Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

forcefetish.net

Thursday, Jun 29th

Last update04:16:08 PM GMT

You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế

Email In PDF.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước của lãnh đạo Trung Quốc đến Mỹ vào cuối tháng 9 năm 2015, tại cuộc họp báo chung với Barack Obama ở khuôn viên Toà Nhà trắng, Tập Cận Bình tuyên bố các đảo (thuộc hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Quốc từ ngàn xưa. Sau khi khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục những hoạt động trên Biển Đông, như luật pháp quốc tế cho phép, Tổng thống Obama khuyến khích các bên tranh chấp tìm kiếm giải pháp.[1]

 

Bài sau đây, trong loạt bài nghiên cứu Biển Đông của người viết, trước hết, xem xét một số vấn đề liên quan tới chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế, kế đến, bàn về yếu tố ảnh hưởng quá trình hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Pháp trong nửa đầu thế kỷ XX, và phương án khả thi cho tranh chấp biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc.[2]

 

1. Đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, và chủ quyền quốc gia

 

Đảo Phú Lâm, thuộc nhóm đảo An Vĩnh, nằm ở phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa, có tên quốc tế là Woody Island. Nó còn được biết với tên Ile Boisée dưới thời Pháp thuộc. Bộ đại từ điển do nhà địa dư học Hà Lan Jacobus Van Wijk Roelandszoon biên soạn, xuất bản năm 1821, là tư liệu phương Tây ghi rõ đảo Phú Lâm là của Việt Nam.[3] 

 

Khoảng đầu thập niên 1920, chính quyền Pháp ở Đông Dương thường xuyên cho tàu tuần hành khu vực Hoàng Sa, từng khám xét tàu Nhật chuyên chở phốt phát, khai thác từ đảo Phú Lâm. Tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Từ giữa đến cuối thập niên 1920, nhiều đoàn khảo sát người Pháp thực hiện nghiên cứu khoa học ở Hoàng Sa-Trường Sa, bao gồm đảo Phú Lâm.

 

Tháng 9 năm 1930, chính quyền Pháp chính thức thông báo chủ quyền Trường Sa đến các siêu cường. Tháng 2 năm 1932: Bộ Ngoại giao Pháp yêu cầu Bộ Quốc phòng Pháp chiếm hữu đảo ở Trường Sa. Tháng 3 năm 1932: Bộ Quốc phòng thông báo cho Bộ Ngoại giao kế hoạch chiếm hữu đảo tại khu vực không nguy hiểm, có thể tạm thời trú đóng. Do tình hình thời tiết, kế hoạch không xảy ra trước tháng 4 năm 1933, Kế hoạch bao gồm cả bản thảo cho tuyên bố sử dụng khi chiếm hữu đảo. Monique Chemillier-Gendreau, chuyên gia Pháp về luật pháp quốc tế, nhận định thông báo này có mục đích chính thức chiếm hữu toàn bộ quần đảo Trường Sa.[4]

 

Tháng 4 năm 1933: Bộ Quốc phòng hoàn thành kế hoạch chiếm hữu 6 đảo ở Trường Sa. Tháng 7 năm 1933: Sự chính thức chiếm hữu đăng trên Công báo (Journal officiel) Pháp. Anh công nhận chủ quyền của Pháp dù tàu Anh đã đến Trường Sa năm 1877. Tháng 8 năm 1940: Bộ Ngoại giao nêu lên sự thông báo chủ quyền Trường Sa đến các nước, sự chính thức chiếm hữu ở Trường Sa đăng trên Công báo, sự sáp nhập Trường Sa vào đơn vị hành chính ở Trung phần Việt Nam, sự công nhận của Anh, và cho biết Nhật là nước duy nhất phản đối hành xử chủ quyền của Pháp.[5]

 

Trong những năm đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp tiếp tục quản lý đảo Phú Lâm nói riêng và Hoàng Sa nói chung, cho đến khi bị quân đội Nhật ngăn chặn vào tháng 3 năm 1945. Pháp không có quân trú đóng ở Trường Sa nhưng khi hải quân Nhật gia tăng hoạt động tại Trường Sa, Pháp phản đối. Một lần nữa, Anh công nhận chủ quyền của Pháp. Để đánh dấu sự hiện diện, chính quyền Pháp đưa lực lượng dân vệ người Việt đến Trường Sa, trú đóng cạnh dân vệ của Nhật.[6]

 

Hội nghị quốc tế ở Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945 quyết định Nhật phải hoàn trả các vùng đất của Trung Hoa, bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh, cụ thể là Formosa, Pescadores, Manchuria. Dù tham dự cả hai hội nghị, Tưởng Giới Thạch không đòi chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Cuối năm 1946, quân đội Tưởng Giới Thạch bất ngờ đổ bộ lên Hoàng Sa-Trường Sa. Khi phát hiện sự hiện diện của quân Tưởng ở đảo Phú Lâm, Pháp phản đối. Chính quyền Tưởng bác bỏ đề nghị của Pháp đưa tranh chấp ra quốc tế giải quyết. Đầu năm 1950, sau khi nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa (CHNDTH) thành lập, quân Tưởng rút khỏi đảo Phú Lâm. Trong khi quân đội Pháp ở Đông Dương duy trì sự hiện diện ở đảo Hoàng Sa (tên quốc tế là Pattle Island), Pháp không gửi quân đến đảo Phú Lâm.[7]

 

Tháng 10 năm 1950, lễ bàn giao quyền kiểm soát Hoàng Sa giữa Pháp và Việt Nam xảy ra. Tổng trấn Trung phần Việt Nam Phan Văn Giáo chủ trì lễ bàn giao. Không có lễ bàn giao quyền kiểm soát Trường Sa giữa Pháp và Việt Nam vì không có chứng cứ quân đội Pháp hiện diện ở Trường Sa vào thời điểm đấy.[8]

 

Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa ở nửa đầu thế kỷ XX:

 

1.1  Nhật Bản:

Là cường quốc châu Á, Nhật theo đuổi chủ trương bành trướng từ thập niên 1890, gây chiến tranh với Trung Hoa năm 1894, với Nga năm 1905, chiếm đóng Formosa, Pescadores, đảo Sakhalin. Trong thập niên 1920, phe quân sự Nhật, có tinh thần cực đoan, thắng thế. Nhật dùng vũ lực chiếm đóng Manchuria năm 1931, xâm lược miền Đông Trung Hoa năm 1937-1938, tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai cuối năm 1940. Nhật tuyên bố đầu hàng khối đồng minh tháng 8 năm 1945 sau khi bị Mỹ ném hai quả bom nguyên tử.[9]

 

1.2  Chiến tranh Đông Dương:

Vào đầu thập niên 1950, cuộc chiến tranh chống Pháp ở Việt Nam đi vào thời kỳ mới. Pháp cần Mỹ giúp đỡ sau khi có sự thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu, sự gia tăng nguồn viện trợ từ khối cộng sản, sự lớn mạnh trong phong trào chống chiến tranh Đông Dương ở Pháp, sự thất bại quân sự của Pháp trong Chiến dịch Biên giới, v.v. Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Mỹ gửi 23,3 triệu dollars viện trợ cho Pháp. Đến năm 1954, Mỹ hỗ trợ khoảng 75% ngân sách chiến tranh Đông Dương của Pháp.[10]

 

Từ đầu thập niên 1920, đối diện với tham vọng bành trướng của Nhật ở châu Á, Pháp hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa để ngăn chặn bước tiến của Nhật. Từ cuối thập niên 1940 đến giữa thập niên 1950, do mối đe dọa của Nhật không còn, do mức độ khốc liệt trong chiến tranh Đông Dương gia tăng, do thiếu hụt ngân sách, Pháp giảm thiểu quan tâm về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa.

 

Tháng 9 năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam (QGVN) Trần Văn Hữu tuyên bố Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Việt Nam. Các nước tham dự hội nghị không phản đối tuyên bố của Việt Nam. QGVN, cùng 47 nước khác, bao gồm Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, v.v. ký Hiệp ước Hoà bình. Theo Hiệp ước, Nhật từ bỏ mọi quyền và yêu sách chủ quyền của Nhật ở Hoàng Sa-Trường Sa.[11]

 

Tháng 7 năm 1954, Hội nghị Geneva kết thúc, chính thức công nhận nền độc lập của Việt Nam. Việt Nam chia đôi. QGVN (sau là Việt Nam Cộng hoà) được quyền quản lý Hoàng Sa-Trường Sa. Nỗ lực củng cố quyền hành của chính quyền Ngô Đình Diệm và mở rộng vai trò của Mỹ đưa đến áp lực khiến quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam cuối tháng 4 năm 1956, trước thời hạn quy định trong Hiệp ước Geneva.[12]

 

Dù Mỹ cho Pháp biết quan tâm của họ về vị thế chiến lược của Hoàng Sa, chính quyền Pháp không có phản ứng thích hợp. Nắm lấy thời cơ, tháng 12 năm 1955, Trung Quốc bắt đầu đưa quân xâm nhập đảo Phú Lâm. Cuối tháng 2 năm 1956, tàu tuần tra Pháp đi gần đảo Phú Lâm, phát hiện quân Trung Quốc đang xây dựng công sự, thiết lập sự chiếm đóng bất hợp pháp.[13]

 

Trước đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Trung Quốc, vào đầu tháng 6 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao QGVN lên tiếng khẳng định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, như thông báo ở Hội nghị San Francisco năm 1951. Cho đến thời điểm bị quân đội Trung Quốc chiếm đóng vào đầu năm 1956, Việt Nam hành xử chủ quyền ở đảo Phú Lâm nói riêng và ở Hoàng Sa-Trường Sa nói chung, theo đúng Định ước Berlin năm 1885 và luật pháp quốc tế.

 

Không ngừng ở khu vực đảo Phú Lâm, lần lượt vào tháng 1 năm 1974 và tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng phần đảo còn lại của Hoàng Sa và 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hòa và 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.[14]

 

2. Chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế 

 

2.1 Có thế bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng phản đối xâm phạm chủ quyền và khẳng định chủ quyền không ?

 

Theo Nguyễn Quốc Định, chuyên gia Pháp gốc Việt về luật pháp quốc tế, phản đối ngoại giao và khẳng định chủ quyền trước hành động xâm phạm của nước khác là điều không thể thiếu. Nuno Sergio Marques Antunes, chuyên gia Bồ Đào Nha về tranh chấp hàng hải quốc tế, cũng nhấn mạnh vai trò của phương thức này trong nghiên cứu của ông.[15]

 

Tuy nhiên, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền sẽ không có giá trị nếu nó không được nối tiếp với một trong hai phương thức: tích cực giải quyết tranh chấp qua đàm phán hoà bình, hay qua sử dụng hệ thống toà án quốc tế. 

 

Trong hai vụ kiện, giữa Pháp và Anh năm 1953, giữa Nicaragua và Honduras năm 2007, Toà án Quốc tế (ICJ) phán xét rằng, do xem khẳng định chủ quyền, phản đối ngoại giao của Pháp, Nicaragua là không đầy đủ, ICJ đưa quyết định thuận lợi cho Anh, Honduras.[16] 

 

Trong tranh chấp quần đảo Falklands giữa Argentina và Anh, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền của Argentina không bảo vệ được chủ quyền quần đảo Falklands khi Argentina không tiến hành kiện Anh ra ICJ.[17]

 

2.2 Có nên để quá trình giải quyết tranh chấp chủ quyền kéo dài ?

 

Như đề cập ở trên, phản đối ngoại giao, khẳng định chủ quyền có giới hạn thời gian của nó. Kế đến, trong giải quyết tranh chấp giữa hai nước, khi cần thiết, ICJ sử dụng nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định”. ICJ có thể đưa quyết định thuận lợi cho nước đang chiếm giữ một vùng đất, vùng biển, mặc dù chủ quyền ban đầu không thiết lập rõ ràng, nhưng có hành xử thích hợp sau đấy.

 

Trong hai vụ kiện, giữa Norway và Sweden năm 1909, giữa Qatar và Bahrain năm 2001, nguyên tắc này là một trong những yếu tố khiến Sweden, Bahrain nhận được quyết định thuận lợi.[18] 

 

Theo M. Taylor Fravel, chuyên gia Mỹ về quan hệ quốc tế, từ khi CHNDTH thành lập năm 1949 cho đến nay, trong tổng số 23 cuộc tranh chấp lãnh thổ hay lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, Trung Quốc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán 17 lần và sử dụng vũ lực 6 lần. Trong đó, 3 lần sử dụng vũ lực là với Việt Nam: Tại Hoàng Sa năm 1974, khu vực biên giới cực Bắc năm 1979, và Trường Sa năm 1988. Ba lần còn lại là với Đài Loan, Ấn Độ và Liên Xô.[19]

 

Hiến chương Liên hiệp quốc có Chương I, Điều 2, Khoản 4, ngăn cấm thành viên của tổ chức Liên hiệp quốc đe doạ hay sử dụng vũ lực chống toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của thành viên khác. Hiến chương Liên hiệp quốc cũng có Chương VII, Điều 51, đề cập đến quyền tự vệ cá nhân hay quyền tự vệ tập thể khi thành viên bị tấn công vũ trang.[20]

 

Trong hơn 30 năm nay, học giả Trung Quốc và học giả phương Tây, như Wu Shicun, Marwyn Samuels, Greg Austin, v.v., trực tiếp hay gián tiếp, bóp méo hay làm lu mờ sự thật, khi đưa lập luận Trung Quốc thực hiện “quyền tự vệ” hay bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ” trong xung đột biển đảo với Việt Nam.[21]

 

Dù chưa có nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, về nguyên tắc “quieta non movere” và sự sử dụng vũ lực trong chiếm đóng, các quyết định của Toà án Quốc tế, giới hạn thời gian, tình trạng ổn định, và sự kiện Trung Quốc tích cực tạo hoả mù trong chứng cứ lịch sử và trong hành động chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa-Trường Sa, cho thấy sự bất lợi cho nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc gia tăng, khi tranh chấp kéo dài, không được giải quyết theo luật pháp quốc tế.[22]

 

2.3    Có cần thiết từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá nằm trong vùng đặc quyền kinh

tế (EEZ) của Philippines và Malaysia để giảm thiểu căng thẳng trong tranh chấp ?

 

Khái niệm EEZ trong Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS), được công nhận năm 1982, và có hiệu lực từ năm 1994, là về "quyền chủ quyền" của nước tiếp cận biển, không phải về công nhận chủ quyền của đảo, đá nằm trong EEZ của một nước.

 

Đảo, đá #123 nằm trong EEZ của nước A có thể thuộc chủ quyền của nước B hay thuộc tranh chấp chủ quyền giữa hai nước B và C. Nếu chứng cứ chủ quyền của A yếu hơn B và C, và nếu B đơn phương từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá  #123, trong khi C tiếp tục đòi hỏi, khi có phán xét, ICJ sẽ trao chủ quyền đảo, đá #123 cho C, không phải cho A.

 

Việt Nam hành xử chủ quyền ở Trường Sa trước Philippines và Malaysia. Do Trung Quốc cũng đòi chủ quyền Trường Sa, tranh chấp xảy ra. Từ hành xử chủ quyền trên 6 đảo, đá ở quần đảo Trường Sa đầu thập niên 1930, Việt Nam hiện hành xử chủ quyền ở 21 đảo, không kể 7 bãi đá ngầm bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng năm 1988. So với các nước có tranh chấp ở Trường Sa, Việt Nam có con số đảo, đá lớn nhất.[23] 

 

Quan hệ giữa Việt Nam với Philippines, và với Malaysia, trong bối cảnh Biển Đông, tiến triển tốt đẹp trong nhiều năm qua. Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về khu vực giữa EEZ của hai nước cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS)), theo đúng quy định của UNCLOS, năm 2009; Việt Nam và Philippines hỗ trợ cho nhau trong tranh chấp với Trung Quốc, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước vào tháng 11 năm 2015.[24]

 

Do đó, không cần thiết từ bỏ đòi hỏi chủ quyền đảo, đá nằm trong EEZ của Philippines và Malaysia vì không có căng thẳng trong tranh chấp giữa Việt Nam và hai nước này.

 

2.4 Không kiện Trung Quốc ra Toà án Quốc tế được vì Trung Quốc không hợp tác ?

 

Cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp trên đất liền hay trên biển giữa các nước là Toà án Quốc tế (ICJ), Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Toà án Trọng tài Đặc biệt theo Phụ lục VIII của UNCLOS. 

 

ICJ hiện hữu từ năm 1946; ba Toà án còn lại hình thành sau khi UNCLOS có hiệu lực năm 1994. ICJ và ITLOS đòi hỏi mọi bên trong tranh chấp đồng ý tham gia vào quá trình thưa kiện. 

 

Tuy nhiên, Điều 53 trong Quy chế của ICJ có nói rằng:

 

 1. Bất cứ khi nào một trong các bên không trình diện trước Tòa án, hoặc không bảo vệ trường hợp của họ, bên kia có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định theo hướng có lợi cho mình.

2. Trước khi thực hiện yêu cầu, Tòa án phải biết, không những là Toà án có thẩm quyền theo quy định ở các Điều 36 và 37, mà còn là vụ kiện có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý.[25]

 

Trong gần 70 năm qua, ICJ phán xét hơn 160 vụ kiện; Điều 53 được ICJ sử dụng 7 lần.[26]

 

Do tính chất quan trọng của vụ kiện và phạm vi giới hạn của bài, người viết tập trung vào một trong 7 trường hợp: Vụ kiện về “Những hoạt động quân sự và bán quân sự ở trong và chống Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, bắt đầu từ tháng 4 năm 1984.

 

Viện dẫn lý do là ICJ có khả năng vượt quá giới hạn và bị chính trị hoá, Mỹ từ chối tham gia. Dựa trên Điều 53, ICJ tiến hành vụ kiện và có quyết định thuận lợi cho Nicaragua cuối tháng 6 năm 1986.[27]

 

Trong hơn 20 năm qua, vụ kiện đưa đến những tác động tích cực, không chỉ cho Nicaragua và Mỹ mà còn cho các nước khác.

 

Đối với Nicaragua: 

Mặc dù không được Mỹ trực tiếp bồi thường thiệt hại quy định trong phán xét của ICJ, Nicaragua nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, có giá trị hàng trăm triệu dollars, khi quan hệ giữa hai nước cải thiện từ đầu thập niên 1990.[28]

 

Đối với Mỹ: 

Mỹ nhận thức đuợc mối lo ngại, khi từ chối tham gia vụ kiện, là ICJ sẽ bị chính trị hoá, không trở thành hiện thực. Dự đoán của Mỹ không chính xác. Phán xét trong vụ kiện khiến Mỹ phải thực hiện thay đổi trong chính sách và trong quyết định liên quan đến giải quyết tranh chấp.[29]

 

Đối với những nước khác: 

Trong hai thập niên 1960-1970, phán xét của ICJ trong các vụ kiện giữa Ethiopia-Nam Phi, Liberia-Nam Phi năm 1966, Namibia-Nam Phi năm 1971, v.v., khiến những nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á nhận định ICJ chưa đủ mạnh, chưa sẳn sàng để có quyết định đúng đắn, không thiên vị, về hành động sai trái của một số nước ở phương Tây hay thân phương Tây. 

 

Phán xét trong vụ kiện giữa Nicaragua-Mỹ cho thấy ICJ có thể đưa quyết định thuận lợi cho một nước nhỏ, yếu kém, chống một nước lớn, hùng mạnh hàng đầu thế giới. Kết quả là số nước đưa tranh chấp ra ICJ giải quyết gia tăng từ sau vụ kiện của Nicaragua.[30]

 

3. Giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc

 

3.1 Phương án giải quyết tranh chấp của Philippines

 

Sau gần 20 năm theo đuổi đàm phán hoà bình để giải quyết tranh chấp Trường Sa nhưng đối diện với lập trường ngang ngược của Trung Quốc, vào đầu năm 2013, Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS. Viện dẫn lý do về thẩm quyền của Toà án Trọng tài, Trung Quốc từ chối tham gia. 

 

Vào cuối tháng 10 năm 2015, Toà án Trọng tài khẳng định thẩm quyền của Toà án cho 7 trong 15 điểm trong hồ sơ kiện của Philippines và xem xét những điểm còn lại trong thời gian sau. Phán xét của Toà án đánh dấu thắng lợi đầu tiên cho Phillipines trong vụ kiện Trung Quốc.[31]

 

3.2 Nỗ lực thúc đẩy đàm phán hoà bình của Việt Nam

 

Vào cuối tháng 9 năm 1975, trong cuộc họp với lãnh đạo Trung Quốc, khi Bí thư Thứ nhất đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thừa nhận có tranh chấp và đề nghị hai nước thảo luận sau.[32]

 

Trong hơn ba tháng qua, tuyên bố của Tập Cận Bình về chủ quyền trên Biển Đông trong các chuyến thăm từ châu Mỹ sang châu Á cho thấy rất rõ một thực tế là, kể từ cuộc họp giữa lãnh đạo hai nước Việt-Trung năm 1975 cho đến nay, Trung Quốc dứt khoát gạt bỏ mọi thiện chí của Việt Nam để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa. Trung Quốc chủ trương duy trì một lập trường nhất quán trong hơn 40 năm: không đàm phán hoà bình với Việt Nam về Hoàng Sa-Trường Sa.[33]

 

3. 3 Phương án giải quyết tranh chấp của Việt Nam

 

Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền quốc gia của Việt Nam khi chiếm đóng bất hợp pháp đảo Phú Lâm năm 1956, sử dụng vũ lực ở Hoàng Sa năm 1974, ở Trường Sa năm 1988, hàng năm ngang nhiên tuyên bố lệnh cấm đánh cá trên vùng biển của Việt Nam, liên tục gây thiệt hại tài sản và ngay cả thiệt hại nhân mạng cho ngư dân Việt Nam. 

 

Trong 5 năm qua, Trung Quốc tích cực hoàn thiện hay xây dựng mới tổ chức hành chính, sân bay quân sự, quân cảng, hải đăng, v.v., ở Hoàng Sa-Trường Sa, cải tạo và tăng diện tích các bãi đá ngầm chiếm đóng bất hợp pháp ở Trường Sa thành đảo nhân tạo, ở tốc độ kỷ lục chưa từng có trong lịch sử.[34]

 

Kể từ khi Trung Quốc chính thức chiếm đóng đảo Phú Lâm đầu năm 1956 cho đến nay, tranh chấp Biển Đông hiện ở mức độ căng thẳng và khẩn trương cao nhất. So với các nước có tranh chấp trên Biển Đông, với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp, Việt Nam là nước bị thiệt hại lâu dài nhất, nặng nề nhất, trong tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

 

Cuối năm 2011, lần đầu tiên lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh trước Quốc hội sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam,“... năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974 Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự đang quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn - chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn - chính quyền Việt Nam cộng hòa lúc đó đã lên án hành động xâm chiếm này và đã đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp.”

 

Vào tháng 5 năm 2014, trong chuyến thăm Philippines, Thủ tướng khẳng định, “Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông ... Việt Nam chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế.”[35]

 

Vào tháng 11 năm 2015, khi gặp gỡ kiều bào Đức, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhắc lại lời dạy của vua Lê Thánh Tông, ““Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay, lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”

Ông cha chúng ta như thế, đến đời chúng ta cũng phải thế.”

 

Vào cùng tháng 11 năm 2015, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho biết là cử tri cả nước “đề nghị sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý để khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”.[36]

 

Sự kết hợp giữa ý chí, quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, với thực tế tình hình Biển Đông, và với các nghiên cứu về luật pháp quốc tế, cho thấy Việt Nam đang ở ngưỡng cửa của phương án: Kiện Trung Quốc ra hệ thống toà án quốc tế.

 

Khi sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề chủ quyền giữa hai nước, mà còn giúp tạo tin tưởng từ các nước phụ thuộc vào giao thông hàng hải ngang qua một khu vực với hơn 5.300 tỷ dollars mậu dịch quốc tế hàng năm. Cách hành xử như trên sẽ chứng minh mạnh mẽ rằng Việt Nam là nước tôn trọng luật pháp, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

 

Bên cạnh là cường quốc kinh tế hàng thứ hai và cường quốc quân sự hàng thứ ba trên toàn cầu, Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Quốc tế về Luật Biển. Trung Quốc luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi chủ quyền đảo, đá trên Biển Đông.

 

Nếu Trung Quốc muốn chứng minh họ tôn trọng luật pháp, có trách nhiệm, tương xứng với vị thế của nước họ, nếu Trung Quốc muốn thuyết phục quốc tế về chứng cứ chủ quyền của họ, phủ nhận vai trò mà Toà án Quốc tế hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay sẽ là hành động phản tác dụng nhất của Trung Quốc. Khi Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện, Điều 53 trong Quy chế của Toà án Quốc tế cho phép vụ kiện tiến hành khi có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý. Quyết định không thuận lợi cho Trung Quốc đưa đến cái giá phải trả có khả năng vượt khỏi mọi dự đoán của Trung Quốc.

 

Trong hơn 40 năm qua, do tham vọng bành trướng và lập trường ngang ngược cố hữu của Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc không được giải quyết qua đàm phán hoà bình. Nghiên cứu dựa trên phán xét của Toà án Quốc tế cho thấy cánh cửa sử dụng biện pháp pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ hoà bình trong khu vực quan trọng hàng đầu thế giới, không mở ra cho Việt Nam mãi mãi.

 

Thái Văn Cầu

 

Chú thích:

 

1. Obama, Xi, “Remarks by President Obama and President Xi of the People's Republic of China in Joint Press Conference”, 2015

https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2015/09/25/remarks-president-obama-and-president-xi-peoples-republic-china-joint

 

2. Thái Văn Cầu, “Quyền kế thừa của nhà nước và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa”, 2014

http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/hai-chien-hoang-sa/quyen-ke-thua-cua-nha-nuoc-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-5203.html

 

Cùng tác giả, “VN chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/183772/vn-chua-bao-gio-tu-bo-chu-quyen-o-hoang-sa.html

 

“Tự do hàng hải và Chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/199292/tu-do-hang-hai-va-chu-quyen-hoang-sa---truong-sa.html

 

“Luật pháp Quốc tế và Chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa”, 2014

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/luat-phap-quoc-te-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

 

“Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa”, 2013

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/hai-nha-nuoc-viet-nam-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

 

3. Bộ đại từ điển của nhà địa dư học Hà Lan Jacobus Van Wijk Roelandszoon gồm 11 cuốn, xuất bản trong hơn 20 năm, 1821-1842. Khi viết về Paracells (Hoàng Sa) trong phần chữ P, trang 862, có danh sách các đảo, bao gồm đảo Phú Lâm, tọa độ quần đảo Hoàng Sa, và nói rõ là Hoàng Sa thuộc Việt Nam.

 

4. Monique Chemillier-Gendreau, “La souverainete sur les archipels Paracels et Spratleys”, 1996, tr. 105-106, 244-246

 

5. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 247-249

 

6. John E. Dreifort, “Myopic Grandeur The Ambivalence of French Foreign Policy Toward the Far East, 1919-1945”, 1991, tr. 149-152

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 250

 

7. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 43

 

8. Chính Đạo, “Việt Nam Niên Biểu (1939-1975), (Tập B: 1947-1954), 1997, tr. 196

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 111

 

9. Timo Kivimäki, “War or Peace in the South China Sea?”, 2002, tr. 9-10

James Bowen, “Japan's territorial expansion in East Asia 1875-1930”, 2010

http://www.pacificwar.org.au/historicalbackground/JapExpansion.html

 

10. Fredrik Logevall, “Embers of War: The Fall of an Empire and the Making of America's Vietnam”, 2012, tr. 231

Bruce Palmer, “The 25-Year War: America's Military Role in Vietnam”, 1984, tr. 6

 

11. “Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan”, (I&II), 1951&1952, tr. I-261-263

 

12. Fredrik Logevall, sđd, tr. 224-229

 

13. Stein Tonnesson, “The South China Sea in the Age of European Decline”, 2006, tr. 29-30

Theo Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 45, Trung Quốc thiết lập sự chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm vào tháng 4 năm 1956, trong giai đoạn cuối của quân đội Pháp rời khỏi Việt Nam. Xem thêm Fredrik Logevall, sđd, tr. 650.

 

14. Special Vietnam Presse, No. 830, 2 Juin 1956

Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 119

Hong Thao Nguyen, “Vietnam's Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim”, 2012, tr. 188

 

15. Nguyen Quoc Dinh, “Droit international public”, 1975, tr. 331 

Nguyễn Quốc Định là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam trong chính quyền 

Bửu Lộc năm 1954, là chủ tịch và phó chủ tịch của UNCLOS I (1956) và UNCLOS II (1960)

Epsey Cooke Farrell, “The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea: An Analysis of Vietnamese Behavior within the Emerging International Oceans Regime”, 1998, tr. 43

Nuno Sergio Marques Antunes, “Estoppel, Acquiescence and Recognition in Boundary Dispute Settlement”, 2000

 

16.  Yong Zhou, “International Relations and Legal Cooperation in 

General Diplomacy and Consular Relations”, 2014, tr. 322

Toà án Quốc tế, “Minquiers and Ecrehos (France/United Kingdom)”, 1953

http://www.icj-cij.org/docket/index.php?sum=88&p1=3&p2=3&case=17&p3=5

 

Toà án Quốc tế, “Territorial and Maritime Dispute between Nicaragua and Honduras in the Caribbean Sea (Nicaragua v. Honduras)”, 2007

http://www.icj-cij.org/docket/?p1=3&p2=3&code=nh&case=120&k=14

 

17. Daniel K. Gibran, “The Falklands War: Britain versus the Past in the South Atlantic”, 2008, tr. 42-43 

 

18. Toà án Trọng tài Thường trực, “The Grisbadarna Case between Norway and Sweden Decided October 23, 1909”, 1909, tr. 130-132

http://dspace.hil.unb.ca:8180/bitstream/handle/1882/995/PhaseII_NL_Memorial_AnnexOfAuthorities_Volume1_Tab3.pdf?sequence=3

 

Toà án Quốc tế, “Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain)”, 2001, tr. 70-75

http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7027.pdf

 

19. M. Taylor Fravel, “Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China's Territorial Disputes”, 2008, tr. 46-47

 

20. “Charter of the United Nations”, 1945

https://www.un.org/en/documents/charter/index.shtml

 

“Hiến chương Liên hiệp quốc”, 1945

http://luatgialong.com.vn/upload/hien-chuong-lien-hop-quoc-nam-1945.pdf

 

21. Marwyn S. Samuels, “Contest for the South China Sea”, 1982, tr. 100-101

Greg Austin, “China's Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development”, 1998, tr. 73-77

Wu Shicun, “Solving Disputes for Regional Cooperation and Development in the South China Sea: A Chinese Perspective”, 2013, tr. 60

 

22. Toà án Quốc tế, “Dissenting Opinion of Judge Torres Bernárdez”, 2001, tr. 267-269

http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7047.pdf

 

23. Monique Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 155-156

 

24. “Việt Nam - Philippines lập quan hệ đối tác chiến lược”, 2015

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/viet-nam-philippines-lap-quan-he-doi-tac-chien-luoc-3313738.html

 

25. Statute of the Court, International Court of Justice

http://www.icj-cij.org/documents/?p1=4&p2=2

 

26. Andreas Zimmermann, Karin Oellers-Frahm, Christian Tomuschat, Christian J. Tams, “The Statute of the International Court of Justice: A Commentary”, 2006, tr. 1335

 

27. “Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United States of America)”, 1986

http://www.icj-cij.org/docket/?sum=367&p1=3&p2=3&case=70&p3=5

 

28. “House OKs $720 Million in Aid to Nicaragua, Panama: Congress: Senate Democrats are threatening to delay some funds. Bush wants action by Thursday.”, 1990

http://articles.latimes.com/1990-04-04/news/mn-697_1_senate-democrats

 

“U.S. Foreign Assistance to Latin America and the Caribbean: Recent Trends and FY2013 Appropriations”, 2012

https://www.fas.org/sgp/crs/row/R42582.pdf

 

29. Lori Damrosch, “The Impact of the Nicaragua Case on the Court and Its Role: Harmful, Helpful, or In Between?”, 2012

 

30. Lori Damrosch, sđd, tr. 140-143

 

31. Truong-Minh Vu & Trang Pham, “Who Will ‘Win’ in the Philippines’ South China Sea Case Against China?”, 2015

http://thediplomat.com/2015/08/who-will-win-in-the-philippines-south-china-sea-case-against-china/

 

Trưởng đoàn luật sư của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc là luật sư Mỹ Paul Reichler. Năm 1986, luật sư Reichler, ở tuổi 38, là luật sư chính trong vụ kiện về “Những hoạt động quân sự và bán quân sự ở trong và chống Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ”. Toà án Quốc tế xử Nicaragua thắng kiện, như đã nêu trong phần 2.4.

 

“Dũng sĩ giúp Philippines trong vụ kiện 'đường lưỡi bò'”

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/dung-si-giup-philippines-trong-vu-kien-duong-luoi-bo-3254868.html

 

“PH lawyer vs China: 'Giant slayer' who defeated US”, 2015

http://www.rappler.com/nation/98981-philippines-lawyer-china-paul-reichler-profile

 

“Companero Paul, of Harvard Law”, 1988

http://www.nytimes.com/1988/06/11/world/companero-paul-of-harvard-law.html

 

32. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN, “La Souverainete du Viet Nam sur les archipels Hoang Sa et Truong Sa”, 1979, tr. 55

 

33. “Sang Singapore, ông Tập Cận Bình: 'Các đảo ở Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại'”, 2015

http://thanhnien.vn/the-gioi/sang-singapore-ong-tap-can-binh-cac-dao-o-bien-dong-la-cua-trung-quoc-tu-thoi-co-dai-631112.html

 

“Xi Again Defends China’s Claim to South China Sea Islands”, 2015

http://www.nytimes.com/2015/11/08/world/asia/xi-jinping-china-south-china-sea-singapore.html?_r=0

 

34. “Trung Quốc xây dựng trái phép ở Hoàng Sa ra sao?”, 2015

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/trung-quoc-xay-dung-trai-phep-o-hoang-sa-ra-sao/734243.html

 

“Trung Quốc xây gì ở Trường Sa một năm qua”, 2015

http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/trung-quoc-xay-gi-o-truong-sa-mot-nam-qua-3258497.html

 

“Tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa”, 2015

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tau-trung-quoc-dam-chim-tau-ca-viet-nam-tai-hoang-sa-20150710153718199.htm

 

“Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá trên Biển Đông”, 2015

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/trung-quoc-don-phuong-cam-danh-bat-ca-tren-bien-dong-3219356.html

 

“TQ xây đường băng tại Gạc Ma: Phải kiện ra tòa quốc tế!”, 2014

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tinh-hinh-bien-dong-van-de-bien-dong/tq-xay-duong-bang-tai-gac-maphai-kien-ra-toa-quoc-te-3105404/

 

“Không thể có cái gọi là "thành phố Tam Sa”, 2012

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20120630/khong-the-co-cai-goi-la-thanh-pho-tam-sa/499532.html

 

“Tàu Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt Nam”, 2005

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tau-Trung-Quoc-ban-chet-ngu-dan-Viet-Nam/20367005/157/

 

35. “Toàn văn báo cáo giải trình và trả lời chất vấn trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng”, 2011

http://thutuong.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=15274

 

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời phỏng vấn các hãng thông tấn quốc tế”, 2014 

http://thutuong.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=21025#sthash.1vWeB3jQ.dpuf

 

36. “Chủ tịch nước xúc động với “tàu biển Đông” của kiều bào Đức”, 2015

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20151125/chu-tich-nuoc-xuc-dong-voi-tau-bien-dong-cua-kieu-bao-duc/1009063.html

 

“Cử tri đề nghị sớm khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”, 2015

http://vtc.vn/cu-tri-de-nghi-som-khoi-kien-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te.2.580983.htm

 

Giới nghiên cứu và nguyên lãnh đạo quân sự cũng có ý kiến về vấn đề kiện Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông, điển hình như:

 

Trung tuớng Nguyễn Quốc Thước, “TQ xây đường băng tại Gạc Ma: Phải kiện ra tòa quốc tế!”, 2014

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tinh-hinh-bien-dong-van-de-bien-dong/tq-xay-duong-bang-tai-gac-maphai-kien-ra-toa-quoc-te-3105404/

 

Trần Công Trục, “Không khởi kiện, Trung Quốc sẽ còn được đà lấn tới”, 2014

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Khong-khoi-kien-Trung-Quoc-se-con-duoc-da-lan-toi-post140709.gd

 

Đinh Kim Phúc, "Chuẩn Đô đốc Lê Kế Lâm: Gặp nhau thì nói tốt, hết gặp lại cho làm bậy", 2015

http://thanhnien.vn/thoi-su/chuan-do-doc-le-ke-lam-gap-nhau-thi-noi-tot-het-gap-lai-cho-lam-bay-639203.html

 

Hoàng Việt, “Biển Đông - Từ sự ngụy tạo chủ quyền đến vai trò của công pháp quốc tế”, 2015

http://motthegioi.vn/chuyen-hang-ngay/bien-dong-tu-su-nguy-tao-chu-quyen-den-vai-tro-cua-cong-phap-quoc-te-260358.html

 

Ngô Vĩnh Long, “Việt Nam nên kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế”, 2014

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/174731/-viet-nam-nen-kien-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te-.html

 

Dương Danh Huy, “Việt Nam cần kiện ra tòa quốc tế”, 2014

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/606498/viet-nam-can-kien-ra-toa-quoc-te.html

 

Thái Văn Cầu, “Hướng đi tới cho tranh chấp HS-TS”, 2011

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2011/12/111201_hoangsa_opinion.shtml

 

 

Việt Nam không đơn độc trên biển Đông

Email In PDF.

Ông Đàm Quang Minh, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, nhận định như vậy và cho rằng Việt Nam có cơ sở pháp lý với chủ quyền trên biển Đông

Ngư dân vẫn kiên trì ra khơi, đánh bắt trên vùng biển chủ quyền của VN. Ảnh: T. Kim

* Phóng viên:  Ông nhận xét gì trước việc Trung Quốc một mặt tỏ ra hung hăng tới mức dọa dùng sức mạnh quân sự để áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” nhưng mặt khác lại đòi Mỹ tránh xa tranh chấp trên Biển Đông?
- Ông Đàm Quang Minh: Các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đã xác nhận có những vùng tranh chấp trên khu vực biển Đông và cùng cam kết thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Tuy nhiên, Trung Quốc hiện đang đánh lạc hướng bằng tranh chấp với yêu sách “đường lưỡi bò” chín đoạn phi lý. Do không có cơ sở pháp lý theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) để đòi yêu sách “đường lưỡi bò” trên biển Đông nên Trung Quốc đã có những hành động gây hấn nhằm biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.
* Thưa ông, bước tiếp theo Trung Quốc sẽ làm gì?
- Trung Quốc hiện đang đưa mình vào thế khó khi tự tạo sức ép dư luận trong nước bằng cách đưa khái niệm mơ hồ về chủ quyền trên biển Đông. Họ muốn dân chúng Trung Quốc tin rằng Việt Nam, Philippines đang hưởng lợi hàng tỉ USD trên dầu mỏ tại khu vực tranh chấp gây dư luận rất xấu về hình ảnh Việt Nam và tạo nên làn sóng đòi sử dụng vũ lực. Trong khi đó, trên thực tế chưa có hoạt động kinh tế đáng kể nào trong khu vực tranh chấp. Nhiều người dân Trung Quốc đang hiểu nhầm và có một bộ phận thanh niên thực sự muốn gây chiến. Dư luận báo chí Trung Quốc vì vậy cũng bị ảnh hưởng. Cũng cần phải khẳng định rằng tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông là có thật khi họ đã tính toán, chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Vấn đề là ở chỗ họ thể hiện tham vọng này như thế nào mà thôi.
Ông nghĩ sao trước việc ngày càng có thêm nhiều nước phản đối Trung Quốc trong vấn đề biển Đông?
- Với yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đang đòi quyền sở hữu gần như toàn bộ biển Đông, chiếm quyền kiểm soát tài nguyên cũng như tuyến hàng hải quan trọng. Sức ép quốc tế đương nhiên sẽ tăng vì không quốc gia nào muốn xin ân huệ của Trung Quốc khi sử dụng vùng biển quốc tế này. ViệtNam trong trường hợp này cần phải tranh thủ sức mạnh từ cộng đồng quốc tế.
Ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) chuẩn bị ra khơi. Ảnh: T. Kim
Ông có đề xuất gì cho Việt Nam trong kết nối với ASEAN để đối phó với yêu sách của Trung Quốc?
- Tôi nghĩ rằng chúng ta cần thực hiện ba bước. Thứ nhất, vùng biển này ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh của nhiều quốc gia nên chắc chắn họ không thể đứng ngoài cuộc, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ. Vì vậy, Việt Nam không đơn độc nếu thể hiện thiện chí của mình. Nhanh chóng đạt được những thỏa thuận với các quốc gia ASEAN, Việt Nam sẽ tạo được thế đứng vững hơn.
Thứ hai, người dân Trung Quốc không được cung cấp đầy đủ thông tin đã gây sức ép không nhỏ cho giới truyền thông, Việt Nam hơn ai hết cần đưa ra những thông tin chính xác trên nhiều kênh để có thể đưa ra lẽ phải của mình, đặc biệt trên kênh tiếng Hoa và tiếng Anh. Việt Nam cũng cần tranh thủ được Việt Kiều và Hoa Kiều vốn có điều kiện tiếp xúc tốt hơn để đưa thông tin đến dân chúng Trung Quốc và thế giới.
Thứ ba, luôn sẵn sàng cho các tình huống xấu nhất để không bị động. Luôn cảnh giác và có chuẩn bị trước cho các diễn biến mới.
Khi cơ chế UNCLOS chưa phát huy hiệu quả trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam cần phải chuyển hướng ra sao để bảo vệ lợi ích của mình?
- Rõ ràng là Trung Quốc có sự tính toán khi đã đưa ra điều khoản bảo lưu quyền kiện Trung Quốc ra Tòa án về luật biển quốc tế (ITLOS) và hơn nữa, Trung Quốc cũng gây những ảnh hưởng nhất định để tổ chức này có được thẩm phán là người Trung Quốc. Vị thẩm phán này cũng không úp mở khi nói thẳng rằng "nếu không có tổ quốc tôi thì không được ngồi vào vị trí này". Như vậy, có thể nói Việt Nam khó dùng UNCLOS 1982 để kiện Trung Quốc và ITLOS cũng chưa chắc bảo đảm tính công minh để có thể tham gia. Nhưng dù sao UNCLOS 1982 hiện vẫn cần phải là căn cứ quan trọng để Việt Namtranh thủ sự ủng hộ của thế giới.
Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác có cơ hội lớn để đạt được những thỏa thuận quan trọng.Philippines gần đây và Malaysia trước đó đã có những quan điểm rất gần Việt Nam. Indonesia, Thái Lan và Campuchia thì đã phân định xong ranh giới trên biển với Việt Nam. Nếu ASEAN có thể xây dựng được vùng biển quốc tế chung để cùng phối hợp chống cướp biển, khủng bố và các hoạt động xâm lấn khác thì chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của cộng đồng thế giới và tạo ra được sức mạnh nội khối.
Viễn cảnh về khu vực ASEAN thống nhất cả trên bộ lẫn trên biển là một hình ảnh đẹp cần nỗ lực được xây dựng trên sự đoàn kết và quyền lợi chung. Biển Baltic của châu Âu cũng đã được phân chia một cách hòa bình cho dù lúc đó chưa ra đời Luật Biển quốc tế. Chúng ta cần học tập từ bài học đó.
Diệp Linh (thực hiện)
tho NLĐ
Cập nhật ngày Chủ nhật, 26 Tháng 6 2011 14:31

Đánh chận từ xa

Email In PDF.

LÊ VĨNH TRƯƠNG (Quỹ nghiên cứu Biển Đông)

“Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết” - câu nói này được cho là của Nhân Huệ Vương Khánh Dư viết tựa cho sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương.

Đánh chận từ xa
Tranh: Lê Thiết Cương

Nếu kẻ địch đến và xâm chiếm đất nước, tổ chức đánh đuổi chúng đi là việc đương nhiên của bất cứ ai là con dân Việt Nam. Nếu chúng đang lởn vởn hay lộ dã tâm từ nhiều đời sẽ có các cách tiếp cận, phòng thủ hoặc có thể tấn công như một cách phòng thủ.

Bày trận, đánh chận từ xa như một hoạt động vượt trên kẻ địch về thời gian, địa điểm, kỹ thuật, tổ chức chiến trường đã được các chiến lược gia như Carl von Clausewitz, Tôn Tử và Hưng Đạo Vương ghi lại dưới nhiều hình thức.

Đỉnh cao của quân sự là không cần phải để nổ ra chiến tranh mà vẫn đạt được lợi ích mong muốn, bất chiến tự nhiên thành. Cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cụ thể.

Ngạn ngữ Latin có câu: “Si vis pacem, para bellum” tức nếu muốn có hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh.

Cổ ngữ phương Đông ghi: “Cư an tư nguy, tư tắc hữu bị, hữu bị vô hoạn” (Sống trong thời bình an nghĩ về mối nguy, có ưu tư ắt phải có chuẩn bị, có chuẩn bị sẽ hạn chế hoạn nạn). Đại tướng Ngô Xuân Lịch gần đây cũng đề cập đến việc “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”.

Sống trong hòa bình nhưng luôn suy nghĩ, chuẩn bị giải pháp cho những mối nguy đang đến và giải trừ mối nguy ấy bằng các phương cách chính trị, ngoại giao, tình báo, sức mạnh mềm, luật pháp quốc tế và cả chiến tranh mạng (cyberwar).

Đánh chận từ xa bao gồm nhưng không giới hạn sức mạnh vũ trang bởi có nhiều phương cách khác như tư duy, cuộc bày trận thế, cách đánh, phát triển quan hệ, khoa học phòng thủ, tiến công nhờ vào sức mạnh công nghệ mới, cải tiến. Một hệ thống các cách công thủ không chỉ nhờ vào võ khí này sẽ bảo đảm hiệu quả hơn chỉ dựa vào phòng thủ thụ động.

Một cực khác của câu chuyện này là việc tránh né đề cập đến chiến tranh bởi các lý do đạo đức, tình đồng chí, chủ nghĩa nhân loại chung chung. Nhưng khi không bàn đến thì khó mà thực hiện hành động ngăn chận từ xa. Chủ nghĩa đà điểu chui đầu xuống cát để tránh né vấn đề đang có thể tìm thấy ở nhiều diễn đàn.

Công việc bày trận hay cài đặt các mối quan hệ đòi hỏi nhiều yếu tố. Trước tiên, bản thân cơ thể cần khỏe mạnh, có sức sống, có uy lực, có sự ủng hộ của nhiều tác nhân.

Thứ nhì là giải quyết các mối quan hệ liên minh, các quốc gia bàng quan hay thân với đối phương.

Thứ ba là hiểu biết về đối phương... Cơ thể ốm yếu, nội bộ lủng củng, kinh tế suy thoái chắc chắn sẽ làm công tác đánh chận khó có tác dụng cao. Gia tăng độ liên kết với các quan hệ bạn hữu, trung lập hóa các quan hệ thân kẻ địch và thuyết phục các quốc gia bàng quan thông qua nhiều loại diễn đàn.

Đánh chận bằng công cụ quân sự từng được Lý Thường Kiệt sử dụng trong cuộc chiến kháng Tống 1073, tấn công kho lương kẻ địch định sử dụng cho cuộc xâm lược Việt Nam, làm suy yếu thực lực của quân địch trước khi chiến sự nổ ra.

Chiến tranh đánh chận (pre-emptive war) cũng đã được tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố như một học thuyết vừa có tác dụng răn đe vừa có tác dụng tập hợp các đồng minh rời rạc và đưa chiến tranh ra xa nước Mỹ.

Các cuộc đánh chận bằng công cụ tình báo trước trận Xích Bích (năm 208 thời Tam Quốc, Trung Quốc) với nhiều mưu sĩ, tướng lĩnh của các bên Ngụy - Thục - Ngô tham gia cũng là những cuộc cài đặt quan hệ.

Và không phải ngẫu nhiên mà chương trình SDI của Mỹ đã bị Liên Xô phản ứng, bị cuốn theo và suy sụp vào đầu thập niên 1990. Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ - Nhật kết hợp với Đài Loan trong chương trình TMD (Theater Missile Defense) - một chiếc ô chống hỏa tiễn Trung Quốc hướng về Đài Loan - khiến Trung Quốc khiếp hãi. Đó là đánh chận.

Để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, đặc biệt tại khu vực Biển Đông Việt Nam, các vấn đề an ninh phi truyền thống cũng được giải quyết bằng các công cụ truyền thống và phi truyền thống. Mượn lực, mượn dịch vụ công cộng và sử dụng luật pháp quốc tế là một phần của cuộc đánh chận.

Nhân lực, tài năng, quyết tâm bảo vệ đất nước là những yếu tố tiên quyết để có được một thế trận đánh chận rộng khắp, vươn xa, cùng với nó là nhiều yếu tố mới cần được khai thác bởi những người Việt - dám - đánh - chận sắp đặt và thực hiện.■

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/20160224/danh-chan-tu-xa/1053313.html

Cần giải quyết trên cơ sở luật quốc tế

Email In PDF.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/06/110611_viet_china_sea_dispute.shtml?print=1

Nhân sự kiện Hải quân Việt Nam thông báo tập bắn đạn thật vào thứ Hai và thứ Ba tuần tới ở vùng biển Quảng Nam tiếp sau các diễn biến của hai vụ Trung Quốc bị Việt Nam cáo buộc cắt cáp của các tàu dân sự Bình Minh 02 và Viking2, BBC Việt ngữ đã có cuộc trao đổi với một trong các sáng lập viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, Tiến sĩ Dương Danh Huy.

Câu hỏi đầu tiên dành cho nhà nghiên cứu này là ông đánh giá ra sao về ý nghĩa thực của tuyên bố tập bắn đạn thật này trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông gia tăng hiện nay?

TS. Dương Danh Huy: Tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam có chủ ý gửi thông điệp bằng cuộc tập bắn này. Tuy nhiên, họ cũng rất thận trọng khi gửi thông điệp đó, vì vùng tập bắn chỉ cách bờ biển đất liền Việt Nam vài chục hải lý, trong khi các sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh và phá thiết bị địa chấn tàu Viking xảy ra cách bờ biển đất liền Việt Nam 120 hải lý và hơn, và Việt Nam khẳng định quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

BBC: Là một nhà nghiên cứu thường muốn đưa ra các ý kiến mang tính học thuật, nhằm tư vấn cho giới làm chính sách, ông có thất vọng khi vấn đề tranh chấp Biển Đông đi vào hướng xung đột và không thể nào giải quyết bằng đàm phán trên cơ sở lịch sử nữa như báo The Economist ở Anh vừa có bài nhận định?

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Tất nhiên chúng ta ai cũng thất vọng, nhưng hướng xung đột là điều chúng tôi và nhiều người đã dự đoán. Với một nước mạnh vượt trội các nước khác vốn đòi hỏi phần lớn Biển Đông một cách bất chấp luật quốc tế, thì xung đột sẽ gia tăng cho đến khi hoặc là các nước nhỏ chịu thua, hoặc là các nước nhỏ đứng cùng với nhau và được thế giới ủng hộ.

Báo Economist đã lầm ở một điểm, vì tranh chấp biển thì phải được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và những nguyên tắc của luật quốc tế trong UNCLOS chứ không phải cơ sở lịch sử.

Tuy nhiên báo Economist đúng ở điểm khó có thể giải quyết bằng đàm phán, vì chủ trương của Trung Quốc là Trung Quốc không đàm phán về chủ quyền, họ muốn "gác tranh chấp, cùng khai thác".

BBC: Sống ở Anh, nhóm Nghiên cứu Biển Đông của ông và các bạn đã làm gì để trao đổi tiếng nói về chủ đề này với giới học giả Trung Quốc, vì có vẻ như dư luận hai nước hoàn toàn không giao lưu, nên nguy cơ bùng phát xung đột có nhiều?

TS. Dương Danh Huy: Chúng tôi chưa có cơ hội để trao đổi với giới học giả Trung Quốc, nhưng chúng tôi đã đọc nhiều bài viết của họ. Nếu nói về "hai nước" thì Học viện Ngoại giao Việt Nam cũng có mời các học giả Trung Quốc đến dự hội thảo quốc tế ở Việt Nam.

Quan điểm của chúng tôi nói riêng và quan điểm của các học giả Việt Nam nói chung về vấn đề không gian biển rất phù hợp với quan điểm của các học giả quốc tế. Còn học giả Trung Quốc thì khác.

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên.

Lũng đoạn, bị động?

TBT Nguyễn Phú Trọng (phải)

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ĐCS tiếp đoàn đại biểu quân ủy Trung ương Trung Quốc tháng 4/2011.

 

BBC: Có ý kiến từ Việt Nam tin rằng các nhóm quyền lợi cao cấp lũng đoạn đường lối đối ngoại của Hà Nội nên hệ thống này hoàn toàn bị động thời gian qua trước một chiến lược sâu rộng của Bắc Kinh, ông nghĩ sao?

TS. Dương Danh Huy: Tôi không rành về các nhóm quyền lợi trong nội bộ Việt Nam và cũng không muốn đoán về nguyên nhân. Về hiện tượng thì tôi thấy Việt Nam đã thiếu tích cực, thiếu chủ động trong việc bảo vệ Biển Đông trong nhiều năm, ít nhất là đến năm 2007, khi Trung Quốc ép hãng BP rút ra khỏi vùng Mộc Tinh, Hải Thạch.

Sau đó Việt Nam ngày càng trở thành tích cực hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn bị hạn chế vì ba yếu tố. Thứ nhất, Việt Nam vẫn còn phải đuổi theo Trung Quốc, là nước đã đi trước trong chiến lược về Biển Đông.

Thứ nhì, Việt Nam nhỏ và nghèo hơn cho nên không có những phương tiện mà Trung Quốc có. Thứ ba, ít nhất là cho đến sự kiện tàu Bình Minh 2, chính phủ Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc bởi tiêu chí của họ là "cần giữ quan hệ tốt với Trung Quốc".

Theo tôi, ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

BBC: Vẫn theo The Economist thì "Quy tắc ứng xử Biển Đông" do Asean và Trung Quốc đồng ý hồi 2002, coi như đã không còn ý nghĩa gì nữa, nếu thế thì cơ sở để tranh cãi giữa các bên nay là gì?

Ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Quy tắc ứng xử đó đã có hạn chế ngay từ đầu. Thứ nhất, nó không có tính ràng buộc pháp lý. Thứ nhì, nó không xác định tranh chấp bao gồm những gì.

Thứ ba, nó thiếu tính cụ thể, thí dụ như nó nói các bên sẽ tự kiềm chế không có hành động làm tranh chấp leo thang hay phức tạp thêm, nhưng chỉ liệt kê cụ thể là không chiếm đóng thêm các cấu trúc địa chất, còn bao nhiêu loại hành động khác thì nó không liệt kê.

Về cơ sở để tranh cãi giữa các bên thì gần đây Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines dựa nhiều về (công ước biển) UNCLOS, còn Trung Quốc thì dựa vào cách khẳng định bằng ngôn ngữ và hành động rằng chủ quyền là "của Trung Quốc" và tỏ ra mập mờ về cơ sở.

BBC: Dư luận cả ở Trung Quốc và Việt Nam, nhất là trên các trang mạng hô hào tinh thần dân tộc chủ nghĩa có vẻ như gây sức ép lên chính giới hai nước, làm tình hình leo thang?

TS. Dương Danh Huy: Theo tôi nghĩ, lằn ranh phân biệt "dân tộc chủ nghĩa" và "sự công bằng" là "lý lẽ". Trong các sự kiện gần đây, tôi thấy phía Việt Nam đã đưa ra lý lẽ để nói rằng chủ quyền là "của Việt Nam", thí dụ như (công ước) UNCLOS, vùng đặc quyền kinh tế, (hải phận) 200 hải lý, không thuộc tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.

Phía bên kia Biển Đông, Phlippines cũng đã đưa ra lý lẽ tương tự. Còn phía Trung Quốc thì khẳng định chủ quyền vùng tranh chấp là "của Trung Quốc", nhưng không đưa ra lý lẽ.

BBC: Có bình luận tin rằng Philippines được Hoa Kỳ tin cậy và trao đổi nhiều thông tin hơn là Việt Nam về các bước đi của Trung Quốc, vì Việt Nam vẫn khác biệt với Hoa Kỳ về dân chủ và nhân quyền, theo ông điều này có đúng không, và hệ quả sẽ là gì?

TS. Dương Danh Huy: Tôi thấy không có hiện tượng để chứng minh cho quan điểm đó. Phlippines cũng bị động không kém gì Việt Nam.

Học giả Trung Quốc bị cô lập vì “không giống ai”

Email In PDF.

ThS Hoàng Việt

“Các bằng chứng mà phía Trung Quốc (TQ) viện dẫn chỉ là sự bịa đặt, nhằm thực hiện tham vọng quyền lực của họ mà thôi”, Bill Hayton tuyên bố tại Hội thảo Biển Đông lần thứ 7.

Hội thảo Biển Đông năm nay diễn ra trong một bối cảnh khá đặc biệt, thứ nhất đây cũng là đang trong thời điểm diễn ra hội nghị thượng đỉnh ASEAN và ASEAN đã thông qua Tuyên bố Kuala Lampua về thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN, điều này cho thấy sự lớn mạnh của ASEAN. Thứ hai, ngày 24/11/2015 cũng là ngày mà Toà trọng tài thường trực tiếp tục cuộc điều trần lần thứ hai để lắng nghe lập luận của các bên trong vụ Philipines kiện TQ.

Có ba vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều người trong hội thảo lần này, đó là “đường lưỡi bò”; vấn đề TQ phá huỷ, bồi lấp các rặng san hô để xây dựng thành các đảo nhân tạo cùng các tuyên bố và hành động tuần tra trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo này từ Hải quân Hoa Kỳ; và phán quyết đầu tiên của Toà trọng tài về vụ Philippines kiện TQ.

Biển Đông, Tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc, ASEAN, Ngụy tạo chứng cứ
Trung Quốc xây dựng trái phép trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: EPA.

Các học giả TQ luôn bị cô lập với những lập luận “không giống ai”. Những quan điểm cố hữu của họ như để bảo vệ cho “đường lưỡi bò” nhưng vì đường này đã tồn tại rất lâu trước khi UNCLOS có hiệu lực vì thế không thể áp dụng UNCLOS ở đây được. Quan điểm này không được các học giả quốc tế chấp nhận, vì đã coi thường nguyên tắc “rule of law” mà các quốc gia cần phải tuân thủ nếu muốn chấp nhận cùng tồn tại trong sân chơi chung của cả thế giới.

Học giả TQ Nong Hong trong bài tham luận của mình cho rằng, cần phải duy trì nguyên tắc về “quyền lịch sử” trong luật quốc tế, cho dù trong thực tế, cộng đồng quốc tế đã cất quy định về “quyền lịch sử” vào trong lịch sử.

Phản bác các quan điểm của phía TQ về “đường lưỡi bò”, Bill Hayton từ Anh Quốc đã chỉ ra rất rõ là “đường lưỡi bò” chỉ bắt đầu từ một bản đồ mơ hồ của tư nhân, và các cứ liệu lịch sử của TQ biện minh cho đường này chỉ là sự tưởng tượng, chứ chẳng có sự thật lịch sử nào cả, các bằng chứng mà phía TQ viện dẫn chỉ là sự bịa đặt, nhằm thực hiện tham vọng quyền lực của họ mà thôi.

Có lẽ, mập mờ trong các yêu sách của mình, để thực hiện một cách quyết đoán, cương quyết, giành những lợi thế trên thực địa, từ đó gia tăng ưu thế của mình trong tranh chấp, bất chấp mọi luật pháp hay dư luận chính là chiến lược của TQ tại Biển Đông.

Về vấn đề bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo, các học giả TQ lặp lại sự biện minh từ các quan chức TQ, cho rằng, bên vi phạm về xây đảo phải là từ Việt Nam, Philippines, chứ TQ không có lỗi trong việc xây dựng đảo này.

Phía TQ luôn mô tả rằng kẻ gây hấn trong cuộc chiến cân não và cơ bắp hiện nay tại Biển Đông chính là Mỹ. Theo cách nhìn của Bắc Kinh, Mỹ đang xâm phạm vùng biển TQ đã từ lâu coi là lãnh thổ. Hơn nữa, Mỹ thực hiện quyền tự do hàng hải trong khi thậm chí không tham gia vào Công ước Liên hợp quốc về luật biển hiện hành.

Các học giả cũng tranh luận về các Tuyên bố của Mỹ về việc tuần tra trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo mà TQ mới bồi lấp, xây dựng và trang bị các phương tiện quân sự trên đó. Việc tuần tra của phía Mỹ không vi phạm luật quốc tế, và phía Mỹ có vẻ khá tự tin khi tuyên bố điều này, tuy nhiên, hành động tuần tra của hải quân Hoa Kỳ dường như chỉ là “đi qua không gây hại” chứ không phải là tuần tra theo đúng nghĩa của nó.

Ngay trong nội bộ Hoa Kỳ cũng đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này, thậm chí, Chủ Tịch uỷ ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, Thượng nghị sĩ John McCain đã kêu gọi Lầu Năm Góc công khai làm rõ ý định pháp lý của cuộc tuần tra của nước này vào tháng 10 trong vùng 12 hải lý xung quanh đảo nhân tạo của TQ đã xây dựng ở Biển Đông.

Rõ ràng Mỹ có động cơ trong việc đưa tàu chiến đi qua quần đảo Trường Sa. Ngoài mục tiêu chính là bảo vệ quyền tự do hàng hàng hải, Mỹ cũng muốn phát đi thông điệp rằng Mỹ vẫn là một nhân tố chủ chốt tại khu vực Châu Á-TBD, đồng thời cũng nhằm củng cố lại lòng tin của các nước đồng minh trong khu vực vốn đang có tranh chấp Biển Đông với TQ.

Bằng cách làm này, Mỹ không trực tiếp thách thức chủ quyền của TQ- đây là một yếu tố rất quan trọng. Từ trước đến nay, Mỹ chưa từng can thiệp vào giải quyết tranh chấp xem vùng lãnh hải và quần đảo này thuộc về nước nào; Mỹ cũng chưa đứng về bên nào, ngay cả với các đồng minh. Điều này tạo ra một tình huống chấp nhận được với TQ, cho phép tiếp tục các kênh đàm phán ngoại giao.

Biển Đông, Tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc, ASEAN, Ngụy tạo chứng cứ
Hội thảo Biển Đông lần thứ 7. Ảnh: thanhnien.

Tình huống này cho thấy, cả TQ và Mỹ đều hết sức kiềm chế để tránh đụng độ nhau ở biển đông, các bên đều ra sức tranh thủ dư luận và sự ủng hộ quốc tế cho các hành động của mình cũng như cân nhắc các hành động nối tiếp trước sự đáp trả của đối phương để duy trì các lợi ích của mình thông qua vấn đề này.

Về vụ Philippines kiện TQ ngày 29/10/2015 Toà trọng tài đã công bố phán quyết đầu tiên về vụ kiện, trong đó khẳng định rõ thẩm quyền của Toà đối với tranh chấp mà Philippines nêu trong đơn khởi kiện gửi lên Toà hồi tháng 1/2013. điều này góp phần dập tắt các lập luận của phía TQ khi họ luôn tìm cách bác bỏ thẩm quyền của Toà trọng tài trong tranh chấp này.

Tuy nhiên, như học giả Batongbacal từ Philippines cảnh báo, đây chưa phải là chiến thắng, chỉ mới là thuận lợi bước đầu, mọi khả năng còn đang ở phía trước. Tuy nhiên, Philippines luôn tin tưởng họ sẽ chiến thắng, vì công lý vẫn còn trong luật pháp quốc tế.

Trước luật pháp quốc tế, không chỉ cứ là cường quốc thì sẽ thắng, mà các nước nhỏ sẽ dựa vào đó để bảo vệ các quyền lợi của mình.

Vụ kiện này cũng mở đường cho các quốc gia khác trực tiếp liên quan trong tranh chấp biển đông có thể đơn phương đưa những vấn đề liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ra Toà trọng tài tương tự để giải quyết.

Ông Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao - một trong các cơ quan chủ trì hội thảo, trong các phát biểu của mình luôn nhắc đến mục tiêu các bên trong tranh chấp Biển Đông cần ngồi xuống để ký kết bản COC, nhằm giảm thiểu các xung đột tiềm ẩn cũng như tiếp tục xây dựng niềm tin giữa các bên, nhằm biến Biển Đông thành một khu vực hoà bình thịnh vượng.

Nhưng làm thế nào để có thể làm được điều đó? vẫn là một câu hỏi mà chưa có ai có thể trả lời. Làm thế nào để lấy lại niềm tin khi niềm tin đã bị đổ vỡ? Khi các bên, đặc biệt là các cường quốc đều chỉ muốn lợi ích của riêng mình, mà không cần nghĩ đến những tương lai xa xôi cho số phận của hàng triệu người dân sống trong khu vực này, cũng như lợi ích cho toàn thể cộng đồng thế giới, trước một khu vực giàu tài nguyên và tiềm năng phát triển như Biển Đông.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/275278/hoc-gia-trung-quoc-bi-co-lap-vi--khong-giong-ai-.html

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL