 

Tuy nhiên, như mọi người đều đã biết, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó, đàm phán ngoại giao song phương hoặc đa phương là biện pháp ưu tiên hàng đầu. 

Trong quá tình đàm phán hòa bình, Việt Nam cũng đã từng chủ động đề xuất áp dụng các giải pháp tạm thời có tính thực tiễn và hợp lý để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đàm phán, từng bước tìm được giải pháp cơ bản, lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được.  

Tất nhiên cũng phải tùy theo khu vực và tính chất tranh chấp để áp dụng các giải pháp tạm thời thích hợp nhất, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, chẳng hạn:

Trong cuộc đàm phán từ ngày 3 đến 5/6/1992, Việt Nam và Malaysia đã ký văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung khu vực biển chồng lấn rộng 2.800 km2 trong vịnh Thái Lan (gọi tắt là MOU). 

Nội dung chủ yếu của MOU là, hai bên đã xác định chính thức tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa mà phía Việt Nam và phía Malaysia đưa ra, quy định hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn này theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất. 

Thỏa thuận cũng nêu rõ, nếu như có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực chồng lấn và một phần nằm trên thềm lục địa của Việt Nam hoặc Malaysia thì hai bên sẽ thỏa thuận cùng thăm dò khai thác. 

alt

Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông?

Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tại khu vực chồng lấn, thì hai bên cũng có thỏa thuận về quản lý hải quan, thuế, biên phòng…  

Với Indonesia, Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận hoạch định ranh giới thềm lục địa và hiện hai nước đang tiến hành đàm phán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Việt Nam cũng đã từng chủ động đề nghị áp dụng giải pháp hợp tác cùng khai thác trước khi nhất trí xác định được ranh giới cuối cùng của vùng đặc quyền kinh tế, tuy nhiên, hai bên vẫn chưa đạt được đồng thuận.

Trở lại vấn đề hợp tác cùng khai thác giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc có vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách của đôi bên trong hoạch định vùng biển theo đúng với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và hai bên đã đề cập sẽ có sự hợp tác khai thác chung ở khu vực chồng lấn này. 

Trong đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã từng thỏa thuận áp dụng giải pháp hợp tác trong vùng đánh cá chung chứ không phải bây giờ mới đề cập. 

Mặc dù đã thống nhất được đường phân định, nhưng vì lý do chiếu cố đến lợi ích của ngư dân của đôi bên trong quá trình chuyển đổi nghề, nên hai bên đã đồng ý xác định một khu vực gọi là “khu vực đánh cá tạm thời, quá độ”. 

Cũng trên tinh thần đó, ngành dầu khí hai nước cũng đã ký gia hạn thỏa thuận cùng nhau hợp tác thăm dò, khai thác mỏ dầu vắt ngang qua đường phân định biên giới tại vịnh Bắc Bộ. 

Đối với tranh chấp Biển Đông, ngày 23/9/2013, tờ Inquirer của Philippines, đăng bài viết của John Nery, một trong 15 nhà báo ASEAN phỏng vấn Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Trong đó ông Lý Hiển Long có đưa ra một số bình luận đáng chú ý khi cho rằng: tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông “chỉ có thể quản lý, không thể giải quyết”, đồng thời ông kêu gọi các bên tranh chấp cùng khai thác nguồn tài nguyên trên Biển Đông. 

Xuất phát từ lợi ích khu vực trong tình hình hiện nay, tuyên bố này xét về phương diện chính trị, ngoại giao là hợp lý. 

Nhưng đi sâu về mặt pháp lý, vấn đề đặt ra là hợp tác khai thác như thế nào, ở đâu, và áp dụng cho loại tranh chấp nào?  

Bởi vì, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, không có chuyện vùng đặc quyền kinh tế hay vùng thềm lục địa được xác lập hợp pháp, chính đáng, rõ ràng theo quy định của Công ước này, lại bị nước khác, do động cơ vụ lợi, nhảy vào, cố tình tạo ra tranh chấp, rồi  bắt “cùng khai thác”, biến vùng không phải tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến không thành có.  

Chính vì thế, các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quôc đề cập tới giải pháp “hợp tác cùng khai thác” áp dụng cho khu vực ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là khả thi, vì đây là điều rất bình thường, giống như đã được áp dụng tại các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia; Việt Nam, Thái Lan và Malaysia trong vịnh Thái Lan…

alt
Sơ đồ vùng đánh cá chung,vùng quá độ. Nguồn: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao.

Như vậy cho thấy rằng, Việt Nam sẵn sàng áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” đối với những vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách dựa theo đúng quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chứ không phải đồng ý giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên toàn bộ Biển Đông.  

Liên quan đến giải pháp tạm thời theo nguyên tắc Status- quo, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã vận dụng thành công giải pháp tạm thời này cho quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa 2 nước:

Năm 1991, sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được khôi phục, trước khi mở ra các vòng đàm phán về biên giới, lãnh thổ trên đất liền, hai bên đã ký “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới” theo nguyên tắc quản lý biên giới theo tình hình thực tế, giữ nguyên mốc giới hiện có (nguyên tắc Status-quo). 

Trong quá trình đàm phán về biên giới trên bộ, hai bên cũng đã vận dụng nguyên tắc này để xử lý thỏa đáng những khu vực biên giới trên bộ còn có nhận thức khác nhau, nhằm phục vụ cho nhu cầu hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. 

Thỏa thuận khai thông đường sắt liên vận Đồng Đăng – Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu là một ví dụ điển hình, sinh động về cách thức áp dụng nguyên tác này với danh nghĩa là một  giải pháp tạm thời:

Trước khi thống nhất được đường biên ở khu vực biên giới còn có nhận thức khác nhau này, Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết một nhu cầu rất thiết yếu về kinh tế, kỹ thuật. 

Đó là làm sao khai thông tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường, nối Lạng Sơn của Việt Nam với khu vực tự trị Choang- Quảng Tây, Trung Quốc.

Tuyến đường này đi qua Hữu Nghị Quan, thuộc khu vực 249C, là khu khu vực Việt Nam và Trung Quốc có nhận thức khác nhau về mặt pháp lý, từng xảy ra đụng độ đẫm máu. 

Lịch sử bảo vệ, quản lý tại thực địa ở đây khiến việc đàm phán không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều.

Trong khi đó, nhu cầu khai thông tuyến đường sắt liên vận sau khi hai nước khôi phục quan hệ là rất cần thiết.

Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế, dân sinh của mỗi nước, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng vừa trải qua một cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt. 

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra làm sao có thể khai thông được khi mà tuyến đường sắt liên vận này phải đi qua khu vực tranh chấp về biên giới, lãnh thổ chưa được giải quyết? 

Trong khi Trung Quốc từ lâu tìm cách khẳng định đường biên giới đi qua “điểm nối ray”, còn Việt Nam cho rằng đường biên giới phải đi qua “nhà mái bằng”, ngôi nhà bảo vệ thiết bị thông tin kết nối đường sắt.

Hai điểm này cách nhau 300 mét.

Đại diện đàm phán hai nước, với tinh thần khách quan, cầu thị, đã thẳng thắn khẳng định đường biên giới chủ trương của cả Trung Quốc và Việt Nam thể hiện trong khu vực này là  không hoàn toàn chuẩn xác, không thể đi qua vị trí mà Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn. 

Vì thế hai bên cần phải đàm phán để tìm ra một đường biên giới mới mà cả hai nước có thể chấp nhận. Trong khi đàm phán hoạch định biên giới theo thỏa thuận, hai bên nên thống nhất chọn một giải pháp tạm thời, mang tính kinh tế, kỹ thuật, để khai thông tuyến đường sắt liên vận. 

Giải pháp tạm thời này không làm ảnh hưởng đến việc hoạch định hướng đi của đường biên giới mới tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận “đóng băng” khu vực 300 mét này, tức là khi con tàu chạy từ phía Việt Nam đến “điểm nối ray” và từ phía Trung Quốc đến vị trí “nhà mái bằng” thì dừng lại, để các lực lượng quản lý nhà nước của hai bên rời khỏi tàu. 

Trên tàu chỉ còn các chuyên gia kỹ thuật, lái tàu và nhân viên phục vụ hàng hóa ở lại làm nhiệm vụ chuyên môn, dịch vụ. 

Vì vậy, hai nước ký biên bản khai thông đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu ngay trong dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị Trung Quốc cuối năm 1995. 

Thiết nghĩ, đó là một bài học để có thể nghiên cứu áp dụng cho những khu vực tranh chấp có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ trên biển.

Và, chính trong Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), các bên tham gia cũng đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng thêm sự chiếm đóng, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình…cũng đã vận dụng tốt nguyên tắc Status-quo rồi. 

Tất nhiên, điều tối quan trọng khi sử dụng những giải pháp tạm thời này là cần phải khẳng định rằng chúng không làm ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế. 

Tuy vậy, các bên vẫn có quyền (và cần thiết) bảo lưu quan điểm về chủ quyền của mình đối với các thực thể địa lý mà mình đã tuyên bố có chủ quyền để phục vụ cho một kênh giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình đối với các thực thể địa lý này, khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận tổ chức thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý nhất định./.

Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội-2008.

-Thục Minh , “Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và luật pháp quốc tế”. Báo Thanh Niên Online, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121203/giai-quyet-tranh-chap-bang-thuong-luong-va-luat-phap-quoc-te.aspx -Luật quốc tế, đề cương Giáo trình , Học viện Quan hệ quốc tế, 1978.

- Steven R. Ratner, The New UN Peacekeeping: Building Peace in Lands of Conflict After the Cold War, Nhà xuất bản St. Martin's (1996).

- Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung  Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).

- Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN (Nghiên cứu Biển Đông,17/03/201) Biendong.net - TQ "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông không  -biendong.net/.../9364-tq-gac-tranh-chap-cung-khai-thac-bien-dong... Sep 27, 2016.

- Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG (Nghiên cứu Biển Đông, 15/03/2010).

- AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.".

-  Trần Công Trục: “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, năm 2012.

-TS  Đặng Đình Quý: “Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2015.

- Hợp tác cùng phát triển - giải pháp có tính thực tế tạm thời – QĐ , www.baomoi.com › Xã hội › Thời sự ,Oct 29, 2013.

- Nghĩa vụ trong vùng biển chồng lấn thềm lục địa ... - Luật pháp Quốc tế- https://iuscogen.wordpress.com/.../nghia-vu-trong-vung-bien-chong lấn...

- Bàn về khả năng hợp tác cùng phát triển ở - Petrotimes - petrotimes.vn/ban-ve-kha-nang-hop-tac-cung-phat-trien-o-bien-do... Nov 14, 2013.

- TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/12/18/4186/ Dec 18, 2009.

- 100 câu Hỏi - Đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. www.vnmilitaryhistory.net.

TS Trần Công Trục

The Indisputable Sovereignty of Viet Nam over the Paracel Islands

Email In PDF.

Published online on January 30th, 2011, by the National Committee for Border Affairs

Ministry of Foreign Affairs, Socialist Republic of Viet Nam

* The original article in Vietnamese can be found at: http://www.biengioilanhtho.gov.vn/Media/bbg/News/Archives/vie/chu%20quyen%20tren%202%20quan%20dao%20Hoang%20Sa%20-%20Truong%20sa.pdf

Translated by Nguyễn Trịnh Đôn

 

Editorial notes: On January 19, 2011, the Information Office of the State Council of the People’s Republic of China published a “facts-and-figures” article on the China’s seizure of the Viet Nam’s Paracel Islands. The article wrote “On January 19, 1974, our (Chinese) armed forces and people on the Xisha Islands successfully conducted a counter-attack for the purpose of self-defence and sovereignty protection against the South Vietnamese puppet armed forces, which had been continuously violating our territorial waters and airspace, occupying our islands, and killing and injuring our fishermen.”

To follow up the story with more information, the Southeast Asian Sea Research Foundation (Quỹ nghiên cứu Biển Đông) presents below an essay by the National Committee for Border Affairs of Viet Nam’s Ministry of Foreign Affairs that uses historical and legal evidence to argue that Viet Nam has indisputable sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands (which are referred to as “Hoàng Sa” and “Trường Sa”, respectively, by Vietnamese).

 

The Paracel (Hoàng Sa) and the Spratly (Trường Sa) Islands are two archipelagos offshore Viet Nam. The closest point of the Paracel Islands is 120 nautical miles east of the City of Đà Nẵng and Ré Island, a coastal island of Viet Nam, while the closest point of the Spratly Islands is 250 nautical miles to the east of Cam Ranh Bay.

In the early days, with only vague information about the Paracel and the Spratly Islands, navigators only knew that there was a large area of submerged cays dangerous for watercrafts in the middle of the South China Sea, referred to as “the East Sea” (Biển Đông) by Vietnamese. Ancient Vietnamese documents indicate this area with various names, including “Bãi Cát Vàng” (English: Golden Sandbank), “Hoàng Sa” (Hán-Nôm: 黃沙; English: Golden Sand) [1], “Vạn Lý Hoàng Sa” (Hán-Nôm: 萬里黃沙; English: Ten-Thousand-Dặm Golden Sand) [2], “Đại Trường Sa” (Hán-Nôm: 大長沙; English: Grand Long Sand), or “Vạn Lý Trường Sa” (Hán-Nôm: 萬里長沙; English: Ten-Thousand-Dặm Long Sand).

Most of the nautical maps made by Western navigators from the 16th to the 18th centuries depict the Paracel and the Spratly Islands as a single archipelago and name it “Pracel”, “Parcel”, or “Paracels” [3]. Later progress in science and navigation allowed the differentiation between the two archipelagos. It was not until about two hundred years ago (1787–1788) that the Paracel Islands were located clearly and accurately as they are known today. This work of locating the Paracel Islands by the Kergariou-Locmaria survey mission helped distinguish the archipelago from the Spratly Islands in the south.

All of the aforementioned maps depict Pracel (including both the Paracel and the Spratly Islands) as an area in the middle of the South China Sea to the east of mainland Viet Nam and located further offshore compared to Viet Nam’s coastal islands. The two archipelagos indicated as the “Paracel” and the “Spratly” (or “Spratley”) Islands in current international nautical maps are indeed those that are called as “Hoàng Sa” and “Trường Sa”, respectively, by Vietnamese people.

paracel1

Figure 1. A 16th-century Portuguese nautical map depicting the Paracel and the Spratly Islands as a single archipelago located to the east of Viet Nam’s mainland [3].

Historical Sovereignty of Viet Nam over The Paracel and The Spratly Islands

The Vietnamese people have long known the Paracel and the Spratly Islands, and Viet Nam has occupied and exercised its sovereignty over the two archipelagos in a continuous and peaceful manner.

Several ancient geography books and maps in Viet Nam clearly indicate that “Bãi Cát Vàng”, also known under various names such as “Hoàng Sa”, “Vạn Lý Hoàng Sa”, “Đại Trường Sa”, or “Vạn Lý Trường Sa”, has long been included within the territory of Viet Nam.

Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (Hán-Nôm: 纂集天南四至路圖書; English: “The Handbook of the South’s Road Map”), compiled in the 17th century by Đỗ Bá Công Đạo, clearly noted in the maps of Quảng Ngãi Prefecture in Quảng Nam that “there was a long sandbank in the middle of the sea that is called Bãi Cát Vàng”, and that “during the last month of every winter, the Nguyễn rulers [4] send eighteen boats there to collect goods, mainly jewelries, money, guns, and ammunition”.

paracel2.png

Figure 2. Scanned image of a page of Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (纂集天南四至路图書)

In the 1774 map of Đàng Trong (Southern Viet Nam) called Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (Hán-Nôm: 甲午年平南圖; English: The Map for the Pacification of the South in the Giáp Ngọ Year) [5,6], made by Đoan quận công (Hán-Nôm: ; English: Duke of the Đoan County) Bùi Thế Đạt, Bãi Cát Vàng is also indicated as a part of Viet Nam’s territory.

During his assignment in Southern Viet Nam, the scholar Lê Quý Đôn (Hán-Nôm: 黎貴惇) (1726–1784) compiled the 1776 Phủ biên tạp lục (Hán-Nôm: 撫邊雜錄; English: Miscellany on the Pacification at the Frontier) on the history, geography, and administration of Southern Viet Nam under the Nguyễn lords (1558–1775). In this work, Lê Quý Đôn described that Đại Trường Sa (including the Paracel and the Spratly Islands) was under the jurisdiction of Quảng Ngãi Prefecture.

 

paracel3

Figure 3. Scanned images of the pages describing

the Paracel and the Spratly Islands in Phủ biên tạp lục (撫邊雜錄)

 

“An Vĩnh Commune (), Bình Sơn District (huyện), Quảng Ngãi Prefecture (phủ) has a mountain [7] outside its seaport. This 30-dặm wide mountain is called Ré Island (cù lao). It takes four watches (canh) [8] to reach the island, on which there is a ward (phường) named Tứ Chính with beans-growing inhabitants. Further offshore are the Đại Trường Sa Islands, where there are plenty of sea products and other goods. It takes Hoàng Sa Flotilla, founded to collect those products and goods, three full days to reach the islands, which are near Bắc Hải.”

“Bình Sơn District of Quảng Ngãi Prefecture includes the coastal commune of An Vĩnh. Offshore to the northeast of An Vĩnh are many islands and approximately 130 mountains separated by waters which can take from few watches to few days to travel across. Streams of fresh water can be found on these mountains. Within the islands is a 30-dặm long, flat and wide golden sand bank, on which the water is so transparent that one can see through. The islands are rich in swift nests, and there are hundreds or thousands of other kinds of birds; they alight around instead of avoiding humans. There are many curios on the sandbank. Among the volutes (ốc vân) are the Indian volutes (ốc tai voi). An Indian volute here can be as big as a mat; on their ventral side are opaque beads, different from pearls, that are as big as fingertips; their shell can be carved to make identification badges (tấm bài) or calcinated to provide lime for house construction.  There are also conches (ốc xà cừ) that can be used for furniture inlay, and Babylon shells (ốc hương). All snails here can be salted for food. The sea turtles are oversized. There is a sea soft-shell turtle called “hải ba” or “trắng bông”, similar to but smaller than the normal hawksbill sea turtles; their thin shell can be used for furniture inlay, and their thumb-sized eggs can be salted for food. There is a kind of sea cucumbers called “đột đột”, normally seen when swimming about the shore; they can be used as food after lime treatment, gut removal and drying. Before serving đột đột, one should process it with freshwater crab extract and scrape all the dirt off. It will be better if cooked with shrimps and pork.

Foreign boats often take refuge in these islands to avoid storms. The Nguyễn rulers have established Hoàng Sa Flotilla with seventy sailors selected from An Vĩnh Commune on a rotation basis. Selected sailors receive their order in the Third Month of every year, bring with them sufficient food for six months, and sail on five small fishing boats for three full days to reach the islands. Once settled down on the islands, they are free to catch as many birds and fish as they like. They collect goods from boats passing by, such as sabers, jewelries, money, porcelain rings, and fur; they also collect plenty of sea turtle shells, sea cucumbers, and volute shells. The sailors return to mainland in the Eighth Month through Eo Seaport. On their return trip, they first sail to Phú Xuân Citadel, where the goods that they have collected shall be submitted to be measured and classified; they can then take their parts of volutes, sea turtles, and sea cucumbers for their own trading businesses, and receive licenses before going home. The amount of collected materials varies; sometimes, the sailors could not collect anything at all. I have personally checked the notebook of the former flotilla captain Thuyên Đức Hầu, which recorded the amount of collected goods: 30 scoops of silver in the year of Nhâm Ngọ (Hán-Nôm: 壬午; i.e. 1762), 5,100 catties (cân) [9] of tin in the year of Giáp Thân (甲申; i.e. 1764), 126 scoops of silver in the year of Ất Dậu (乙酉; i.e. 1765), a few sea turtle shells each year from the year of Kỷ Sửu (己丑; i.e. 1769) to the year of Quý Tỵ (癸巳; i.e. 1773). There were also years when only cubic tin, porcelain bowls, and two copper guns were collected.

The Nguyễn rulers also established Bắc Hải Flotilla without a fixed number of sailors, selected from Tứ Chính Village in Bình Thuận or from Cảnh Dương Commune. Sailors are selected on a voluntary basis. Those who volunteer to join the Flotilla will be exempted from poll tax, patrol and transportation fees. These sailors travel in small fishing boats to Bắc Hải, Côn Lôn Island, and other islands in Hà Tiên area, collecting goods from ships, and sea products such as turtles, abalones, and sea cucumbers. Bắc Hải Flotilla is under the command of Hoàng Sa Flotilla. The collected items are mostly sea products and rarely include jewelries.”

Among those documents that have been preserved until today is the following order dated 1786 made by Lord Superior (Thượng tướng công):

“Hereby command Hội Đức Hầu, captain of Hoàng Sa Flotilla, to lead four fishing boats to sail directly towards Hoàng Sa and other islands on the sea, to collect jewelries, copper items, cannons of all size, sea turtles, and valuable fishes, and to return to the Capital to submit all of these items in accordance with the current regulation”.

Bishop J.L. Taberd, in his 1837 “Note on the Geography of Cochinchina[10], also describes “Pracel or Paracels” as a part of Cochinchina’s territory and indicates that Cochinchinese people refer to Paracels as “Cát Vàng”. In An Nam đại quốc họa đồ (Hán-Nôm: 安南大國畫; English: The Map of the An Nam Empire) [11] published in 1838, Bishop Taberd depicted part of Paracels and noted “Paracel seu Cát Vàng” (English: Paracel or Cát Vàng) for the islands farther than those near the shore of Central Viet Nam, corresponding to the area of the Paracel Islands nowadays.

 

paracel4

Figure 4. Scanned image of An Nam đại quốc họa đồ (安南大國畫/Tabula geographica imperii Anamitici)

 

The map of Viet Nam under the Nguyễn Dynasty (c. 1838), Đại Nam nhất thống toàn đồ (Hán-Nôm: 大南ー統全; English: The Complete Map of the Unified Đại Nam) [12], indicated that “Hoàng Sa” (number 1) and “Vạn Lý Trường Sa” (number 2) are Vietnamese territories. These islands were depicted to be further offshore compared to those near the Central coast.

 

paracel5

Figure 5. Scanned image of a portion of Đại Nam nhất thống toàn đồ (大南ー統全)

 

Đại Nam nhất thống chí (Hán-Nôm: 大南ー統志; English: The Geography of the Unified Đại Nam), the geography book completed in 1882 [13] by Quốc sử quán (Hán-Nôm: 國史館; English: The National History Institute) of the Nguyễn Dynasty (1802–1845), indicates that the Paracel Islands are part of Viet Nam’s territory and was under the administration of the Province of Quảng Ngãi.

 

paracel6

Figure 6. Scanned image of a page in Đại Nam nhất thống chí (大南ー統志)

 

In the paragraphs describing the topography of Quảng Ngãi Province, Đại Nam nhất thống chí reads:

“In the east of Quảng Ngãi Province is Hoàng Sa Island, in which sands and waters are alternate, forming trenches. In the west is the area of mountainous people with the steady and long rampart. The south borders the Province of Bình Định, separated by the Bến Đá mountain pass. The north borders the Province of Quảng Nam, marked by the Sa Thổ Creek (ghềnh) …”

“The previous custom of maintaining Hoàng Sa Flotilla was continued in the early days of the Gia Long Era but later abandoned. At the beginning of the Minh Mạng Era, working boats were sent to the area for sea route survey. They found an area with verdant plants over white sands and a circumference of 1,070 trượng [14]. In the middle of Hoàng Sa Island is a well. In the southwest lies an ancient temple with no clear indication of the construction time. Inside the temple is a stele engraved with four characters “Vạn Lý Ba Bình” (Hán-Nôm: 萬里波平; English: calm sea for a thousand dặm). This island had previously been called “Phật Tự Sơn” (Hán-Nôm: 佛寺山; English: The Mountain of Buddha’s Temple). In the east and the west of the island is an atoll named Bàn Than Thạch (Hán-Nôm: 珊瑚石; English: coral reef). It emerges over the water level as an isle with a circumference of 340 trượng and a height of 1.2 trượng (same elevation as that of Hoàng Sa Island). In the 16th year of the Minh Mạng Era, working boats were ordered to transport bricks and stones to the area to build temple. In the left side of the temple, a stone stele was erected as a remark, and trees are planted all over three sides, namely the left, the right, and the back, of the temple. While building the temple’s foundation, the military labourers found as much as 2,000 catties of copper leaves and cast iron.”

Many Western navigators and Christian missionaries in the past centuries attested that Hoàng Sa (Pracel or Paracel) belongs to Viet Nam.

A Western clergyman wrote in a letter during his 1701 trip on the ship Amphitrite from France to China that: “Paracel is an archipelago of the Kingdom of An Nam[15].

J.B. Chaigneau, one of the counsellors to Emperor Gia Long, wrote in the 1820 complementary note to his “Mémoire sur la Cochinchine” (English: Memoir on Cochinchina) [16] that: “The Country of Cochinchina, whose emperor has just ascended to the throne, includes the Regions of Cochinchina and Tonkin [17] … some inhabited islands not too far from the shore, and the Paracel Islands composed of uninhabited small islands, creeks, and cays.

In the article “Geography of the Cochinchinese Empire[18], written by Gutzlaff and published in 1849, some parts clearly indicate that Paracel is part of Viet Nam’s territory and even noted the islands with the Vietnamese name “Cát Vàng”.

As sovereigns of the country, successive feudal dynasties in Viet Nam had for many times conducted survey on the terrains and resources of the Paracel and the Spratly Islands over centuries. The results of these surveys have been recorded in Vietnamese geography and historical books since the 17th century.

Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (Hán-Nôm: 纂集天南四至路图書; English: “The Collection of the South’s Road Map”) of the 17th century reads:

“In the middle of the sea is a long sandbank, called Bãi Cát Vàng, with a length of 400 dặm and a width of 20 dặm, spanning in the middle of the sea from Đại Chiêm to Sa Vinh Seaports [19]. Foreign ships would be drifted and stranded on the bank if they traveled on the inner side (west) of the sandbank under the southwest wind or on the outer side under the northeast wind (east). Their sailors would starve to death and leave all their goods there [20].”

Đại Nam thực lục tiền biên (Hán-Nôm: 大南實錄前編; English: The First Part of The Chronicles of Đại Nam), the historical document collection about the Nguyễn lords completed by Quốc sử quán in 1844, reads:

“Offshore of An Vĩnh Commune, Bình Sơn District, Quảng Ngãi Prefecture, are more than 130 sandbanks whose distances from each other can take anywhere from a few watches to a few days to travel. They span an area of thousands of dặm, and are thus called “Vạn Lý Hoàng Sa”.  There are freshwater wells on the sandbanks, and sea products of the area include sea cucumber, sea turtles, volutes, and so on and so forth.”

“Not long after the founding of the Dynasty, Hoàng Sa Flotilla was established with 70 sailors selected from An Vĩnh Commune. In the Third Month of every year, they sail for about three days to the islands. They collect goods there and return in the Eighth Month. There is also another flotilla named Bắc Hải, whose sailors are chosen from Tứ Chính Village in Bình Thuận or Cảnh Dương Commune, ordered to sail to Bắc Hải and Côn Lôn areas to collect goods. This flotilla is under the command of Hoàng Sa Flotilla.”

The parts covering the eras of Emperors Gia Long, Minh Mạng, and Thiệu Trị completed in 1848 in Đại Nam thực lục chính biên (Hán-Nôm: 大南實錄正編; English: The Main Part of The Chronicles of Đại Nam), the historical document collection about the Nguyễn emperors, record the events of: Emperor Gia Long’s possession of the Paracel Islands in 1816, and the temple construction, stele erection, tree planting, measurement and mapping of the islands following Emperor Minh Mạng’s order [21].

Volume 52 of Đại Nam thực lục chính biên reads:

“In the Bính Tý (Hán-Nôm: 丙子) year, the 15th year of the Gia Long Era (1816) … His Majesty the Emperor commanded the naval forces and Hoàng Sa Flotilla to sail to Hoàng Sa Islands for sea route survey.”

Volume 104 reads:

“In the Eighth Month, during the autumn, of the Quý Tỵ (in Hán-Nôm: 癸巳) year, the 14th year of the Ming Mạng Era (1833) … His Majesty the Emperor told the Ministry of Public Works that: In the territorial waters of the Province of Quảng Ngãi, there is the Hoàng Sa range. The water and the sky in that range cannot be distinguished from afar. Trading boats have recently become victims of its shoal. We shall prepare sampans, waiting until next year to go to the area for constructing temple, erecting stele, and planting many trees. Those trees will grow luxuriant in the future, thus serving as recognition remarks for people to avoid getting stranded in shoal. That shall benefit everyone forever.”

Volume 154 reads:

“In the Sixth Month, during the summer, of the Ất Mùi (Hán-Nôm: 乙未) year, the 16th year of the Minh Mạng Era (1835) … a temple was built on Hoàng Sa Island, under the administration of Quảng Ngãi Province. Hoàng Sa, in the territorial waters of Quảng Ngãi, has a white sand island covered by luxuriant plants with a well in the middle. In the southwest of the island is an ancient temple in which there is a stele engraved with four characters “Vạn Lý Ba Bình” (Hán-Nôm: 萬里波平; English: calm sea for a thousand dặm). Bạch Sa Island has a circumference of 1,070 trượng; previously referred to as Phật Tự Sơn, the island is surrounded by a gently-sloping atoll in the east, west, and south. In the north is an atoll named Bàn Than Thạch, emerging over the water level with a circumference of 340 trượng, an elevation of 1.3 trượng, as high as the sand island. Last year, His Majesty the Emperor had already considered ordering the construction of a temple and a stele on it, but the plan could not be executed due to harsh weather conditions. The construction had to be postponed until this year when the naval captain Phạm Văn Nguyên and his soldiers, the Capital’s patrol commander (giám thành), and labourers from the Provinces of Quảng Ngãi and Bình Định came and carried building materials with them to build the new temple (seven trượng away from the ancient temple). A stone stele and a screen were erected on the left hand side and in the front of the temple, respectively. They finished all the works in ten days and returned to mainland.”

Volume 165 reads:

“On the first of the First Month, during the spring, in the Bính Thân (Hán-Nôm: 丙申) year, the 17th year of the Ming Mạng Era (1836) … The Ministry of Public Works submitted a petition to His Majesty the Emperor, saying that: In the frontier of our country’s territorial waters, Hoàng Sa is a critical and hardly-accessible area. We have had the map of the area made; however, due to its wide and long topography, the map only covers part of it, and this coverage is not sufficiently detailed. We shall deploy people to the area for detailed sea route survey. From now on, in the last ten days of the First Month of every year, we shall implore Your Majesty’s permission to select naval soldiers and the Capital’s patrolmen (vệ giám thành) to form a unit on a vessel. This unit shall travel to Quảng Ngãi within the first ten days of the Second Month, requesting the Provinces of Quảng Ngãi and Bình Định to employ four civilian boats to travel together to Hoàng Sa. For every island, cay, or sandbank that they encounter, they shall measure its length, width, elevation, area, circumference, and the surrounding water’s depth; they shall record the presence of submerged cays and banks, and the topography. Maps shall be drawn from these measurements and records. Also, they shall record the departure date, departure seaports, directions, and estimated distance estimated on the traveling routes. These people shall also look for the shore to determine the provinces, their directions and distances to the surveyed positions. One and all must be recorded clearly and presented once they return.”

“His Majesty the Emperor approved the petition, ordered the naval detachment commander Phạm Hữu Nhật to command a battleship and bring ten wooden steles to be used as markers in the area. Each wooden stele is five thước long, five tấc wide, one tấc thick [22], and is engraved with characters meaning: The 17th year of the Minh Mạng Era, the Bính Thân year, Detachment Commander Phạm Hữu Nhật of the Navy, complying with the order to go to Hoàng Sa for management and survey purposes, arrived here and therefore placed this sign.”

Đại Nam thực lục chính biên also recorded that, in 1847, the Ministry of Public Works submitted a petition to Emperor Thiệu Trị, saying: “Hoàng Sa is within the territory of our country. It is a regular practice that we deploy boats to the area for sea route surveys every year. However, due to the busy work schedule of this year, we implore Your Majesty’s permission to postpone the survey trip until next year”. Emperor Thiệu Trị wrote “đình” (Hán-Nôm: 停; English: suspended) in the petition to approve it.

paracel7

Figure 7. Scanned image of a page in Đại Nam thực lục chính biên (大南實錄正編)

The 1882 Đại Nam nhất thống chí (Hán-Nôm: 大南ー統志; English: The Geography of the Unified Đại Nam) reads:

“Hoàng Sa Islands lies in the east of Ré Island, under Bình Sơn District. From Sa Kỳ Seaport, it can take three or four days to sail to the islands under favourable wind. There are more than 130 small islands, separated by waters which can take a few watches or a few days to travel across. Within the islands is the golden sandbank spanning tens of thousands of dặm and thus called Vạn Lý Trường Sa. There are freshwater wells, and numerous birds gather on the bank. Sea products there include sea cucumbers, sea turtles, and volutes. Goods from ships wrecked by storms drift to the bank.”

Other books completed under the Nguyễn Dynasty such as the 1821 Lịch triều hiến chương loại chí (Hán-Nôm: 歴憲章類誌; English: Classified Rules of Dynasties), the 1833 Hoàng Việt dư địa chí (Hán-Nôm: 越輿地誌; English: Geography of the Viet Empire), the 1876 Việt sử thông giám cương mục khảo lược (Hán-Nôm: 越史通鑑綱目考略; English: Outline of the Viet History Chronicles) all have similar description for the Paracel Islands.

paracel8

Figure 8. Scanned image of the petition that the Ministry of Public Works submitted to Emperor Thiệu Trị in 1847 with the Emperor’s approving note highlighted in the red circle.

 

Due to the aforementioned richness of sea products and goods from wrecked ships in the Paracel and the Spratly Islands, the Vietnamese feudal dynasties had long exploited sovereignty over the islands. Many ancient history and geography books of Viet Nam provide evidence of the organization and operation of the Hoàng Sa flotillas, which performed these exploitation duties.

Succeeding the Nguyễn lords in governing the country, the Tây Sơn Dynasty always paid fair attention to maintaining and deploying Hoàng Sa flotillas although it had to continuously deal with the invasions of the China’s Qing Dynasty and Siam. Under the Tây Sơn Dynasty, the Imperial Court continued organizing various forms of exploitation of the Paracel Islands with the awareness that it was exercising the sovereignty over the islands.

From the foundation of the Nguyễn Dynasty in 1802 until the 1884 Treaty of Huế with France, the Nguyễn emperors had made every effort to consolidate Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands.

Hoàng Sa Flotilla, later reinforced by Bắc Hải Flotilla, was maintained and continuously active under the Nguyễn lords (1558–1783) to the Tây Sơn Dynasty (1786–1802) and the Nguyễn Dynasty (1802–1945).

In conclusion, ancient history and geography books of Viet Nam as well as evidence found in documents written by several Western navigators and clergymen all point to the fact that successive dynasties in Viet Nam have been the sovereigns of the Paracel and the Spratly Islands for centuries. The Vietnamese states-founded Hoàng Sa flotillas’ regular presence from five to six months annually to perform certain duties in these islands is itself incisive evidence demonstrating the exercise of Vietnamese sovereignty. The acquisition and exploitation by Vietnamese sovereign states of these islands were never opposed by any other countries, further proving that the Paracel and the Spratly Islands have long been part of Viet Nam’s territory.

 

Sovereignty Exercise over the Paracel and the Spratly Islands Continued by France on Behalf of Viet Nam

Since the conclusion of the Treaty of Huế on June 6th, 1884, France had represented Viet Nam in all of its external relations and protected Viet Nam’s sovereignty and territorial integrity. Within the framework of those commitments, the Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands was exercised by France. That sovereignty exercise is clearly illustrated with numerous examples of which some are listed below.

The French battleships often patrolled in the South China Sea, referred to as “Biển Đông” (English: The East Sea) by Vietnamese, including the areas of the Paracel and the Spratly Islands.

In 1899, Paul Doumer, the then Governor-General of Indochina, sent a proposal to Paris for building a lighthouse on Pattle Island (đảo Hoàng Sa) within the Paracel Islands to guide ships in the area. The plan, however, was abandoned due to budget issue.

Since 1920, Indochinese ships of customs had intensified their patrol in the area of the Paracel Islands to prevent smuggling.

In 1925, the Institute of Oceanography in Nha Trang sent the ship De Lanessan for an oceanography survey in the Paracel Islands. In addition to A. Krempf, the then Institute’s Director, and other researchers including Delacour and Jabouille also joined the trip for their geological and biological research and other studies. Also in 1925, the Minister of Military Affairs (Hán-Nôm: 兵部尚書) Thân Trọng Huề of the Imperial Court reaffirmed that the Paracel Islands are within Viet Nam’s territory.

In 1927, the ship De Lanessan went to the Paracel Islands for a scientific survey.

In 1929, the Pierre de Rouville delegation proposed that four lighthouses to be set up at four corners of the Paracel Islands, namely Triton (Tri Tôn) and Lincoln (Linh Côn) Islands, and the North (Đá Bắc) and Bombay Reefs (bãi Bông Bay).

In 1930, the gunboat La Malicieuse went to the Paracel Islands.

In March 1931, the ship Inconstant went to the Paracel Islands.

In June 1931, the ship De Lanessan went to the Paracel Islands.

In May 1932, the battleship Alerte went to the Paracel Islands.

From April 13th, 1930 to April 12th, 1933, the Government of France deployed the naval units to garrison in major islands of the Spratly Islands, namely Spratly (Trường Sa Lớn), Amboyna Cay (An Bang), Itu Aba (Ba Bình), Group des Deux Iles (Song Tử) [23], Loaita (Loai Ta), and Thitu (Thị Tứ).

On December 21st, 1933, the then Governor of Cochinchina (Thống đốc Nam Kỳ) M.J. Krautheimer signed the decree of annexing the islands of Spratly, Amboyna Cay, Itu Aba, Song Tử group, Loaita, and Thitu to the Province of Bà Rịa [24].

In 1937, the French authorities sent a civil engineer named Gauthier to the Paracel Islands to examine the positions for building lighthouses and a seaplane terminal.

In February 1937, the patrol ship Lamotte Piquet commanded by Rear-Admiral Istava came to the Paracel Islands.

paracel9

Figure 9. Scanned image of Decree no. 4702–CP of December 21st, 1933 issued by the Governor of Cochinchina.

 

On March 29th, 1938, Emperor Bảo Đại signed the Imperial Edict to split the Paracel Islands from the Province of Nam Nghĩa and annex them to the Province of Thừa Thiên [25]. The Edict reads:

“Consider that the Hoàng Sa Islands (Archipel des îles Paracels) have been for long under the sovereignty of Nước Nam [12], and directly under the Province of Nam Nghĩa during the previous dynasties’ time, and that this administration had not been changed until the reign of Thế tổ Cao hoàng đế [26] as all the communications with these islands were carried out via the seaports in the Province of Nam Nghĩa;

Consider that by nautical progress, the communications have changed, and that the Imperial Court’s representative who went on an inspection tour and the Protectorate’s representative petitioned to annex those islands to the Province of Thừa Thiên for the sake of convenience;

Order:

Single item –– To annex the Hoàng Sa Islands (Archipel des îles Paracels) to the Province of Thừa Thiên. In terms of administration, these islands are under the command of the Governor of the Province.”

 

paracel10

Figure 10. Scanned image of the Imperial Edict signed by Emperor Bảo Đại on March 29th, 1938.

 

On June 15th, 1938, the then Governor-General of Indochina Jules Brévié signed the decree on establishing an administrative unit in the Paracel Islands under Thừa Thiên Province.

In 1938, France erected a sovereignty stele, completed the constructions of a lighthouse, a meteorological station, a the radio station on Pattle Island (Vietnamese: đảo Hoàng Sa; French: Île Pattle), and a meteorological station and a radio station on Itu Aba Island within the Paracel Islands. The inscription on the stele reads: “The French Republic, The Kingdom of An Nam, The Paracel Islands, 1816 – Pattle Island – 1938” (1816 and 1938 are the years of Viet Nam’s sovereignty exercise over the Paracel Islands by Emperor Gia Long, and of the French erection of the stele, respectively).

 

paracel11

Figure 11. The sovereignty stele erected by France in 1938.

 

On May 5th, 1939, the Governor-General of Indochina Jules Brévié signed a decree on amendment of the decree of June 15th, 1938. The new decree established two administrative delegations, namely the Delegations of Croissant And Its Dependents, and Amphirite And Its Dependents.

For the whole time of representing Viet Nam for its external relations, France consistently affirmed the sovereignty of Viet Nam over the Paracel and the Spratly Islands, and protested those actions that seriously violated this sovereignty. For instance, on December 4th, 1931 and April 24th, 1932, France opposed the Government of China on the intention of the Guangdong (Hán-Nôm: 廣東) provincial authorities to invite bids for exploiting guano on the Paracel Islands. Other examples include the France’s announcement on July 24th, 1933 to Japan that its armed forces would encamp on major islands within the Spratly Islands; and the France’s objection on April 4th, 1939 to the Japan’s inclusion of some islands within the Spratly Islands under its jurisdiction.

 

paracel12

Figure 12. Scanned image of the Decree of May 5th, 1939 issued by the Governor-General Jules Brévié.

 

Protection And Exercise of Viet Nam’s Sovereignty over The Paracel and the Spratly Islands Since The End of World War II

After returning to Indochina after World War II, in early 1947, France requested the Republic of China to withdraw their troops from some islands within the Paracel and the Spratly Islands that had been illegitimately occupied in late 1946. The French armed forces then arrived at the islands to replace those of China and to rebuild their meteorological and radio stations.

paracel13

Figure 13. Scanned images of the World Meteorological Organization documents containing information about the Viet Nam’s meteorological stations in the Sprartly Islands (on Itu Aba) (left) and the Paracel Islands (right) in 1949 and 1973, respectively.

 

On September 7th, 1951, Trần Văn Hữu, the head of the State of Viet Nam’s delegation at the San Francisco Conference on the Treaty of Peace with Japan, declared that the Paracel and the Spratly Islands have long been the territories of Viet Nam, and that “to take full advantage of every chance to prevent any seed of dispute in the future, we affirm our long-standing sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands”. This statement did not meet any objections and/or reserves of opinion.

In 1953, the French ship Ingénieur en chef Girod went on its survey trip on oceanography, geology, geography, and ecology in the Paracel Islands.

Later governments in South Viet Nam, including both the Sài Gòn Administration (the Republic of Viet Nam), and the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Viet Nam (abbr. RSVN Government), exercised Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands as clearly showed by the following examples.

In 1956, the naval forces of the Sài Gòn Administration took over the Paracel and the Spratly Islands when France withdrew its troops. In the same year, with the assistance of the Sài Gòn Administration’s naval forces, the Department of Mining, Technology, & Small Industries (Sở hầm mỏ, công nghệ & tiểu công nghiệp) organized a survey on four islands within the Paracel Islands, namely Pattle (Hoàng Sa), Money (Quang Ảnh), Robert (Hữu Nhật), and Drumond (Duy Mộng).

 

paracel14

Figure 14. Scanned image of the statement of Trần Văn Hữu, head of the State of Viet Nam’s delegation at the 1951 San Francisco Conference on the Treaty of Peace with Japan.

 

On October 22nd, 1956, the Sài Gòn Administration placed the Spratly Islands under the Province of Phước Tuy.

On July 13th, 1961, the Sài Gòn Administration transferred the jurisdiction of the Paracel Islands from the Province of Thừa Thiên to the Province of Quảng Nam. The administrative commune of Định Hải, headed by an administrative envoy directly under the District of Hòa Vang, was established in the islands.

paracel15

Figure 15. Scanned image of Decree 174-NV of the President of the Republic of Viet Nam on transferring the jurisdiction of the Paracel Islands from Thừa Thiên to Quảng Nam Provinces.

 

From 1961 to 1963, the Sài Gòn Administration built sovereignty steles on major islands within the Spratly Islands such as Spratly, Itu Aba, and the Southwest Cay.

 

paracel16

Figure 16. The sovereignty stele erected by the Republic of Viet Nam on Spratly Island in 1961.

 

On October 21st, 1969, the Sài Gòn Administration annexed Định Hải Commune into Hòa Long Commune, also under Hòa Vang District of Quảng Nam Province.

In July 1973, the Institute of Agricultural Research (Viện khảo cứu nông nghiệp) under the Ministry of Agricultural Development & Land (Bộ phát triển nông nghiệp & điền địa) conducted its investigation on Namyit Island (Nam Ai or Nam Yết) within the Spratly Islands.

In August 1973, the Sài Gòn Administration’s Ministry of National Planning & Development (Bộ kế hoạch & phát triển quốc gia), in collaboration with Marubeni Corporation of Japan, conducted an investigation on phosphates in the Paracel Islands.

On September 6th, 1973, the Sài Gòn Administration annexed the islands of Spratly, Itu Aba, Loaita, Thitu, Namyit, Sin Cowe (Sinh Tồn), the Northeast and Southwest Cays, and other adjacent islands into Phước Hải Commune, Đất Đỏ District, Phước Tuy Province [27].

paracel17

Figure 17. Scanned image of Decree 420-BNV/HCĐP/26 of the Ministry of the Interior

of the Republic of Viet Nam on annexing the Spratly Islands into the Province of Phước Tuy.

 

Fully aware of the long-standing sovereignty of Viet Nam over the Paracel and the Spratly Islands, the governments in South Viet Nam all showed efforts to protect the sovereignty against any violations and/or disputes over the two archipelagos.

On June 16th, 1956, the Sài Gòn Administration’s Ministry of Foreign Affairs issued a statement to re-affirm Viet Nam’s sovereignty over the Spratly Islands. In the same year, the Sài Gòn Administration strongly objected to the occupation of the eastern islands within the Paracel Islands by the People’s Republic of China.

On February 22nd, 1959, the Sài Gòn Administration detained for some time 82 people who claimed to be “fishermen” from the People’s Republic of China and had landed on the islands of Robert, Drummond, and Duncan (Quang Hoà) within the Paracel Islands.

On April 20th, 1971, the Sài Gòn Administration once again re-affirmed that the Spratly Islands are Viet Nam’s territories. This affirmation of Viet Nam’s sovereignty over the Islands was repeated by the Sài Gòn Administration’s Foreign Minister in the July 13th, 1971 press conference.

On January 19th, 1974, the military forces of the People’s Republic of China occupied the southwestern islands of the Paracel Islands; this violation of Viet Nam’s territorial integrity was condemned in the same day by the Sài Gòn Administration. The RSVN Government declared its three-point position on the solution for territorial disputes on January 26th, 1974, and re-affirmed Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands on February 14th, 1974.

On June 28th, 1974, the RSVN Government claimed its sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands at the Third Law of Sea Conference in Caracas, Venezuela. On May 5th and 6th, 1975, the RSVN Government announced its liberation of the Spratly Islands, which had been under the control of the Sài Gòn Administration.

In September 1975, the delegation of the RSVN Government at the Colombo Meteorological Conference stated that the Paracel Islands are Viet Nam’s territories, and requested that the Viet Nam’s meteorological station in the Islands to be registered in the WMO’s list of meteorological stations (this station had previously been entered in the WMO’s list under the registration number 48.860).

After the country’s re-unification, the State of the Socialist Republic of Viet Nam has been promulgating many critical legal documents on sea and the Paracel and the Spratly Islands. These include: the 1977 Statement by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on Viet Nam’s Territorial Waters, Contiguous Zones, Exclusive Economic Zones, and Continental Shelf; the 1982 Statement by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on the Basic Line Used in the Calculation of the Area of Viet Nam’s Territorial Waters; the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Viet Nam; the 1994 Resolution of the Fifth Session of the Ninth National Assembly of the Socialist Republic of Viet Nam on Ratification the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS); and the 2003 Law of the National Borders.

In terms of administration, the Government of Viet Nam made the Spratly and the Paracel Islands districts (huyện) under Đồng Nai and Quảng Nam–Đà Nẵng Provinces, respectively. After some administrative revisions, the Paracel Islands are currently under the City of Đà Nẵng, while the Spratly Islands belong to Khánh Hòa Province.

The Government of the Socialist Republic of Viet Nam has repeatedly affirmed Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands in diplomatic notes sent to the involved parties, in the statements of the Ministry of Foreign Affairs, and in international meetings including the WMO meeting in Geneva (June 1980) and in the International Geological Congress in Paris (July 1980).

Viet Nam has for several times issued its white papers (in 1979, 1981, and 1988) on the sovereignty of Viet Nam over the Paracel and the Spratly Islands to affirm that these two archipelagos are inseparable territories of Viet Nam, and that Viet Nam has full sovereignty over them in accordance with international laws and practice.

On March 14th, 1988, the Ministry of Foreign Affairs of the Socialist Republic of Viet Nam issued a statement condemning the China’s act that caused military conflict and its seizure of some submerged cays from Viet Nam in the Spratly Islands.

In April 2007, the Government of Viet Nam established Trường Sa Township (thị xã), Song Tử Tây  and Sinh Tồn Communes () under Trường Sa District (huyện) in the Spratly Islands.

 

Conclusion

In summary, there are three major points one can clearly conclude with references to the aforementioned historical documents as well as international law and practice.

First, successive sovereign states in Viet Nam have actually possessed the Paracel and the Spratly Islands for long since the time when there was no sovereignty claim over those archipelagos.

Second, for hundreds of years since the 17th century, Viet Nam has indeed exercised its sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands in a continuous and peaceful manner.

And third, Viet Nam has always been proactive in protecting its rights and titles against any intentions and actions that violate Viet Nam’s sovereignty, territorial integrity, and rights in the Paracel and the Spratly Islands.

 


 

APPENDIX

Some International Documents And Treaties Related to Viet Nam’s Sovereignty over The Paracel And The Spratly Islands

 

1. The Cairo Communiqué on November 27th, 1943

When World War II entered its fiercest stage, a conference of the three powers of the Allies, namely the United Kingdom of Great Britain & North Ireland, the United States of America, and the Republic of China (represented by Chiang Kai-shek), was organized in Cairo, Egypt. The Cairo Communiqué [28], the outcome of the conference, states that: “The Three Great Allies are fighting this war to restrain and punish the aggression of Japan. They covet no gain for themselves and have no thought of territorial expansion. It is their purpose that Japan shall be stripped off all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and The Pescadores, shall be restored to the Republic of China.”

In accordance to this statement, the three Great Allies expressed their purpose to force Japan to return to the Republic of China those territories that were seized from the Chinese, including Manchuria, Formosa (Taiwan), and the Pescadores (Penghu), without any mention of the Paracel and the Spratly Islands.

2. Potsdam Declaration on July 26th, 1945

Heads of state and government of the United States of America, the United Kingdom of Great Britain & North Ireland, and the Republic of China declared that the terms given in the 1943 Cairo Communiqué should be executed [28]. After declaring war with Japan in the Far East, the Union of Soviet Socialist Republics also joined this Declaration.

The Potsdam Agreement assigned China the responsibility to disarm the Japanese forces in the north of the 16o Latitude in Viet Nam. Accordingly, from late 1946, Chiang Kai-shek’s troops entered the northern provinces and the Paracel Islands of Viet Nam. Their disarming activities in these areas do not mean, in any sense, affirmation and/or restoration of Chinese sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands.

3. Treaty of Peace with Japan in 1951

The San Francisco Conference on the Treaty of Peace with Japan was held from September 4th to 8th, 1951 with the attendance of 51 countries. Article 2 in Chapter II of the draft treaty states that Japan shall renounce all rights, titles, and claims to specific territories that are listed. These territories include: Korea, Formosa (Taiwan), the Pescadores (Penghu), the Kuril Islands, the southern portion of Sakhalin Island, the Pacific islands, Antarctic areas, the Spratly Islands, and the Paracel Islands.

At the plenary session on September 5th, 1951, the Conference agreed with the decision of the Conference’s President to reject another proposal requesting “that Japan shall recognize the complete sovereignty of the People’s Republic of China over Manchuria, Formosa and its adjacent islands, Penlinletao (the Pescadores), the Tunshatsuntao Islands (Pratas), the Sishatsuntao and Chunshatsuntao (the Paracel Islands, the Amphirites, and the Maxfield submerged cays), and the Nanshatsundao (including the Spratly Islands), and that Japan shall renounce all rights, titles, and claims to these territories”. This rejection decision was approved by the Conference with 46 ayes, three noes, and one abstain. Countries that voted to reject this proposal include Argentina, Australia, Belgium, Bolivia, Brazil, Cambodia, Canada, Ceylon (Sri Lanka), Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Egypt, El Salvador, Ethiopia, France, Greece, Guatemala, Haiti, Honduras, Indonesia, Iran, Iraq, Laos, Lebanon, Liberia, Luxembourg, Mexico, the Netherlands, New Zealand, Nicaragua, Norway, Pakistan, Panama, Paraguay, Peru, the Philippines, Saudi Arabia, Syria, Turkey, the United Kingdom, the United States, Viet Nam, and Japan.

In the ratified Treaty of Peace with Japan, Article 2 of Chapter II [29] remains unchanged as it had initially been drafted, which states:

“(a) Japan, recognizing the independence of Korea, renounces all right, title and claim to Korea, including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.

(b) Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.

(c) Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5th, 1905.

(d) Japan renounces all right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts the action of the United Nations Security Council of April 2nd, 1947, extending the trusteeship system to the Pacific islands formerly under mandate of Japan.

(e) Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.

(f) Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.”

Apparently, the territories proclaimed by the 1943 Cairo Communiqué and the 1951 Treaty of Peace with Japan to be under China’s sovereignty only include Taiwan and Penghu. The fact that the Treaty of Peace with Japan places Taiwan and Penghu together in one item (Item b), and the Paracel and the Spratly Islands together in a separate item (Item f) implies that the Paracel and the Spratly Islands are not recognized as parts of China.

Also at the 1951 San Francisco Conference, on September 7th, 1951, Trần Văn Hữu, the head of the State of Viet Nam’s delegation, declared that the Paracel and the Spratly Islands have long been the territories of Viet Nam, and that “to take full advantage of every chance to prevent any seed of dispute in the future, we affirm our long-standing sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands”. None of the representatives of 51 countries attending the Conference objected to and/or expressed their wish to reserve opinions about this statement.

 

All of these aforementioned documents and evidence clearly demonstrate that international legal documents, from the Cairo Communiqué of November 27th, 1943 (re-affirmed by the Potsdam Declaration of July 26th, 1945) to the San Francisco Treaty of Peace with Japan of September 8th, 1951, do not recognize the sovereignty of any other countries over the Viet Nam’s Paracel and Spratly Islands. Also, the fact that none of the countries attending the 1951 San Francisco Conference objected to or wished to reserve their opinion on the statement of the Viet Nam’s delegation on Viet Nam’s sovereignty over the Paracel and the Spratly Islands shows that the international community implicitly recognized the sovereignty of Viet Nam over the Paracel and the Spratly Islands.

 

 


Notes:

[1] Hán-Nôm (漢and 喃) is the use and modification of Chinese characters in Vietnamese language with Vietnamese pronunciation since the 10th century.

[2] “Dặm” is an old length measurement unit, equivalent to 0.5 km.

[3] These nautical maps were made by Portuguese, Dutch, and French navigators including Lazaro Luis, Fernão vaz Dourado, João Teixeira, Johannes Janssonius, Willem Janszoon Blaeu, Jacob Aertsz Colom, Theunis Jacobsz, Hendrick Doncker, Frederick de Wit, Pierre du Val, and Henricus van Langren.

[4] “The Nguyễn rulers” refer to the Nguyễn lords (chúa Nguyễn), the feudal rulers of Southern Viet Nam (Đàng Trong) from 1558 to 1775 while Northern Viet Nam (Đàng Ngoài) was ruled by the Trịnh lords (chúa Trịnh). Both of these feudal houses nominally swore their allegiance to the Lê Imperial Dynasty.

[5] In Hồng Đức bản đồ (Hán-Nôm: 洪德版圖; English: The Hồng Đức Map).

[6] Old Vietnamese documents used the cyclic Oriental calendar to name years. The corresponding year in the Gregorian calendar is thus given for each Oriental year in this essay.

[7] For Vietnamese and Chinese people, “mountain” (Hán-Nôm: 山; Vietnamese: sơn/núi; Pinyin: shan) is also used to indicate an island in the sea. For examples, Chinese people refer to most of the islands in Hangzhou Bay (Hán-Nôm: 杭州灣; Pinyin: Hángzhōu Wān) in the south of Shanghai as “shan”; these include Bái Shan (Hán-Nôm: 白山) and Dàyú Shan (Hán-Nôm: 大魚山). The Chinese people also used “shan” to call some Vietnamese islands such as “Cửu Đầu Sơn” (Hán-Nôm: 九頭山; Pinyin: Jiŭtóu Shan) for Cô Tô Island, “Bất Lao Sơn” (Hán-Nôm: 不勞山; Pinyin: Bùláo Shan) for Chàm Island, and “Ngoại La Sơn” (Hán-Nôm: ; Pinyin: Wàiluó Shan) for Ré Island.

[8] Canh is an old time measurement unit, equivalent to about two hours.

[9] Cân is an old weight measurement unit, equivalent to about 600 grams.

[10] “Note on the Geography of Cochinchina” by Bishop Jean-Louis Taberd was published in the 1837 Journal of the Asiatic Society of Bengal, Volume 6, page 745.

[11] “Tabula geographica imperii Anamitici” is attached in the 1938 Latin–Annamese Dictionary (Dictionarium Latino–Anamiticum).

[12] “Đại Nam” (English: The Great South) and “Nước Nam” (English: The Southern Country) are among various names used to refer to Viet Nam by the Vietnamese people.

[13] The part covering the Central provinces was revised and carved for woodblock printing in 1909.

[14] Trượng (Hán-Nôm: 丈) is an old length measurement unit, equivalent to about ten feet.

[15] J.Y.C. cited from “Mystere des atolls – Journal de voyage aux Paracels” (English: Mystery of the atolls – Journal of the voyage to the Paracel Islands), published in the issues 3, 10, and 17 of the weekly magazine Indochine in July 1941. The name “Cochinchina” in these articles refers to Viet Nam as a whole country.

[16] A. Salles cited from “Le mémoire sur la Cochinchine de J.B. Chaigneau” (The memoir of Cochinchina by J.B. Chaigneau), published in the 1923 Bulletin des amis du vieux Huê (Bulletin of the Friends of Old Huế), Volume 2, page 257.

[17] “Cochinchine” (French) or “Cochinchina” (English) indicates either Southern Viet Nam (Đàng Trong) or Viet Nam as a whole, which also included Northern Viet Nam (Đàng Ngoài).

[18] “Geography of the Cochinchinese Empire” was published in the 1849 Journal of the Royal Geography Society of London, Volume 19, page 93.

[19] Đại Chiêm and Sa Vinh Seaports are now called Đại and Sa Huỳnh Seaports under the Provinces of Quảng Nam and Quảng Ngãi, respectively.

[20] Bãi Cát Vàng has for long been known as an area with many dangerous submerged cays in the South China Sea.

[21] The Second Period, Volume 122.

[22] Thước (Hán-Nôm: 尺) and tấc (Hán-Nôm:

Cập nhật ngày Thứ năm, 07 Tháng 4 2011 05:50

Đánh chận từ xa

Email In PDF.

LÊ VĨNH TRƯƠNG (Quỹ nghiên cứu Biển Đông)

“Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết” - câu nói này được cho là của Nhân Huệ Vương Khánh Dư viết tựa cho sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương.

Đánh chận từ xa
Tranh: Lê Thiết Cương

Nếu kẻ địch đến và xâm chiếm đất nước, tổ chức đánh đuổi chúng đi là việc đương nhiên của bất cứ ai là con dân Việt Nam. Nếu chúng đang lởn vởn hay lộ dã tâm từ nhiều đời sẽ có các cách tiếp cận, phòng thủ hoặc có thể tấn công như một cách phòng thủ.

Bày trận, đánh chận từ xa như một hoạt động vượt trên kẻ địch về thời gian, địa điểm, kỹ thuật, tổ chức chiến trường đã được các chiến lược gia như Carl von Clausewitz, Tôn Tử và Hưng Đạo Vương ghi lại dưới nhiều hình thức.

Đỉnh cao của quân sự là không cần phải để nổ ra chiến tranh mà vẫn đạt được lợi ích mong muốn, bất chiến tự nhiên thành. Cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cụ thể.

Ngạn ngữ Latin có câu: “Si vis pacem, para bellum” tức nếu muốn có hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh.

Cổ ngữ phương Đông ghi: “Cư an tư nguy, tư tắc hữu bị, hữu bị vô hoạn” (Sống trong thời bình an nghĩ về mối nguy, có ưu tư ắt phải có chuẩn bị, có chuẩn bị sẽ hạn chế hoạn nạn). Đại tướng Ngô Xuân Lịch gần đây cũng đề cập đến việc “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”.

Sống trong hòa bình nhưng luôn suy nghĩ, chuẩn bị giải pháp cho những mối nguy đang đến và giải trừ mối nguy ấy bằng các phương cách chính trị, ngoại giao, tình báo, sức mạnh mềm, luật pháp quốc tế và cả chiến tranh mạng (cyberwar).

Đánh chận từ xa bao gồm nhưng không giới hạn sức mạnh vũ trang bởi có nhiều phương cách khác như tư duy, cuộc bày trận thế, cách đánh, phát triển quan hệ, khoa học phòng thủ, tiến công nhờ vào sức mạnh công nghệ mới, cải tiến. Một hệ thống các cách công thủ không chỉ nhờ vào võ khí này sẽ bảo đảm hiệu quả hơn chỉ dựa vào phòng thủ thụ động.

Một cực khác của câu chuyện này là việc tránh né đề cập đến chiến tranh bởi các lý do đạo đức, tình đồng chí, chủ nghĩa nhân loại chung chung. Nhưng khi không bàn đến thì khó mà thực hiện hành động ngăn chận từ xa. Chủ nghĩa đà điểu chui đầu xuống cát để tránh né vấn đề đang có thể tìm thấy ở nhiều diễn đàn.

Công việc bày trận hay cài đặt các mối quan hệ đòi hỏi nhiều yếu tố. Trước tiên, bản thân cơ thể cần khỏe mạnh, có sức sống, có uy lực, có sự ủng hộ của nhiều tác nhân.

Thứ nhì là giải quyết các mối quan hệ liên minh, các quốc gia bàng quan hay thân với đối phương.

Thứ ba là hiểu biết về đối phương... Cơ thể ốm yếu, nội bộ lủng củng, kinh tế suy thoái chắc chắn sẽ làm công tác đánh chận khó có tác dụng cao. Gia tăng độ liên kết với các quan hệ bạn hữu, trung lập hóa các quan hệ thân kẻ địch và thuyết phục các quốc gia bàng quan thông qua nhiều loại diễn đàn.

Đánh chận bằng công cụ quân sự từng được Lý Thường Kiệt sử dụng trong cuộc chiến kháng Tống 1073, tấn công kho lương kẻ địch định sử dụng cho cuộc xâm lược Việt Nam, làm suy yếu thực lực của quân địch trước khi chiến sự nổ ra.

Chiến tranh đánh chận (pre-emptive war) cũng đã được tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố như một học thuyết vừa có tác dụng răn đe vừa có tác dụng tập hợp các đồng minh rời rạc và đưa chiến tranh ra xa nước Mỹ.

Các cuộc đánh chận bằng công cụ tình báo trước trận Xích Bích (năm 208 thời Tam Quốc, Trung Quốc) với nhiều mưu sĩ, tướng lĩnh của các bên Ngụy - Thục - Ngô tham gia cũng là những cuộc cài đặt quan hệ.

Và không phải ngẫu nhiên mà chương trình SDI của Mỹ đã bị Liên Xô phản ứng, bị cuốn theo và suy sụp vào đầu thập niên 1990. Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ - Nhật kết hợp với Đài Loan trong chương trình TMD (Theater Missile Defense) - một chiếc ô chống hỏa tiễn Trung Quốc hướng về Đài Loan - khiến Trung Quốc khiếp hãi. Đó là đánh chận.

Để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, đặc biệt tại khu vực Biển Đông Việt Nam, các vấn đề an ninh phi truyền thống cũng được giải quyết bằng các công cụ truyền thống và phi truyền thống. Mượn lực, mượn dịch vụ công cộng và sử dụng luật pháp quốc tế là một phần của cuộc đánh chận.

Nhân lực, tài năng, quyết tâm bảo vệ đất nước là những yếu tố tiên quyết để có được một thế trận đánh chận rộng khắp, vươn xa, cùng với nó là nhiều yếu tố mới cần được khai thác bởi những người Việt - dám - đánh - chận sắp đặt và thực hiện.■

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/20160224/danh-chan-tu-xa/1053313.html

"Gác tranh chấp, cùng khai thác” trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?

Email In PDF.

Dự luận đang bàn tán xôn xao về việc Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte thứ Ba tuần trước 16/5/ tuyên bố, nước ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông.

Đồng thời tuần qua cũng có một vấn đề khác rất thu hút sự chú ý, mà dư luận coi là có nội dung tương tự đã thể hiện tại điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc, nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang: “… tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…”.

Đã có nhiều nhận định, đánh giá ở những thái cực khác nhau: có người lạc quan, tin tưởng rằng đó là những tuyên bố thích hợp, hiện thực và đúng đắn; 

Nhưng cùng với đó cũng không ít người hết sức quan ngại, thậm chí bất bình vì họ cho rằng những tuyên bố này chỉ có lợi cho Trung Quốc, thậm chí đã “quy phục” Trung Quốc…

Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi xin được đề cập và phân tích một số nội dung có liên quan sau đây:

1. Giải pháp tạm thời dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế

1.1.Giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán phân định khu vực chồng lấn tạo ra bởi các vùng biển được xác lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

“Hợp tác phát triển (khai thác) chung” là giải pháp tạm thời có tính thực tiễn để giúp giải quyết loại tranh chấp trong việc hoạch định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn. 

alt
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Tại Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, qui định về việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia ven biển nằm kề hoặc đối diện nhau đã ghi rõ: 

“Trong khi chờ ký kết thỏa thuận nói ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. 

Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng.” (Khoản 3).

Trong thực tế, vận dụng quy định này của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, các quốc gia ven biển đã thỏa thuận áp dụng giải pháp “hợp tác phát triển ( khai thác) chung” (Joint-development) ở vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. 

Khi áp dụng giải pháp này, các bên đều vận dụng, trên cơ sở phải tuân thủ các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của mình. 

Nếu tạo ra vùng chồng lấn thì các bên liên quan cần đàm phán để hoạch định ranh giới trong phạm vi vùng chồng lấn đó. 

Trong khi đàm phán, nếu như chưa thống nhất được ranh giới cuối cùng, thì các bên có thể áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” các vùng biển chồng lấn.

Như vậy, nếu yêu sách ranh giới biển và thềm lục địa nào không dựa vào các tiêu chuẩn của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 thì đương nhiên không được xem xét để áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” có giá trị thực tiễn và tiến bộ này. 

Chẳng hạn, đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra không phù hợp với bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, đã bị cộng đồng quốc tế lên án và bị Phán quyết Trọng tài 12/7/2016 phủ quyết.

Cho dù Trung Quốc đã chính thức công bố, hợp thức hóa yêu sách này, cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn được tạo ra bởi con đường “hoang tưởng” này. 

1.2. Giải pháp tạm thời áp dụng cho quá trình giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ và phân định biên giới quốc gia trên đất liền

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 không quy định áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” cho tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ giữa các quốc gia. 

Đây là một loại tranh chấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này.

Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành, giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ hay phân định biên giới quốc gia trên đất liền thường được vận dụng là “giữ nguyên hiện trạng”. 

Thực chất, đây chính là nguyên tắc Status- quo.

alt

COC là Bộ Luật Biển khu vực?

Nguyên tắc này đã được vận dụng khá phổ biến trong luật pháp và thực tiễn quốc tế nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình giải quyết những tranh chấp giữa các bên trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội…

Với tư cách là một giải pháp tạm thời, trung gian, có tính thực tế, giải pháp này không làm ảnh hưởng hay có tác động gì đến kết quả của quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. 

Tuy nhiên trong thực tiễn, cách hiểu và vận dụng nguyên tắc này như thế nào vẫn còn là vấn đề khá phức tạp, nhiều khi còn tồn tại những nhận thức khác nhau...

Đặc biệt là những quan hệ pháp lý, chính trị nhạy cảm có liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia. 

Chính vì vậy khi triển khai ký và thực hiện các thỏa thuận đó, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc và tính toán rất kỹ và thận trọng. 

Nếu không sẽ bị mắc bẫy, bị rơi vào những tình huống bất lợi khó có thể khắc phục được, nhất là trên phương diện pháp lý.  

2. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” - cạm bẫy pháp lý của Trung Quốc

2.1. “Cạm bẫy pháp lý” được giăng như thế nào?

Quá trình tiến xuống phía Nam, độc chiếm Biển Đông nhằm thực hiện chiến lược vươn lên trở thanh siêu cường quốc tế trong tranh chấp địa-chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, Trung Quốc đã tính toán sử dụng nhiều biện pháp, thủ thuật, thủ đoạn khác nhau, lúc “cứng”, lúc “mềm”…

Song song với biện pháp sử dụng sức mạnh để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào những thời điểm khác nhau của thế kỉ trước, Trung Quốc đã tính toán sử dụng các biên pháp “mềm”, rất tinh vi và nguy hiểm. 

Một trong những biện pháp đó là việc họ đã đề xuất giải pháp “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” được ông Đặng Tiểu Bình nêu ra từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20. 

Trong suốt hơn 40 năm qua, “gác tranh chấp, cùng khai thác" đã trở thành một chủ trương lớn trong triển khai chiến lược biển của Trung Quốc. 

Họ luôn tìm mọi cách để áp đặt ý tưởng và chủ trương này đối với các nước láng giềng. 

Đối với Biển Đông, từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã lần lượt nêu ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” với Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia…

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ tháng 11 năm 1991, Trung Quốc cũng đã nhiều lần đề cập với Việt Nam về chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Tuy nhiên, ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc không được đa số các nước ASEAN hưởng ứng, do các nước đều hiểu rõ bản chất của ý tưởng này là:

Biến khu vực không tranh chấp thành vùng tranh chấp để thực hiện “cùng khai thác” tại vùng biển và thềm lục địa của các nước khác nằm trong phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”.

Để tranh thủ sự ủng hộ của các nước ASEAN, Trung Quốc đã nhiều lần điều chỉnh câu chữ của ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác”. 

Ban đầu là “chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác”, sau đó thì rút gọn lại là “gác tranh chấp, cùng khai thác” và gần đây là “khai thác chung” hay “cùng khai thác”. 

Hơn thế nữa, Trung Quốc đang muốn đánh đồng đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” với giải pháp tạm thời  “cùng phát triển (khai thác)”vùng biển chồng lấn, có ý nghĩa thực tế theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Bển năm 1982.

Bằng cách đánh tráo các khái niệm này, họ âm mưu áp dụng cho hầu như toàn bộ khu vực Biển Đông nằm trong yêu sách “đường lưỡi bò”. 

alt
Ông Đặng Tiểu Bình, người đưa ra chủ thuyết "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác", ảnh: news.china.com.

Rõ ràng, quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc đã vượt qua mọi quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Thậm chí ý tưởng "gác tranh chấp, cùng khai thác" theo cách hiểu của Trung Quốc, hoàn toàn không có trong các án lệ của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến vấn đề giải quyết các tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, quần đảo trên biển.

Mặc dù luôn luôn khẳng định chủ trương “cùng khai thác” không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, song ý đồ sâu xa của Trung Quốc là muốn thông qua “cùng khai thác” để hợp pháp hóa các yêu sách phi lý và phi pháp của mình trong Biển Đông. 

Họ còn muốn dùng vấn đề “cùng khai thác” để phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế. 

Thời gian qua, Trung Quốc luôn lớn tiếng rằng “cùng khai thác” là biện pháp duy nhất để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. 

Trung Quốc cho rằng đề xuất này thể hiện thiện chí to lớn của phía Trung Quốc, có cơ sở pháp lý, không đụng chạm đến quan điểm của mỗi bên về vấn đề chủ quyền.

Họ lập luận "gác tranh chấp, cùng khai thác" có tính xây dựng, thực tế và tính khả thi nhất, tạo điều kiện cho các bên khai thác tài nguyên phát triển kinh tế, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác, cũng như góp phần giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định trên biển… 

Thực tế cho thấy trong triển khai chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”, Trung Quốc vừa nhằm duy trì và củng cố yêu sách mở rộng phạm vi biển theo đường "lưỡi bò” trong Biển Đông, tranh đoạt được tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng.

Đồng thời họ còn nhắm mục tiêu giữ được bộ mặt “hòa bình”, tranh thủ dư luận, tăng cường ảnh hưởng chinh trị đối với khu vực, hạn chế vai trò của các cường quốc khác. 

Như vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng  khai thác” của Trung Quốc  chỉ là một “cạm bẫy” pháp lý cực kỳ nguy hiểm. 

2.2.  Cảnh giác để không dính bẫy "gác tranh chấp cùng khai thác" của Trung Quốc.

Đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra xuất phát từ tham vọng độc chiếm Biển Đông, không dựa vào bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

alt

Vùng chồng lấn, vấn đề hoạch định ranh giới biển và thực tiễn Việt Nam

Mặc dù Trung Quốc chính thức công bố, yêu sách này cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” trong vùng chồng lấn được tạo bởi con đường “hoang tưởng” này.  

Thực chất, ngoài khu vực Trường Sa, các khu vực Trung Quốc muốn “cùng khai thác” với các nước liên quan đều là các khu vực nằm trong phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa hợp pháp của các nước có tiềm năng dầu khí và không có tranh chấp.

Do vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” này của Trung Quốc không thể chấp nhận được, chí ít là về nguyên tắc. 

Nếu chấp nhận đề xuất của Trung Quốc, dù chỉ là trên nguyên tắc chung chung, thì chúng ta cũng dễ mắc vào cạm bẫy của Trung Quốc, sẽ đưa chúng ta vào một ván bài mà họ đã sắp sẵn hòng đạt được ý đồ chiếm đến trên 80% diện tích Biển Đông; 

Trước mắt là họ muốn biến yêu sách “đường lưỡi bò” vô lý trở thành yêu sách chính thức với sự chấp thuận của các bên tranh chấp trong Biển Đông. 

Nếu được như vậy, Trung Quốc đã “biến hóa” một yêu sách đơn phương vô lý, hoang tưởng, thiếu cơ sở, trở thành một yêu sách được các bên mặc nhiên thừa nhận. 

Nếu không cảnh giác và tỉnh táo trong khi phát biểu, đàm phán, thỏa thuận với Trung Quốc thì dễ mắc cạm bẫy của Bắc Kinh. Từ đó, họ sẽ khai thác những sơ hở có thể xảy ra trong bất kỳ một diễn đàn nào để kiên trì đòi chấp thuận yêu sách vô lý của mình.  

Mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi tiếp phần 2: Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Ts Trần Công Trục
Cập nhật ngày Thứ ba, 23 Tháng 5 2017 17:02

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL