Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

forcefetish.net

Saturday, Aug 19th

Last update04:31:38 PM GMT

You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Thủ tướng Việt Nam đi Mỹ : Biển Đông sẽ là một chủ đề bàn luận

Email In PDF.
mediaThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc (G) và phu nhân tới Manila, Philippines, dự thượng đỉnh ASEAN, ngày 28/04/2017.Mohd RASFAN / AFP

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rời Hà Nội hôm nay, 29/05/2017 để bay sang Mỹ, bắt đầu chuyến công du tại Hoa Kỳ, mà đỉnh điểm sẽ là cuộc hội đàm với tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng, Washington hôm 31/05. Theo nhiều nhà phân tích, hai hồ sơ nổi bật trong chương trình nghị sự sẽ là Biển Đông và thương mại song phương.

Theo chương trình dự kiến, điểm dừng đầu tiên của thủ tướng Việt Nam là New York, nơi ông sẽ tiếp xúc với tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres và dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Yếu tố quan trọng nhất trong chuyến thăm Mỹ là cuộc hội đàm giữa ông Nguyễn Xuân Phúc với tân tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 31/05 tại Nhà Trắng. Thủ tướng Phúc sẽ là lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam tiếp xúc với tân tổng thống Mỹ từ ngày ông Trump nhậm chức.

Theo báo chí Việt Nam, trích nguồn tin bộ Ngoại Giao, hai lãnh đạo dự kiến sẽ hội đàm trong 90 phút về quan hệ song phương và hợp tác khu vực. Hai bên sẽ có họp báo chung sau cuộc gặp.

Trước ngày thủ tướng Việt Nam lên đường, các nhà quan sát cho rằng hai ông Nguyễn Xuân Phúc và Donald Trump sẽ bàn luận về vấn đề thương mại song phương, trong đó đáng chú ý là việc Mỹ nhập siêu mà ông Trump không tán đồng, và hồ sơ Biển Đông, với mong muốn của Việt Nam là Mỹ tiếp tục hiện diện trong khu vực.

 
 
 

Hồ sơ này đã lại thu hút sự quan tâm trong những ngày gần đây, với sự kiện lần đầu tiên từ ngày ông Trump nhậm chức, Mỹ đã phái chiến hạm đi sát Đá Vành Khăn, một hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp tại Trường Sa, và việc Hoa Kỳ bàn giao cho Việt Nam 6 xuồng tuần tra mới và một chiếc tàu tuần tra cỡ lớn lớp Hamilton đã qua sử dụng.

Trong một bài phân tích dài công bố hôm 27/05/2017 trên tạp chí Mỹ The National Interest, giáo sư Alexandre Vuving, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương đã ghi nhận tuyên bố hôm 20/05 vừa qua của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với Đại Diện Thương Mại Mỹ Robert Lighthizer là ông rất muốn Hoa Kỳ « tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực ». Đối với giáo sư Vuving, cách nay chỉ 5 năm thôi, một số lãnh đạo Việt Nam chỉ dám nghĩ như vậy, chứ không thể tuyên bố công khai như vậy.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170529-thu-tuong-viet-nam-di-my-bien-dong-se-la-mot-chu-de-ban-luan

Cần giải quyết trên cơ sở luật quốc tế

Email In PDF.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/06/110611_viet_china_sea_dispute.shtml?print=1

Nhân sự kiện Hải quân Việt Nam thông báo tập bắn đạn thật vào thứ Hai và thứ Ba tuần tới ở vùng biển Quảng Nam tiếp sau các diễn biến của hai vụ Trung Quốc bị Việt Nam cáo buộc cắt cáp của các tàu dân sự Bình Minh 02 và Viking2, BBC Việt ngữ đã có cuộc trao đổi với một trong các sáng lập viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, Tiến sĩ Dương Danh Huy.

Câu hỏi đầu tiên dành cho nhà nghiên cứu này là ông đánh giá ra sao về ý nghĩa thực của tuyên bố tập bắn đạn thật này trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông gia tăng hiện nay?

TS. Dương Danh Huy: Tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam có chủ ý gửi thông điệp bằng cuộc tập bắn này. Tuy nhiên, họ cũng rất thận trọng khi gửi thông điệp đó, vì vùng tập bắn chỉ cách bờ biển đất liền Việt Nam vài chục hải lý, trong khi các sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh và phá thiết bị địa chấn tàu Viking xảy ra cách bờ biển đất liền Việt Nam 120 hải lý và hơn, và Việt Nam khẳng định quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

BBC: Là một nhà nghiên cứu thường muốn đưa ra các ý kiến mang tính học thuật, nhằm tư vấn cho giới làm chính sách, ông có thất vọng khi vấn đề tranh chấp Biển Đông đi vào hướng xung đột và không thể nào giải quyết bằng đàm phán trên cơ sở lịch sử nữa như báo The Economist ở Anh vừa có bài nhận định?

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Tất nhiên chúng ta ai cũng thất vọng, nhưng hướng xung đột là điều chúng tôi và nhiều người đã dự đoán. Với một nước mạnh vượt trội các nước khác vốn đòi hỏi phần lớn Biển Đông một cách bất chấp luật quốc tế, thì xung đột sẽ gia tăng cho đến khi hoặc là các nước nhỏ chịu thua, hoặc là các nước nhỏ đứng cùng với nhau và được thế giới ủng hộ.

Báo Economist đã lầm ở một điểm, vì tranh chấp biển thì phải được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và những nguyên tắc của luật quốc tế trong UNCLOS chứ không phải cơ sở lịch sử.

Tuy nhiên báo Economist đúng ở điểm khó có thể giải quyết bằng đàm phán, vì chủ trương của Trung Quốc là Trung Quốc không đàm phán về chủ quyền, họ muốn "gác tranh chấp, cùng khai thác".

BBC: Sống ở Anh, nhóm Nghiên cứu Biển Đông của ông và các bạn đã làm gì để trao đổi tiếng nói về chủ đề này với giới học giả Trung Quốc, vì có vẻ như dư luận hai nước hoàn toàn không giao lưu, nên nguy cơ bùng phát xung đột có nhiều?

TS. Dương Danh Huy: Chúng tôi chưa có cơ hội để trao đổi với giới học giả Trung Quốc, nhưng chúng tôi đã đọc nhiều bài viết của họ. Nếu nói về "hai nước" thì Học viện Ngoại giao Việt Nam cũng có mời các học giả Trung Quốc đến dự hội thảo quốc tế ở Việt Nam.

Quan điểm của chúng tôi nói riêng và quan điểm của các học giả Việt Nam nói chung về vấn đề không gian biển rất phù hợp với quan điểm của các học giả quốc tế. Còn học giả Trung Quốc thì khác.

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên.

Lũng đoạn, bị động?

TBT Nguyễn Phú Trọng (phải)

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ĐCS tiếp đoàn đại biểu quân ủy Trung ương Trung Quốc tháng 4/2011.

 

BBC: Có ý kiến từ Việt Nam tin rằng các nhóm quyền lợi cao cấp lũng đoạn đường lối đối ngoại của Hà Nội nên hệ thống này hoàn toàn bị động thời gian qua trước một chiến lược sâu rộng của Bắc Kinh, ông nghĩ sao?

TS. Dương Danh Huy: Tôi không rành về các nhóm quyền lợi trong nội bộ Việt Nam và cũng không muốn đoán về nguyên nhân. Về hiện tượng thì tôi thấy Việt Nam đã thiếu tích cực, thiếu chủ động trong việc bảo vệ Biển Đông trong nhiều năm, ít nhất là đến năm 2007, khi Trung Quốc ép hãng BP rút ra khỏi vùng Mộc Tinh, Hải Thạch.

Sau đó Việt Nam ngày càng trở thành tích cực hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn bị hạn chế vì ba yếu tố. Thứ nhất, Việt Nam vẫn còn phải đuổi theo Trung Quốc, là nước đã đi trước trong chiến lược về Biển Đông.

Thứ nhì, Việt Nam nhỏ và nghèo hơn cho nên không có những phương tiện mà Trung Quốc có. Thứ ba, ít nhất là cho đến sự kiện tàu Bình Minh 2, chính phủ Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc bởi tiêu chí của họ là "cần giữ quan hệ tốt với Trung Quốc".

Theo tôi, ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

BBC: Vẫn theo The Economist thì "Quy tắc ứng xử Biển Đông" do Asean và Trung Quốc đồng ý hồi 2002, coi như đã không còn ý nghĩa gì nữa, nếu thế thì cơ sở để tranh cãi giữa các bên nay là gì?

Ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Quy tắc ứng xử đó đã có hạn chế ngay từ đầu. Thứ nhất, nó không có tính ràng buộc pháp lý. Thứ nhì, nó không xác định tranh chấp bao gồm những gì.

Thứ ba, nó thiếu tính cụ thể, thí dụ như nó nói các bên sẽ tự kiềm chế không có hành động làm tranh chấp leo thang hay phức tạp thêm, nhưng chỉ liệt kê cụ thể là không chiếm đóng thêm các cấu trúc địa chất, còn bao nhiêu loại hành động khác thì nó không liệt kê.

Về cơ sở để tranh cãi giữa các bên thì gần đây Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines dựa nhiều về (công ước biển) UNCLOS, còn Trung Quốc thì dựa vào cách khẳng định bằng ngôn ngữ và hành động rằng chủ quyền là "của Trung Quốc" và tỏ ra mập mờ về cơ sở.

BBC: Dư luận cả ở Trung Quốc và Việt Nam, nhất là trên các trang mạng hô hào tinh thần dân tộc chủ nghĩa có vẻ như gây sức ép lên chính giới hai nước, làm tình hình leo thang?

TS. Dương Danh Huy: Theo tôi nghĩ, lằn ranh phân biệt "dân tộc chủ nghĩa" và "sự công bằng" là "lý lẽ". Trong các sự kiện gần đây, tôi thấy phía Việt Nam đã đưa ra lý lẽ để nói rằng chủ quyền là "của Việt Nam", thí dụ như (công ước) UNCLOS, vùng đặc quyền kinh tế, (hải phận) 200 hải lý, không thuộc tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.

Phía bên kia Biển Đông, Phlippines cũng đã đưa ra lý lẽ tương tự. Còn phía Trung Quốc thì khẳng định chủ quyền vùng tranh chấp là "của Trung Quốc", nhưng không đưa ra lý lẽ.

BBC: Có bình luận tin rằng Philippines được Hoa Kỳ tin cậy và trao đổi nhiều thông tin hơn là Việt Nam về các bước đi của Trung Quốc, vì Việt Nam vẫn khác biệt với Hoa Kỳ về dân chủ và nhân quyền, theo ông điều này có đúng không, và hệ quả sẽ là gì?

TS. Dương Danh Huy: Tôi thấy không có hiện tượng để chứng minh cho quan điểm đó. Phlippines cũng bị động không kém gì Việt Nam.

Học giả Trung Quốc bị cô lập vì “không giống ai”

Email In PDF.

ThS Hoàng Việt

“Các bằng chứng mà phía Trung Quốc (TQ) viện dẫn chỉ là sự bịa đặt, nhằm thực hiện tham vọng quyền lực của họ mà thôi”, Bill Hayton tuyên bố tại Hội thảo Biển Đông lần thứ 7.

Hội thảo Biển Đông năm nay diễn ra trong một bối cảnh khá đặc biệt, thứ nhất đây cũng là đang trong thời điểm diễn ra hội nghị thượng đỉnh ASEAN và ASEAN đã thông qua Tuyên bố Kuala Lampua về thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN, điều này cho thấy sự lớn mạnh của ASEAN. Thứ hai, ngày 24/11/2015 cũng là ngày mà Toà trọng tài thường trực tiếp tục cuộc điều trần lần thứ hai để lắng nghe lập luận của các bên trong vụ Philipines kiện TQ.

Có ba vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều người trong hội thảo lần này, đó là “đường lưỡi bò”; vấn đề TQ phá huỷ, bồi lấp các rặng san hô để xây dựng thành các đảo nhân tạo cùng các tuyên bố và hành động tuần tra trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo này từ Hải quân Hoa Kỳ; và phán quyết đầu tiên của Toà trọng tài về vụ Philippines kiện TQ.

Biển Đông, Tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc, ASEAN, Ngụy tạo chứng cứ
Trung Quốc xây dựng trái phép trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: EPA.

Các học giả TQ luôn bị cô lập với những lập luận “không giống ai”. Những quan điểm cố hữu của họ như để bảo vệ cho “đường lưỡi bò” nhưng vì đường này đã tồn tại rất lâu trước khi UNCLOS có hiệu lực vì thế không thể áp dụng UNCLOS ở đây được. Quan điểm này không được các học giả quốc tế chấp nhận, vì đã coi thường nguyên tắc “rule of law” mà các quốc gia cần phải tuân thủ nếu muốn chấp nhận cùng tồn tại trong sân chơi chung của cả thế giới.

Học giả TQ Nong Hong trong bài tham luận của mình cho rằng, cần phải duy trì nguyên tắc về “quyền lịch sử” trong luật quốc tế, cho dù trong thực tế, cộng đồng quốc tế đã cất quy định về “quyền lịch sử” vào trong lịch sử.

Phản bác các quan điểm của phía TQ về “đường lưỡi bò”, Bill Hayton từ Anh Quốc đã chỉ ra rất rõ là “đường lưỡi bò” chỉ bắt đầu từ một bản đồ mơ hồ của tư nhân, và các cứ liệu lịch sử của TQ biện minh cho đường này chỉ là sự tưởng tượng, chứ chẳng có sự thật lịch sử nào cả, các bằng chứng mà phía TQ viện dẫn chỉ là sự bịa đặt, nhằm thực hiện tham vọng quyền lực của họ mà thôi.

Có lẽ, mập mờ trong các yêu sách của mình, để thực hiện một cách quyết đoán, cương quyết, giành những lợi thế trên thực địa, từ đó gia tăng ưu thế của mình trong tranh chấp, bất chấp mọi luật pháp hay dư luận chính là chiến lược của TQ tại Biển Đông.

Về vấn đề bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo, các học giả TQ lặp lại sự biện minh từ các quan chức TQ, cho rằng, bên vi phạm về xây đảo phải là từ Việt Nam, Philippines, chứ TQ không có lỗi trong việc xây dựng đảo này.

Phía TQ luôn mô tả rằng kẻ gây hấn trong cuộc chiến cân não và cơ bắp hiện nay tại Biển Đông chính là Mỹ. Theo cách nhìn của Bắc Kinh, Mỹ đang xâm phạm vùng biển TQ đã từ lâu coi là lãnh thổ. Hơn nữa, Mỹ thực hiện quyền tự do hàng hải trong khi thậm chí không tham gia vào Công ước Liên hợp quốc về luật biển hiện hành.

Các học giả cũng tranh luận về các Tuyên bố của Mỹ về việc tuần tra trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo mà TQ mới bồi lấp, xây dựng và trang bị các phương tiện quân sự trên đó. Việc tuần tra của phía Mỹ không vi phạm luật quốc tế, và phía Mỹ có vẻ khá tự tin khi tuyên bố điều này, tuy nhiên, hành động tuần tra của hải quân Hoa Kỳ dường như chỉ là “đi qua không gây hại” chứ không phải là tuần tra theo đúng nghĩa của nó.

Ngay trong nội bộ Hoa Kỳ cũng đã tranh luận rất nhiều về vấn đề này, thậm chí, Chủ Tịch uỷ ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, Thượng nghị sĩ John McCain đã kêu gọi Lầu Năm Góc công khai làm rõ ý định pháp lý của cuộc tuần tra của nước này vào tháng 10 trong vùng 12 hải lý xung quanh đảo nhân tạo của TQ đã xây dựng ở Biển Đông.

Rõ ràng Mỹ có động cơ trong việc đưa tàu chiến đi qua quần đảo Trường Sa. Ngoài mục tiêu chính là bảo vệ quyền tự do hàng hàng hải, Mỹ cũng muốn phát đi thông điệp rằng Mỹ vẫn là một nhân tố chủ chốt tại khu vực Châu Á-TBD, đồng thời cũng nhằm củng cố lại lòng tin của các nước đồng minh trong khu vực vốn đang có tranh chấp Biển Đông với TQ.

Bằng cách làm này, Mỹ không trực tiếp thách thức chủ quyền của TQ- đây là một yếu tố rất quan trọng. Từ trước đến nay, Mỹ chưa từng can thiệp vào giải quyết tranh chấp xem vùng lãnh hải và quần đảo này thuộc về nước nào; Mỹ cũng chưa đứng về bên nào, ngay cả với các đồng minh. Điều này tạo ra một tình huống chấp nhận được với TQ, cho phép tiếp tục các kênh đàm phán ngoại giao.

Biển Đông, Tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc, ASEAN, Ngụy tạo chứng cứ
Hội thảo Biển Đông lần thứ 7. Ảnh: thanhnien.

Tình huống này cho thấy, cả TQ và Mỹ đều hết sức kiềm chế để tránh đụng độ nhau ở biển đông, các bên đều ra sức tranh thủ dư luận và sự ủng hộ quốc tế cho các hành động của mình cũng như cân nhắc các hành động nối tiếp trước sự đáp trả của đối phương để duy trì các lợi ích của mình thông qua vấn đề này.

Về vụ Philippines kiện TQ ngày 29/10/2015 Toà trọng tài đã công bố phán quyết đầu tiên về vụ kiện, trong đó khẳng định rõ thẩm quyền của Toà đối với tranh chấp mà Philippines nêu trong đơn khởi kiện gửi lên Toà hồi tháng 1/2013. điều này góp phần dập tắt các lập luận của phía TQ khi họ luôn tìm cách bác bỏ thẩm quyền của Toà trọng tài trong tranh chấp này.

Tuy nhiên, như học giả Batongbacal từ Philippines cảnh báo, đây chưa phải là chiến thắng, chỉ mới là thuận lợi bước đầu, mọi khả năng còn đang ở phía trước. Tuy nhiên, Philippines luôn tin tưởng họ sẽ chiến thắng, vì công lý vẫn còn trong luật pháp quốc tế.

Trước luật pháp quốc tế, không chỉ cứ là cường quốc thì sẽ thắng, mà các nước nhỏ sẽ dựa vào đó để bảo vệ các quyền lợi của mình.

Vụ kiện này cũng mở đường cho các quốc gia khác trực tiếp liên quan trong tranh chấp biển đông có thể đơn phương đưa những vấn đề liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ra Toà trọng tài tương tự để giải quyết.

Ông Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao - một trong các cơ quan chủ trì hội thảo, trong các phát biểu của mình luôn nhắc đến mục tiêu các bên trong tranh chấp Biển Đông cần ngồi xuống để ký kết bản COC, nhằm giảm thiểu các xung đột tiềm ẩn cũng như tiếp tục xây dựng niềm tin giữa các bên, nhằm biến Biển Đông thành một khu vực hoà bình thịnh vượng.

Nhưng làm thế nào để có thể làm được điều đó? vẫn là một câu hỏi mà chưa có ai có thể trả lời. Làm thế nào để lấy lại niềm tin khi niềm tin đã bị đổ vỡ? Khi các bên, đặc biệt là các cường quốc đều chỉ muốn lợi ích của riêng mình, mà không cần nghĩ đến những tương lai xa xôi cho số phận của hàng triệu người dân sống trong khu vực này, cũng như lợi ích cho toàn thể cộng đồng thế giới, trước một khu vực giàu tài nguyên và tiềm năng phát triển như Biển Đông.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/275278/hoc-gia-trung-quoc-bi-co-lap-vi--khong-giong-ai-.html

Phải ngăn chặn sự xâm lấn biển Đông

Email In PDF.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/440464/Phai-ngan-chan-su-xam-lan-bien-Dong.html

TT - Từng nhiều lần đặt chân đến Trường Sa để nghiên cứu về tài nguyên biển, TS Dư Văn Toán - Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo (Bộ Tài nguyên - môi trường) - cho rằng chúng ta cần có những biện pháp đồng bộ và quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu VN là một quốc gia mạnh vì đảo, giàu vì biển.

 

Tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Việt Nam (ảnh chụp vào tháng 4-2011) - Ảnh: Quỳnh Ngọc

 

TS Dư Văn Toán - Ảnh: Đ.Bình
* Ông từng đề xuất tăng gấp 10 lần diện tích các khu vực biển cần được bảo vệ bảo tồn?

- Chúng tôi đề xuất Nhà nước cần sớm xây dựng cơ chế chính sách, pháp luật đồng bộ về bảo vệ tài nguyên môi trường biển. Một tổ chức cấp quốc gia thống nhất để quản lý và quy hoạch các khu bảo tồn - bảo vệ tài nguyên môi trường biển cần được thành lập. Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh việc mở rộng diện tích các khu biển của VN được bảo vệ, bảo tồn ít nhất lên 2% chứ không chỉ 0,2% như hiện nay, trong đó cập nhật bổ sung và đa dạng hóa các phương pháp tiếp cận mới như xây dựng “công viên biển”, “di sản biển”, “kỳ quan biển”, “vùng biển nhạy cảm cao”, “khu bảo tồn cá heo”, “khu bảo tồn san hô”, “khu cỏ biển”...

* Việc mở rộng vùng biển được bảo vệ có ý nghĩa thế nào với phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển - đảo VN?

- Những vùng được bảo vệ hiện nay rất nhỏ, gần các đảo, gần bờ và chỉ là những vùng lõi. Đây là những vùng cấm hoặc hạn chế khai thác nhằm bảo tồn tài nguyên và sự đa dạng sinh học biển. Việc mở rộng các vùng đệm với các quy định cụ thể về giới hạn khai thác sẽ giúp chúng ta khai thác tài nguyên thiên nhiên theo hướng lâu dài, bền vững, vừa mang lại nguồn lợi cho ngân sách, vừa đảm bảo sinh kế cho người dân. Ngoài việc khai thác nguồn lợi thủy sản, khoáng sản biển, chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn để phát triển du lịch, sinh thái và đa dạng hóa các hoạt động trên biển.

Các khu vực được bảo vệ một khi đã công bố sẽ mang tính quốc tế rộng rãi, sẽ được ghi trong danh mục các khu vực bảo tồn thiên nhiên thế giới và mọi hoạt động trên vùng biển đó đều phải thực hiện theo quy tắc chung. Chẳng hạn, tổ chức hàng hải quốc tế sẽ đánh dấu trên hải đồ là khu vực hạn chế hàng hải, khi đó các tàu bè đi trên đó phải chấp nhận quy tắc giao thông quốc tế chịu sự kiểm soát, giám sát của quốc gia có chủ quyền. Trên những vùng biển đó, Nhà nước sẽ dùng các công cụ giám sát và quản lý việc khai thác, người dân sẽ phải tuân thủ các quy định về việc khai thác và được bảo vệ bởi các lực lượng của Nhà nước. Đây cũng là cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc chủ quyền biển - đảo.

* Để tăng diện tích vùng biển được bảo vệ, chúng ta cần thêm những điều kiện gì?

- Trước hết phải tạo điều kiện để các nhà chuyên môn nghiên cứu, khảo sát về các vùng biển của mình, củng cố cứ liệu khoa học nhằm thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, công bố các dữ liệu, tiêu chí theo đúng quy định quốc tế. Cạnh đó, để kiểm soát được các vùng biển rộng hơn cần có lực lượng chuyên trách trên biển. Mỗi khu vực rộng hàng trăm kilômet vuông như vậy cần có các tàu bảo vệ, tàu giám sát...

Tôi ủng hộ thành lập hệ thống chuyên trách các tàu kiểm ngư hiện đại. Nên đầu tư khoảng 30 tàu công suất lớn, vì chúng ta có đường bờ biển trên 3.000km, mỗi 100km phải có một tàu trực, để kiểm soát toàn bộ khu vực biển này. Nếu vận tốc tàu là 50km/giờ thì trong vòng một giờ các tàu kiểm ngư đó sẽ hỗ trợ được cho ngư dân, ứng phó các tình huống xảy ra trên biển. Lực lượng chuyên trách đó sẽ kiểm soát và giám sát các hoạt động trên biển tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về khai thác, đi lại trên biển, ngăn chặn sự xâm hại các vùng biển được bảo vệ.

Tôi cũng mong Nhà nước hỗ trợ nhiều hơn cho ngư dân như phương tiện liên lạc, thông báo. Nhất là sự liên lạc giữa hải quân và ngư dân, định hướng cho ngư dân hoạt động an toàn trên các vùng biển và kịp thời ứng phó trong những trường hợp khẩn cấp.

Tôi cũng chờ đợi một hành lang pháp lý vừa mạnh mẽ, vừa cụ thể cho biển đảo VN.

* Ông chờ đợi sự ra đời của Luật biển VN?

- Những người nghiên cứu như tôi sẽ xác định được các vùng đặc thù riêng và giá trị của từng vùng. Từ đó mới đưa ra được các đề xuất để khai thác, bảo vệ, phát triển... có hệ thống và mang tính khoa học. Khi đó chúng ta vừa có thể tăng thu ngân sách từ các hoạt động kinh tế biển vừa có điều kiện để hỗ trợ, bảo vệ ngư dân tốt hơn. Chẳng hạn nhiều nước quy định rõ các vùng biển phải đấu giá khai thác, bán quyền khai thác cá và trên các vùng biển đó Nhà nước bảo vệ những tổ chức, cá nhân, kể cả nhà đầu tư nước ngoài được cấp phép đánh bắt, khai thác hải sản.

Vụ kiện Phi-Trung và quyền lợi Việt Nam

Email In PDF.

Bộ Ngoại giao Philippines đưa thông tin Tòa Trọng Tài tại Den Haag tiến hành phiên điều trần chính phân xử vụ kiện Phi-Trung về Biển Đông ngày 24/11/2015.

Trước đó, ngày 29/10/2015 Tòa đã phán quyết về phiên điều trần sơ khởi của vụ kiện.

Phiên điều trần đó là bước đầu, qua đó Tòa xác định mình có thẩm quyền hay không, và hồ sơ của Philippines có thể thụ lý được hay không.

Trung Quốc cho rằng trả lời cho hai câu hỏi này đều là “Không”. Nếu trả lời đó đúng, hồ sơ của Philippines sẽ bị loại ngay từ bước này.

Nhưng, kết luận về phiên điều trần sơ khởi, Tòa đã bác bỏ quan điểm của Bắc Kinh và tuyên bố rằng trong 15 điểm Philippines đưa ra, Tòa có thẩm quyền để xử 7 điểm, trong đó có 2 điểm với điều kiện không có sự chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa, tương đương với điều kiện không có thực thể địa lý nào trong quần đảo Trường Sa được hưởng hai quy chế này.

Tòa cũng cho rằng vấn đề thẩm quyền của 7 điểm khác có thể có những yếu tố nằm ngoài phạm trù sơ khởi, do đó Tòa phải xem xét các điểm này trong phiên điều trần chính mới có thể kết luận về thẩm quyền.

Như vậy, Philippines đã chiến thắng gần như hoàn toàn trong bước đầu: Tòa sẽ tiến hành phiên điều trần chính để xét ít nhất 14 điểm trong hồ sơ của Manila. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Philippines sẽ thắng tất cả những điểm này trong phiên điều trần chinh, đặc biệt là những điểm phụ thuộc vào điều kiện có thực thể địa lý nào trong quần đảo Trường Sa được hưởng quy chế EEZ hay không.

Theo ghi nhận của Tòa, Việt Nam đã khẳng định rằng Tòa có thẩm quyền để phân xử, và, thêm vào đó, trong 7 thực thể địa lý được nêu ra trong hồ sơ của Philippines, không thực thể nào được hưởng quy chế EEZ.

Nhưng Việt Nam không cho biết quan điểm của mình về có thực thể nào khác được hưởng quy chế này hay không. Việt Nam cũng tuyên bố bảo lưu các quyền lợi và quyền pháp lý của mình, nhưng không cho biết quyền lợi của mình cụ thể là gì.

Image copyright
Image caption Áp phích của người biểu tình ở Philippines phản đối Trung Quốc trên Biển Đông.

Sự ủng hộ của Việt Nam cho Philippines tuy mạnh mẽ về nguyên tắc nhưng dè dặt về chi tiết. Việt Nam đã thể hiện muốn Tòa phân xử vụ kiện này, và chắc chắn là Việt Nam muốn Tòa bác bỏ đường lưỡi bò Trung Quốc, nhưng có lẽ các nhà hoạch định chính sách Việt Nam vẫn quan ngại rằng phán quyết của Tòa về một số điểm trong hồ sơ của Philippines có thể đi ngược với quyền lợi của Việt Nam.

Dư luận người Việt phần lớn ủng hộ việc Philippines kiện Trung Quốc. Có không ít sự ngưỡng mộ, thậm chí ca ngợi, cho động thái của Philippines, và có cả ý kiến cho rằng Việt Nam nên tham gia vụ kiện hoặc khởi tự khởi kiện Trung Quốc.

Mâu thuẫn quyền lợi

Nhưng có vấn đề quan trọng vẫn ít được phân tích trước công luận. Đó là mặc dù hồ sơ của Philippines có nhiều điểm có lợi cho Việt Nam qua việc bác bỏ yêu sách biển quá lố của Trung Quốc, hồ sơ này cũng có một số điểm có thể mâu thuẫn với quyền lợi của chúng ta (Việt Nam), tùy chúng ta xác định quyền lợi này bao gồm những gì.

Điểm 4 của hồ sơ Philippines cho rằng Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây và Đá Xu Bi là những bãi lúc nổi lúc chìm, do đó không những không có lãnh hải mà còn không nước nào có thể đòi chủ quyền. Điểm 5 cho rằng Đá Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây là thuộc EEZ và thềm lục địa của Philippines.

Câu hỏi người Việt cần trả lời là hai điểm này có mâu thuẫn với quyền lợi của Việt Nam hay không? Việt Nam có đòi quyền lợi gì với Đá Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây không? Nên phản đối hay chấp nhận điểm 4 và 5? Hay là Việt Nam không tự khẳng định, và phó thác cho Philippines, Trung Quốc và Tòa tranh cãi với nhau về hai điểm này?

Hai điểm 4 và 5 còn ảnh hưởng cả đến một số thực thể Việt Nam đang chiếm giữ, thí dụ như Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ.

Mặc dù Philippines không kiện Việt Nam và không đề cập đến những thực thể này, nếu chúng đúng là bãi lúc nổi lúc chìm và nếu Philippines thắng Trung Quốc ở điểm 4 và 5, hệ quả lô gíc sẽ là không nước nào được đòi chủ quyền trên những thực thể này, chúng sẽ thuộc về EEZ của họ, và khi đó nếu họ muốn thì Việt Nam sẽ phải bàn giao lại cho họ. Việt Nam có sẵn sàng chấp nhận hệ quả này không?

Điểm 9 của hồ sơ Philippines khiếu nại rằng Trung Quốc đã, một cách bất hợp pháp, không ngăn chặn công dân của mình khai thác thủy sản trong EEZ của Philippines. Mặc dù Philippines chỉ kiện Trung Quốc, không kiện Việt Nam, nếu Tòa công nhận rằng một khu vực nào đó là EEZ của Philippines, và việc công dân Trung Quốc khai thác hải sản trong khu vực đó là bất hợp pháp, hệ quả lô gíc của phán quyết đó sẽ là việc Việt Nam đơn phương khai thác hải sản trong khu vực đó cũng sẽ là bất hợp pháp.

Image caption Philippines kiên quyết phản đối các tuyên bố của Trung Quốc trên Biển Đông và đồng thời khẳng định chủ quyền của họ ở các vùng biển tranh chấp.

Khu vực này có thể là 200 hải lý tính từ đường cơ sở quần đảo của Philippines, chỉ ngoại trừ lãnh hải 12 hải lý của các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Trong trường hợp đó, ngư dân Việt Nam sẽ không được đánh bắt trong khu vực cách các đảo Trường Sa hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý. Việt Nam có sẵn sàng chấp nhận hệ quả này không?

Tóm lại, nếu Việt Nam chỉ đòi chủ quyền với các đảo (tức là những thực thể cao hơn mức thủy triều cao) và lãnh hải 12 hải lý thì sẽ không có mâu thuẫn gì giữa ba điểm này và quyền lợi của Việt Nam.

Nhưng nếu Việt Nam có đòi những bãi lúc nổi lúc chìm cách các đảo này hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý, thí dụ như Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây, Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ, thì sẽ có mâu thuẫn.

Việc Việt Nam đóng quân ở một số thực thể hữu quan có nghĩa Việt Nam có đòi những thực thể đó, tức là có mâu thuẫn. Nếu ViệtNam đòi quyền tài phán cách đảo hơn 12 hải lý và cách Philippines dưới 200 hải lý thì cũng sẽ có mâu thuẫn.

Tiến thoái lưỡng nan

Ba điểm 4, 5 và 9 đặt Việt Nam vào thế tiến thoái lưỡng nan. Phản đối hay phản biện với Tòa thì sẽ vô hình trung giúp Trung Quốc và có thể gây phương hại cho EEZ và thềm lục địa của mình dọc bờ biển đất liền.

Không phản đối và không phản biện, nếu Tòa công nhận ba điểm này, Việt Nam sẽ khó có cơ sở pháp lý để có yêu sách với một số bãi lúc nổi lúc chìm như Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây, Đá Tốc Tan, Đá Núi Le và Đá Tiên Nữ.

Không những thế, Việt Nam sẽ khó có cơ sở pháp lý cho việc khai thác kinh tế trong một phần của khu vực Trường Sa. Phải làm gì để cân bằng một bên là việc chống Trung Quốc và bảo vệ EEZ và thềm lục địa dọc bờ biển đất liền, và bên kia là quyền lợi trong khu vực Trường Sa?

Thực chất, vụ kiện Phi-Trung đã đẩy Việt Nam tới điểm phải giải hai bài toán khắc nghiệt. Bài toán thứ nhất là quyền lợi của Việt Nam ở Trường Sa là gì: Việt Nam đòi chủ quyền với những thực thể nào, quyền tài phán ra cách các thực thể này bao xa? Giải đáp cho bài toán này sẽ cho biết hồ sơ kiện của Philippines có mâu thuẫn với quyền lợi của Việt Nam hay không, nếu có thì mâu thuẫn thế nào?

Nếu bản thân mình chưa biết quyền lợi của mình là gì thì việc yêu cầu Tòa tính đến quyền lợi của mình, tuy là điều vẫn phải làm, nhưng thiếu đi một phần giá trị.

Bài toán kế tới là nếu có mâu thuẫn với quyền lợi của mình thì Việt Nam phải ứng phó thế nào? Nếu Việt Nam phản đối và phản biện hồ sơ của Philippines để bảo vệ quyền lợi của mình thì sẽ vô hình trung giúp Trung Quốc. Đây là hai bài toán khắc nghiệt, nhưng dường như Việt Nam còn chưa giải được bài thứ nhất.

Mục đích của bài viết này không phải là đề nghị Việt Nam nên chấp nhận hay phản đối điểm nào trong hồ sơ kiện của Philippines, đặc biệt là các điểm 4, 5 và 9, cũng không phải là đề nghị Việt Nam nên chọn những gì là quyền lợi của mình.

Mục đích đó là để cho thấy trong khi vụ kiện Phi-Trung buộc Việt Nam phải đối diện với hai bài toán khó liên quan đến quyền lợi đất nước, dường như các cơ quan có chức năng của nhà nước, các chuyên gia và giới trí thức chưa có phân tích đáng kể trước công luận để giúp người dân cũng như các đại biểu của họ suy nghĩ về hai bài toán này.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một thành viên sáng lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, tác giả cảm ơn các ông Phan Văn Song, Hoàng Việt và Lê Trung Tĩnh đã góp ý cho bài viết.

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/11/151127_duongdanhhuy_baitoankho

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL