оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно
You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Email In PDF.

3. Philippine đã “dính bẫy” chưa? 

Nhiều người bức xúc cho rằng nội dung mà các lãnh đạo tuyên bố trong quan hệ với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông trong thời gian qua là đã “dính bẫy” do Trung Quốc giăng ra, thậm chí là đã quy phục, đầu hàng Trung Quốc. 

Tuy nhiên, dựa trên những nội dung pháp lý đã nêu ở phần 1 ("Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?) và với một tinh thần cầu thị, khách quan khi nhận xét đánh giá nội dung và hình thức của các tuyên bố đặt trong bố cảnh hiện nay, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về bản chất, ý nghĩa và giá trị của các tuyên bố quan trọng đó. 

Theo nguồn tin của các hãng thông tấn khu vực và quốc tế, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm thứ Ba tuần trước 16/5 tuyên bố: ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông. 

alt
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tại Diễn đàn quốc tế Một vành đai, một con đường ở Bắc Kinh, ảnh: Rappler.

Tổng thống Philippines nói ông có thể hợp tác với các nước láng giềng khi trở về nước từ Bắc Kinh, sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường: 

“Nếu có thể có được cái gì đó mà không gặp phiền hà, thì tại sao không chứ?”, ông Duterte nói với các nhà báo. Ông nói thêm rằng với điều kiện là mọi sự phải “công bằng và cân xứng”.  

Căn cứ vào lời lẽ nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Nhà nước Philippines đã chính thức từ bỏ yêu sách của mình trên Biển Đông. Vì sao? 

Thứ nhất, ông Duterte chỉ tuyên bố về nguyên tắc là “sẵn sàng” hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với điều kiện không gặp “phiền hà” và mọi sự phải “công bằng và cân xứng”. 

Suy ra rằng bất cứ một thỏa thuận nào có liên quan đến lãnh thổ, chủ quyền quốc gia là phải tuân thủ đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. 

Nếu không thì sẽ phải “gặp phiền hà” bởi sự phủ quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và bởi sự phản kháng của người dân nước họ. 

Chính vì vậy, bên cạnh những tuyên bố của Tổng thống Duterte trong thời gian tham dự Diễn đàn cấp cao: “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, ông Santa Romana, một quan chức ngoại giao Philippines lại tuyên bố rằng:

Sự tham dự của ông Duterte tại hội nghị thượng đỉnh về Con đường Tơ lụa lần này không thể được coi là Philippines đã “từ bỏ” tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. 

Phải chăng đó là chìa khóa an toàn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Philippines trong Biển Đông?

Thứ hai, đi sâu hơn về ý tứ của tuyên bố đó, thiết nghĩ đây cũng là một sách lược khôn ngoan của phía Philippines trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Lịch sử của quá trình Philppines tranh chấp chủ quyền ở đây đã chứng minh và ngay cả phía Philippines cũng đã thừa nhận:

Họ đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền chỉ từ những năm 50 và đã chiếm đóng trên thực tế một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa vào những năm 70 của thế kỷ trước. 

Trên danh nghĩa pháp lý, họ cũng chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với các thực thể nằm trong phạm vi hình lục giác bao lấy một phần quần đảo Trường Sa (trừ nhóm đảo Trường Sa lớn), mà họ gọi là “Kalayaan”. 

alt
Lược đồ phạm vi nhóm đảo Kalayaan do Philippines tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thể hiện trong Sắc lệnh số 1596 của tổng thống Philippines. Ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kalayaan_Island_Group_(vi).png

Họ lập luận rằng nhóm đảo này, mặc dù không phải là một bộ phận cấu thành quốc gia quần đảo, vẫn thuộc chủ quyền của Philippines, vì chúng ở gần Philippines về mặt khoảng cách địa lý.  

Nguyên tắc “khoảng cách địa lý” không có giá trị để bảo vệ cho việc chiếm đóng của họ dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. 

Vì vậy, phải chăng tuyên bố này cũng là một biện pháp pháp lý nhằm giành lấy sự công nhận trên thực tế  việc chiếm đóng phi pháp của họ, nếu các bên liên quan chấp nhận “đề xuất” này?

Thứ ba, Philippines thừa biết rằng đây không phải là lần đầu tiên Philippines tìm cách hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông. 

Năm 2005, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Trung Quốc và Việt Nam trên khắp khu vực.

Nhưng thỏa thuận này sau đó sụp đổ, khiến bà Arroyo sau đó tuyên bố “không thể tin vào người Trung Quốc”. 

Mặc dù như vậy, Philippines vẫn tiếp tục đề xuất chủ trương này cũng chỉ vì mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc mà thôi.

Bởi thế, Tổng thống Philippines nói chuyến đi của ông tới thăm Bắc Kinh là “cơ may” cho Philippines, ông tiết lộ rằng sẽ có thêm nhiều khoản đầu tư từ Trung Quốc, nhưng ông không cho biết thêm chi tiết…

4. Việt Nam chưa “dính bẫy”?

Trước hết chúng tôi xin được trích nguyên văn nội dung được nêu tại Điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa diễn ra:

“Hai bên đã trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển; nhấn mạnh cần tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã đạt được và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”;

alt

Donald Trump - Tập Cận Bình cùng thắng, phần thua thuộc về ai?

Sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung; kiên trì thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; 

Tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. 

Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; 

Tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.  

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm xây dựng “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC); 

Kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Trong nội dung này, chúng tôi xin lưu ý thỏa thuận “hợp tác cùng phát triển” là giải pháp tạm thời áp dụng cho hai khu vực khác nhau: 

Một là ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ: “…Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này…”.

Hai là: “trên biển”: “…tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”.

alt

Lý do không ai hưởng ứng Trung Quốc "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông

Từ nội dung nói trên, chúng tôi cho rằng Việt Nam đã rất thận trọng khi thỏa thuận áp dụng giải pháp “cùng phát triển” cho 2 khu vực biển khác nhau: 

Một là khu vực cửa vịnh Bắc Bộ mà 2 bên đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng chồng lấn.

Trong khi hai bên đang đàm phán để thống nhất một đường phân định cuối cùng thì có thể thỏa thuận áp dụng giải pháp tạm thời “cùng phát triển” cho vùng chồng lấn ở đây.

Đây là một thỏa thuận hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

Hai là: nhóm công tác cần tiếp tục “…bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…” Cụm từ “trên biển” ở đây nên được hiểu như thế nào? 

Phải chăng cụm từ này đã phản ánh sự dung hòa quan điểm của 2 bên về phạm vi áp dụng giải pháp “cùng phát triển”? 

Theo lập trường của Việt Nam, phạm vi này chỉ có thể phải là các vùng chồng lấn được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 khi xác lập phạm vi vùng đặc quyền và thềm lục địa của mỗi quốc gia. 

Còn Trung Quốc có thể cho rằng “trên biển” nói trong tuyên bố này bao gồm toàn bộ vùng biển nằm trong giới hạn đường “lưỡi bò”, trong đó có cả khu vực quần đảo Trường Sa mà họ gọi là “Nam Sa quần đảo”, nơi mà Trung Quốc, kể cả vùng lãnh thổ Đài Loan, cho đến nay đã cưỡng chiếm được 9 thực thể địa lý;

Nhưng lập trường của Trung Quốc về khái niệm "trên biển" lại không bao gồm khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa và đã chiếm đóng trái phép hoàn toàn từ năm 1974.

Đó là cách mà Trung Quốc vẫn thường xuyên sử dụng để áp đặt, mặc cả trong đàm phán ngoại giao. 

Như vậy, có thể thấy lập trường của hai bên về phạm vi áp dung cho giải pháp “cùng khai thác trên biển” còn cần phải được cụ thể hóa bằng các cuộc đàm phán cấp chuyên viên.

Và chắc chắn điều này sẽ không dễ dàng thống nhất được một sớm một chiều, nếu Trung Quốc vẫn cố tình bám giữ yêu sách “lưỡi bò”. 

Như vậy, không thể nói Việt Nam đã “dính bẫy” mà Trung Quốc đã giăng ra trong Biển Đông. 

Tuy nhiên, như mọi người đều đã biết, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó, đàm phán ngoại giao song phương hoặc đa phương là biện pháp ưu tiên hàng đầu. 

Trong quá tình đàm phán hòa bình, Việt Nam cũng đã từng chủ động đề xuất áp dụng các giải pháp tạm thời có tính thực tiễn và hợp lý để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đàm phán, từng bước tìm được giải pháp cơ bản, lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được.  

Tất nhiên cũng phải tùy theo khu vực và tính chất tranh chấp để áp dụng các giải pháp tạm thời thích hợp nhất, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, chẳng hạn:

Trong cuộc đàm phán từ ngày 3 đến 5/6/1992, Việt Nam và Malaysia đã ký văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung khu vực biển chồng lấn rộng 2.800 km2 trong vịnh Thái Lan (gọi tắt là MOU). 

Nội dung chủ yếu của MOU là, hai bên đã xác định chính thức tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa mà phía Việt Nam và phía Malaysia đưa ra, quy định hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn này theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất. 

Thỏa thuận cũng nêu rõ, nếu như có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực chồng lấn và một phần nằm trên thềm lục địa của Việt Nam hoặc Malaysia thì hai bên sẽ thỏa thuận cùng thăm dò khai thác. 

alt

Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông?

Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tại khu vực chồng lấn, thì hai bên cũng có thỏa thuận về quản lý hải quan, thuế, biên phòng…  

Với Indonesia, Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận hoạch định ranh giới thềm lục địa và hiện hai nước đang tiến hành đàm phán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Việt Nam cũng đã từng chủ động đề nghị áp dụng giải pháp hợp tác cùng khai thác trước khi nhất trí xác định được ranh giới cuối cùng của vùng đặc quyền kinh tế, tuy nhiên, hai bên vẫn chưa đạt được đồng thuận.

Trở lại vấn đề hợp tác cùng khai thác giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc có vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách của đôi bên trong hoạch định vùng biển theo đúng với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và hai bên đã đề cập sẽ có sự hợp tác khai thác chung ở khu vực chồng lấn này. 

Trong đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã từng thỏa thuận áp dụng giải pháp hợp tác trong vùng đánh cá chung chứ không phải bây giờ mới đề cập. 

Mặc dù đã thống nhất được đường phân định, nhưng vì lý do chiếu cố đến lợi ích của ngư dân của đôi bên trong quá trình chuyển đổi nghề, nên hai bên đã đồng ý xác định một khu vực gọi là “khu vực đánh cá tạm thời, quá độ”. 

Cũng trên tinh thần đó, ngành dầu khí hai nước cũng đã ký gia hạn thỏa thuận cùng nhau hợp tác thăm dò, khai thác mỏ dầu vắt ngang qua đường phân định biên giới tại vịnh Bắc Bộ. 

Đối với tranh chấp Biển Đông, ngày 23/9/2013, tờ Inquirer của Philippines, đăng bài viết của John Nery, một trong 15 nhà báo ASEAN phỏng vấn Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Trong đó ông Lý Hiển Long có đưa ra một số bình luận đáng chú ý khi cho rằng: tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông “chỉ có thể quản lý, không thể giải quyết”, đồng thời ông kêu gọi các bên tranh chấp cùng khai thác nguồn tài nguyên trên Biển Đông. 

Xuất phát từ lợi ích khu vực trong tình hình hiện nay, tuyên bố này xét về phương diện chính trị, ngoại giao là hợp lý. 

Nhưng đi sâu về mặt pháp lý, vấn đề đặt ra là hợp tác khai thác như thế nào, ở đâu, và áp dụng cho loại tranh chấp nào?  

Bởi vì, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, không có chuyện vùng đặc quyền kinh tế hay vùng thềm lục địa được xác lập hợp pháp, chính đáng, rõ ràng theo quy định của Công ước này, lại bị nước khác, do động cơ vụ lợi, nhảy vào, cố tình tạo ra tranh chấp, rồi  bắt “cùng khai thác”, biến vùng không phải tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến không thành có.  

Chính vì thế, các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quôc đề cập tới giải pháp “hợp tác cùng khai thác” áp dụng cho khu vực ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là khả thi, vì đây là điều rất bình thường, giống như đã được áp dụng tại các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia; Việt Nam, Thái Lan và Malaysia trong vịnh Thái Lan…

alt
Sơ đồ vùng đánh cá chung,vùng quá độ. Nguồn: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao.

Như vậy cho thấy rằng, Việt Nam sẵn sàng áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” đối với những vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách dựa theo đúng quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chứ không phải đồng ý giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên toàn bộ Biển Đông.  

Liên quan đến giải pháp tạm thời theo nguyên tắc Status- quo, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã vận dụng thành công giải pháp tạm thời này cho quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa 2 nước:

Năm 1991, sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được khôi phục, trước khi mở ra các vòng đàm phán về biên giới, lãnh thổ trên đất liền, hai bên đã ký “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới” theo nguyên tắc quản lý biên giới theo tình hình thực tế, giữ nguyên mốc giới hiện có (nguyên tắc Status-quo). 

Trong quá trình đàm phán về biên giới trên bộ, hai bên cũng đã vận dụng nguyên tắc này để xử lý thỏa đáng những khu vực biên giới trên bộ còn có nhận thức khác nhau, nhằm phục vụ cho nhu cầu hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. 

Thỏa thuận khai thông đường sắt liên vận Đồng Đăng – Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu là một ví dụ điển hình, sinh động về cách thức áp dụng nguyên tác này với danh nghĩa là một  giải pháp tạm thời:

Trước khi thống nhất được đường biên ở khu vực biên giới còn có nhận thức khác nhau này, Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết một nhu cầu rất thiết yếu về kinh tế, kỹ thuật. 

Đó là làm sao khai thông tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường, nối Lạng Sơn của Việt Nam với khu vực tự trị Choang- Quảng Tây, Trung Quốc.

Tuyến đường này đi qua Hữu Nghị Quan, thuộc khu vực 249C, là khu khu vực Việt Nam và Trung Quốc có nhận thức khác nhau về mặt pháp lý, từng xảy ra đụng độ đẫm máu. 

Lịch sử bảo vệ, quản lý tại thực địa ở đây khiến việc đàm phán không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều.

Trong khi đó, nhu cầu khai thông tuyến đường sắt liên vận sau khi hai nước khôi phục quan hệ là rất cần thiết.

Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế, dân sinh của mỗi nước, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng vừa trải qua một cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt. 

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra làm sao có thể khai thông được khi mà tuyến đường sắt liên vận này phải đi qua khu vực tranh chấp về biên giới, lãnh thổ chưa được giải quyết? 

Trong khi Trung Quốc từ lâu tìm cách khẳng định đường biên giới đi qua “điểm nối ray”, còn Việt Nam cho rằng đường biên giới phải đi qua “nhà mái bằng”, ngôi nhà bảo vệ thiết bị thông tin kết nối đường sắt.

Hai điểm này cách nhau 300 mét.

Đại diện đàm phán hai nước, với tinh thần khách quan, cầu thị, đã thẳng thắn khẳng định đường biên giới chủ trương của cả Trung Quốc và Việt Nam thể hiện trong khu vực này là  không hoàn toàn chuẩn xác, không thể đi qua vị trí mà Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn. 

Vì thế hai bên cần phải đàm phán để tìm ra một đường biên giới mới mà cả hai nước có thể chấp nhận. Trong khi đàm phán hoạch định biên giới theo thỏa thuận, hai bên nên thống nhất chọn một giải pháp tạm thời, mang tính kinh tế, kỹ thuật, để khai thông tuyến đường sắt liên vận. 

Giải pháp tạm thời này không làm ảnh hưởng đến việc hoạch định hướng đi của đường biên giới mới tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận “đóng băng” khu vực 300 mét này, tức là khi con tàu chạy từ phía Việt Nam đến “điểm nối ray” và từ phía Trung Quốc đến vị trí “nhà mái bằng” thì dừng lại, để các lực lượng quản lý nhà nước của hai bên rời khỏi tàu. 

Trên tàu chỉ còn các chuyên gia kỹ thuật, lái tàu và nhân viên phục vụ hàng hóa ở lại làm nhiệm vụ chuyên môn, dịch vụ. 

Vì vậy, hai nước ký biên bản khai thông đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu ngay trong dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị Trung Quốc cuối năm 1995. 

Thiết nghĩ, đó là một bài học để có thể nghiên cứu áp dụng cho những khu vực tranh chấp có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ trên biển.

Và, chính trong Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), các bên tham gia cũng đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng thêm sự chiếm đóng, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình…cũng đã vận dụng tốt nguyên tắc Status-quo rồi. 

Tất nhiên, điều tối quan trọng khi sử dụng những giải pháp tạm thời này là cần phải khẳng định rằng chúng không làm ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế. 

Tuy vậy, các bên vẫn có quyền (và cần thiết) bảo lưu quan điểm về chủ quyền của mình đối với các thực thể địa lý mà mình đã tuyên bố có chủ quyền để phục vụ cho một kênh giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình đối với các thực thể địa lý này, khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận tổ chức thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý nhất định./.

Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội-2008.

-Thục Minh , “Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và luật pháp quốc tế”. Báo Thanh Niên Online, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121203/giai-quyet-tranh-chap-bang-thuong-luong-va-luat-phap-quoc-te.aspx -Luật quốc tế, đề cương Giáo trình , Học viện Quan hệ quốc tế, 1978.

- Steven R. Ratner, The New UN Peacekeeping: Building Peace in Lands of Conflict After the Cold War, Nhà xuất bản St. Martin's (1996).

- Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung  Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).

- Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN (Nghiên cứu Biển Đông,17/03/201) Biendong.net - TQ "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông không  -biendong.net/.../9364-tq-gac-tranh-chap-cung-khai-thac-bien-dong... Sep 27, 2016.

- Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG (Nghiên cứu Biển Đông, 15/03/2010).

- AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.".

-  Trần Công Trục: “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, năm 2012.

-TS  Đặng Đình Quý: “Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2015.

- Hợp tác cùng phát triển - giải pháp có tính thực tế tạm thời – QĐ , www.baomoi.com › Xã hội › Thời sự ,Oct 29, 2013.

- Nghĩa vụ trong vùng biển chồng lấn thềm lục địa ... - Luật pháp Quốc tế- https://iuscogen.wordpress.com/.../nghia-vu-trong-vung-bien-chong lấn...

- Bàn về khả năng hợp tác cùng phát triển ở - Petrotimes - petrotimes.vn/ban-ve-kha-nang-hop-tac-cung-phat-trien-o-bien-do... Nov 14, 2013.

- TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/12/18/4186/ Dec 18, 2009.

- 100 câu Hỏi - Đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. www.vnmilitaryhistory.net.

TS Trần Công Trục

Cần giải quyết trên cơ sở luật quốc tế

Email In PDF.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/06/110611_viet_china_sea_dispute.shtml?print=1

Nhân sự kiện Hải quân Việt Nam thông báo tập bắn đạn thật vào thứ Hai và thứ Ba tuần tới ở vùng biển Quảng Nam tiếp sau các diễn biến của hai vụ Trung Quốc bị Việt Nam cáo buộc cắt cáp của các tàu dân sự Bình Minh 02 và Viking2, BBC Việt ngữ đã có cuộc trao đổi với một trong các sáng lập viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, Tiến sĩ Dương Danh Huy.

Câu hỏi đầu tiên dành cho nhà nghiên cứu này là ông đánh giá ra sao về ý nghĩa thực của tuyên bố tập bắn đạn thật này trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông gia tăng hiện nay?

TS. Dương Danh Huy: Tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam có chủ ý gửi thông điệp bằng cuộc tập bắn này. Tuy nhiên, họ cũng rất thận trọng khi gửi thông điệp đó, vì vùng tập bắn chỉ cách bờ biển đất liền Việt Nam vài chục hải lý, trong khi các sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh và phá thiết bị địa chấn tàu Viking xảy ra cách bờ biển đất liền Việt Nam 120 hải lý và hơn, và Việt Nam khẳng định quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

BBC: Là một nhà nghiên cứu thường muốn đưa ra các ý kiến mang tính học thuật, nhằm tư vấn cho giới làm chính sách, ông có thất vọng khi vấn đề tranh chấp Biển Đông đi vào hướng xung đột và không thể nào giải quyết bằng đàm phán trên cơ sở lịch sử nữa như báo The Economist ở Anh vừa có bài nhận định?

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Tất nhiên chúng ta ai cũng thất vọng, nhưng hướng xung đột là điều chúng tôi và nhiều người đã dự đoán. Với một nước mạnh vượt trội các nước khác vốn đòi hỏi phần lớn Biển Đông một cách bất chấp luật quốc tế, thì xung đột sẽ gia tăng cho đến khi hoặc là các nước nhỏ chịu thua, hoặc là các nước nhỏ đứng cùng với nhau và được thế giới ủng hộ.

Báo Economist đã lầm ở một điểm, vì tranh chấp biển thì phải được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và những nguyên tắc của luật quốc tế trong UNCLOS chứ không phải cơ sở lịch sử.

Tuy nhiên báo Economist đúng ở điểm khó có thể giải quyết bằng đàm phán, vì chủ trương của Trung Quốc là Trung Quốc không đàm phán về chủ quyền, họ muốn "gác tranh chấp, cùng khai thác".

BBC: Sống ở Anh, nhóm Nghiên cứu Biển Đông của ông và các bạn đã làm gì để trao đổi tiếng nói về chủ đề này với giới học giả Trung Quốc, vì có vẻ như dư luận hai nước hoàn toàn không giao lưu, nên nguy cơ bùng phát xung đột có nhiều?

TS. Dương Danh Huy: Chúng tôi chưa có cơ hội để trao đổi với giới học giả Trung Quốc, nhưng chúng tôi đã đọc nhiều bài viết của họ. Nếu nói về "hai nước" thì Học viện Ngoại giao Việt Nam cũng có mời các học giả Trung Quốc đến dự hội thảo quốc tế ở Việt Nam.

Quan điểm của chúng tôi nói riêng và quan điểm của các học giả Việt Nam nói chung về vấn đề không gian biển rất phù hợp với quan điểm của các học giả quốc tế. Còn học giả Trung Quốc thì khác.

Cho đến khi học giả Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có một quan điểm hợp lý, hợp pháp và công bằng hơn thì việc bùng phát xung đột sẽ không chỉ là nguy cơ mà còn là hệ quả tất nhiên.

Lũng đoạn, bị động?

TBT Nguyễn Phú Trọng (phải)

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ĐCS tiếp đoàn đại biểu quân ủy Trung ương Trung Quốc tháng 4/2011.

 

BBC: Có ý kiến từ Việt Nam tin rằng các nhóm quyền lợi cao cấp lũng đoạn đường lối đối ngoại của Hà Nội nên hệ thống này hoàn toàn bị động thời gian qua trước một chiến lược sâu rộng của Bắc Kinh, ông nghĩ sao?

TS. Dương Danh Huy: Tôi không rành về các nhóm quyền lợi trong nội bộ Việt Nam và cũng không muốn đoán về nguyên nhân. Về hiện tượng thì tôi thấy Việt Nam đã thiếu tích cực, thiếu chủ động trong việc bảo vệ Biển Đông trong nhiều năm, ít nhất là đến năm 2007, khi Trung Quốc ép hãng BP rút ra khỏi vùng Mộc Tinh, Hải Thạch.

Sau đó Việt Nam ngày càng trở thành tích cực hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn bị hạn chế vì ba yếu tố. Thứ nhất, Việt Nam vẫn còn phải đuổi theo Trung Quốc, là nước đã đi trước trong chiến lược về Biển Đông.

Thứ nhì, Việt Nam nhỏ và nghèo hơn cho nên không có những phương tiện mà Trung Quốc có. Thứ ba, ít nhất là cho đến sự kiện tàu Bình Minh 2, chính phủ Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc bởi tiêu chí của họ là "cần giữ quan hệ tốt với Trung Quốc".

Theo tôi, ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

BBC: Vẫn theo The Economist thì "Quy tắc ứng xử Biển Đông" do Asean và Trung Quốc đồng ý hồi 2002, coi như đã không còn ý nghĩa gì nữa, nếu thế thì cơ sở để tranh cãi giữa các bên nay là gì?

Ai cũng muốn có quan hệ tốt, nhưng quan hệ tốt không nên hoàn toàn là tiên đề. Một phần của quan hệ thế nào phải là hệ quả của cách cư xử giữa hai bên.

TS Dương Danh Huy

TS. Dương Danh Huy: Quy tắc ứng xử đó đã có hạn chế ngay từ đầu. Thứ nhất, nó không có tính ràng buộc pháp lý. Thứ nhì, nó không xác định tranh chấp bao gồm những gì.

Thứ ba, nó thiếu tính cụ thể, thí dụ như nó nói các bên sẽ tự kiềm chế không có hành động làm tranh chấp leo thang hay phức tạp thêm, nhưng chỉ liệt kê cụ thể là không chiếm đóng thêm các cấu trúc địa chất, còn bao nhiêu loại hành động khác thì nó không liệt kê.

Về cơ sở để tranh cãi giữa các bên thì gần đây Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines dựa nhiều về (công ước biển) UNCLOS, còn Trung Quốc thì dựa vào cách khẳng định bằng ngôn ngữ và hành động rằng chủ quyền là "của Trung Quốc" và tỏ ra mập mờ về cơ sở.

BBC: Dư luận cả ở Trung Quốc và Việt Nam, nhất là trên các trang mạng hô hào tinh thần dân tộc chủ nghĩa có vẻ như gây sức ép lên chính giới hai nước, làm tình hình leo thang?

TS. Dương Danh Huy: Theo tôi nghĩ, lằn ranh phân biệt "dân tộc chủ nghĩa" và "sự công bằng" là "lý lẽ". Trong các sự kiện gần đây, tôi thấy phía Việt Nam đã đưa ra lý lẽ để nói rằng chủ quyền là "của Việt Nam", thí dụ như (công ước) UNCLOS, vùng đặc quyền kinh tế, (hải phận) 200 hải lý, không thuộc tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.

Phía bên kia Biển Đông, Phlippines cũng đã đưa ra lý lẽ tương tự. Còn phía Trung Quốc thì khẳng định chủ quyền vùng tranh chấp là "của Trung Quốc", nhưng không đưa ra lý lẽ.

BBC: Có bình luận tin rằng Philippines được Hoa Kỳ tin cậy và trao đổi nhiều thông tin hơn là Việt Nam về các bước đi của Trung Quốc, vì Việt Nam vẫn khác biệt với Hoa Kỳ về dân chủ và nhân quyền, theo ông điều này có đúng không, và hệ quả sẽ là gì?

TS. Dương Danh Huy: Tôi thấy không có hiện tượng để chứng minh cho quan điểm đó. Phlippines cũng bị động không kém gì Việt Nam.

Ý nghĩa của chiến thắng Philippines

Email In PDF.

 

altImage copyrightREUTERS

Phán quyết của Tòa Trọng tài mở một cổng lũ pháp lý, Việt Nam có thể đơn phương kiện Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế và nếu kiện thì sẽ thắng.

Sáng 12/7, trang nhà của Tòa Trọng tài Thường trực bỗng nhiên bị sập. Khi việc tương tự xảy ra vào tháng 7/2015, nguyên nhân được cho là tin tặc Trung Quốc. Có lẽ không phải tình cờ, 12/7/2016 là ngày Tòa ban hành phán quyết cho vụ kiện Phi-Trung về Biển Đông.

Philippines đã ra tòa để bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc. 15 điểm họ đưa ra có thể được chia thành 5 quan điểm chính:

  1. Do bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), và do Trung Quốc không được đòi “quyền lịch sử” cho vùng biển bên trong đường 9 đoạn, các yêu sách biển của Trung Quốc bên trong đường này vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Ngược lại, yêu sách EEZ của Philippines là hợp pháp.
  2. Đá Vành Khăn và bãi Cỏ Mây thuộc về EEZ Philippines.
  3. Trung Quốc đã có một số hành vi vi phạm EEZ của Philippines, bao gồm cả tại đá Vành Khăn và bãi Cỏ Mây.
  4. Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ bảo tồn môi trường biển, đặc biệt là trong việc xây đảo nhân tạo.
  5. Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi dùng tàu thuyền chấp pháp một cách nguy hiểm, có thể gây đâm húc.

Với một văn kiện dài gần 480 trang, Hội đồng Trọng tài đã công nhận tất cả 5 quan điểm chính của Philippines.

Việc Hội đồng Trọng tài công nhận quan điểm 1, 2 và 3, trong đó quan trọng nhất là việc bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc bên trong đường 9 đoạn, dựa trên 2 kết luận then chốt. Thứ nhất, Hội đồng Trọng tài đã bác bỏ việc đòi “quyền lịch sử” cho vùng biển bên trong đường đó. Thứ nhì, Hội đồng Trọng tài đã kết luận rằng quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế. Hai kết luận trên và việc Hội đồng Trọng tài công nhận quan điểm 1 đã xóa sổ đường 9 đoạn như một đường yêu sách biển.

'Làm sáng tỏ nhiều vấn đề'

Thắng tất cả 5 điểm chính này là một chiến thắng vô cùng lớn lao cho Philippines, đặc biệt là khi chúng ta nhớ rằng có nhiều rủi ro về việc Hội đồng Trọng tài có sẽ chấp nhận rằng quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế hay không. Nếu không, Philippines đã thất bại trong 3 điểm đầu. May mắn thay, điều đó đã không xảy ra.

 

Trung Quốc đã tẩy chay phiên tòa và đã khẳng đinh lập trường bất hợp pháp là họ không công nhận thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, cũng như sẽ không tuân thủ phán quyết.Thêm vào đó, hiện nay chưa rõ tân Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte có nhượng bộ Trung Quốc không, và nếu có thì sẽ nhượng bộ thế nào. Mặc dù thế, phán quyết này đã mở ra một giai đoạn mới cho tranh chấp Biển Đông với những hệ quả sau.

Hệ quả thứ nhất của phán quyết là nó đã mở một cổng lũ pháp lý. Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Brunei đều có thể đơn phương kiện Trung Quốc về các vùng EEZ và thềm lục địa phía nam Biển Đông, và từ nay các nước này biết là nếu kiện thì sẽ thắng. Thí dụ như nếu Trung Quốc lấn lướt trong vùng Nam Côn Sơn hay Tư Chính, Việt Nam có thể kiện, và nếu kiện thì sẽ thắng.

Không những thế Việt Nam có thể kiện nếu Trung Quốc dùng quần đảo Hoàng Sa để đòi EEZ lấn vào EEZ tính từ bờ biển lục địa Việt Nam. Tuy việc này có khó hơn vụ kiện của Philippines vì đảo Phú Lâm rộng lớn hơn đảo Ba Bình, nhưng lập luận Hội đồng Trọng tài dùng để bác bỏ EEZ cho đảo Ba Bình cũng có khả năng áp dụng cho đảo Phú Lâm. Quan trọng không kém, Việt Nam có thể dùng việc tòa khẳng định quyền đánh cá lịch sử trong lãnh hải 12 hải lý của bãi cạn Scarborough để kiện Trung Quốc về quyền đánh cá lịch sử của ngư dân Việt Nam trong lãnh hải 12 hải lý của các đảo Hoàng Sa.

 
Image copyrightGETTY

Hệ quả thứ nhì là sau khi quan điểm “Trường Sa không có EEZ” được công nhận, khả năng là Việt Nam sẽ chính thức theo quan điểm đó, cũng như các nước Đông Nam Á trong tranh chấp sẽ cùng đoàn kết trong quan điểm đó trong việc chống lại các yêu sách của Trung Quốc.

Hệ quả thứ ba là Mỹ và một số nước có thể ủng hộ Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong tranh chấp một cách mạnh mẽ hơn, thẳng thừng hơn. Trước đây họ còn bị ràng buộc, ít nhất là trên danh nghĩa, bởi nguyên tắc “không thiên vị bên nào trong tranh chấp”.

Nhưng sau khi Hội đồng Trọng tài đã kết luận quần đảo Trường Sa không có EEZ, trong khi Trung Quốc cũng không được đòi quyền lịch sử trong EEZ của nước khác, thì nếu Trung Quốc lấn lướt trong bãi Tư Chính hay bồn trũng Nam Côn Sơn, chẳng hạn, thì đó không phải là tranh chấp mà là gây hấn trong EEZ và thềm lục địa của nước khác, và cộng đồng quốc tế có thể ủng hộ Việt Nam một cách mạnh mẽ mà không vi phạm nguyên tắc “không thiên vị bên nào trong tranh chấp”.

Hệ quả thứ tư là phán quyết của Hội đồng Trọng tài đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến UNCLOS, thí dụ như là việc Nhật dùng đá Okinotorishima để đòi EEZ và thềm lục địa cũng phải bị cho là vi phạm UNCLOS.

Hệ quả thứ năm là với khả năng bị nhiều nước kiện, và nhiều khả năng thua kiện, Trung Quốc có thể rút ra khỏi UNCLOS, tương tự nước Nhật quân phiệt rút ra khỏi Hội Quốc Liên vào năm 1933. Nhưng nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS thì điều đó cũng chỉ làm cho các nước khác không kiện họ được, nó không thể làm cho yêu sách của họ trở thành đúng, và nó cũng không làm cho thế giới không thấy được yêu sách của họ là sai.

  • Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông.
  • http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/07/160713_philippines_pca_ruling_comment

"Gác tranh chấp, cùng khai thác” trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?

Email In PDF.

Dự luận đang bàn tán xôn xao về việc Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte thứ Ba tuần trước 16/5/ tuyên bố, nước ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông.

Đồng thời tuần qua cũng có một vấn đề khác rất thu hút sự chú ý, mà dư luận coi là có nội dung tương tự đã thể hiện tại điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc, nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang: “… tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…”.

Đã có nhiều nhận định, đánh giá ở những thái cực khác nhau: có người lạc quan, tin tưởng rằng đó là những tuyên bố thích hợp, hiện thực và đúng đắn; 

Nhưng cùng với đó cũng không ít người hết sức quan ngại, thậm chí bất bình vì họ cho rằng những tuyên bố này chỉ có lợi cho Trung Quốc, thậm chí đã “quy phục” Trung Quốc…

Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi xin được đề cập và phân tích một số nội dung có liên quan sau đây:

1. Giải pháp tạm thời dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế

1.1.Giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán phân định khu vực chồng lấn tạo ra bởi các vùng biển được xác lập theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

“Hợp tác phát triển (khai thác) chung” là giải pháp tạm thời có tính thực tiễn để giúp giải quyết loại tranh chấp trong việc hoạch định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn. 

alt
Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Tại Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, qui định về việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia ven biển nằm kề hoặc đối diện nhau đã ghi rõ: 

“Trong khi chờ ký kết thỏa thuận nói ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. 

Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng.” (Khoản 3).

Trong thực tế, vận dụng quy định này của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, các quốc gia ven biển đã thỏa thuận áp dụng giải pháp “hợp tác phát triển ( khai thác) chung” (Joint-development) ở vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. 

Khi áp dụng giải pháp này, các bên đều vận dụng, trên cơ sở phải tuân thủ các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của mình. 

Nếu tạo ra vùng chồng lấn thì các bên liên quan cần đàm phán để hoạch định ranh giới trong phạm vi vùng chồng lấn đó. 

Trong khi đàm phán, nếu như chưa thống nhất được ranh giới cuối cùng, thì các bên có thể áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” các vùng biển chồng lấn.

Như vậy, nếu yêu sách ranh giới biển và thềm lục địa nào không dựa vào các tiêu chuẩn của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 thì đương nhiên không được xem xét để áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” có giá trị thực tiễn và tiến bộ này. 

Chẳng hạn, đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra không phù hợp với bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, đã bị cộng đồng quốc tế lên án và bị Phán quyết Trọng tài 12/7/2016 phủ quyết.

Cho dù Trung Quốc đã chính thức công bố, hợp thức hóa yêu sách này, cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn được tạo ra bởi con đường “hoang tưởng” này. 

1.2. Giải pháp tạm thời áp dụng cho quá trình giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ và phân định biên giới quốc gia trên đất liền

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 không quy định áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” cho tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ giữa các quốc gia. 

Đây là một loại tranh chấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này.

Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành, giải pháp tạm thời trong quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ hay phân định biên giới quốc gia trên đất liền thường được vận dụng là “giữ nguyên hiện trạng”. 

Thực chất, đây chính là nguyên tắc Status- quo.

alt

COC là Bộ Luật Biển khu vực?

Nguyên tắc này đã được vận dụng khá phổ biến trong luật pháp và thực tiễn quốc tế nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình giải quyết những tranh chấp giữa các bên trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội…

Với tư cách là một giải pháp tạm thời, trung gian, có tính thực tế, giải pháp này không làm ảnh hưởng hay có tác động gì đến kết quả của quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. 

Tuy nhiên trong thực tiễn, cách hiểu và vận dụng nguyên tắc này như thế nào vẫn còn là vấn đề khá phức tạp, nhiều khi còn tồn tại những nhận thức khác nhau...

Đặc biệt là những quan hệ pháp lý, chính trị nhạy cảm có liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia. 

Chính vì vậy khi triển khai ký và thực hiện các thỏa thuận đó, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc và tính toán rất kỹ và thận trọng. 

Nếu không sẽ bị mắc bẫy, bị rơi vào những tình huống bất lợi khó có thể khắc phục được, nhất là trên phương diện pháp lý.  

2. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” - cạm bẫy pháp lý của Trung Quốc

2.1. “Cạm bẫy pháp lý” được giăng như thế nào?

Quá trình tiến xuống phía Nam, độc chiếm Biển Đông nhằm thực hiện chiến lược vươn lên trở thanh siêu cường quốc tế trong tranh chấp địa-chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, Trung Quốc đã tính toán sử dụng nhiều biện pháp, thủ thuật, thủ đoạn khác nhau, lúc “cứng”, lúc “mềm”…

Song song với biện pháp sử dụng sức mạnh để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào những thời điểm khác nhau của thế kỉ trước, Trung Quốc đã tính toán sử dụng các biên pháp “mềm”, rất tinh vi và nguy hiểm. 

Một trong những biện pháp đó là việc họ đã đề xuất giải pháp “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” được ông Đặng Tiểu Bình nêu ra từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20. 

Trong suốt hơn 40 năm qua, “gác tranh chấp, cùng khai thác" đã trở thành một chủ trương lớn trong triển khai chiến lược biển của Trung Quốc. 

Họ luôn tìm mọi cách để áp đặt ý tưởng và chủ trương này đối với các nước láng giềng. 

Đối với Biển Đông, từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã lần lượt nêu ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” với Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia…

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ tháng 11 năm 1991, Trung Quốc cũng đã nhiều lần đề cập với Việt Nam về chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Tuy nhiên, ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc không được đa số các nước ASEAN hưởng ứng, do các nước đều hiểu rõ bản chất của ý tưởng này là:

Biến khu vực không tranh chấp thành vùng tranh chấp để thực hiện “cùng khai thác” tại vùng biển và thềm lục địa của các nước khác nằm trong phạm vi yêu sách “đường lưỡi bò”.

Để tranh thủ sự ủng hộ của các nước ASEAN, Trung Quốc đã nhiều lần điều chỉnh câu chữ của ý tưởng “gác tranh chấp, cùng khai thác”. 

Ban đầu là “chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác”, sau đó thì rút gọn lại là “gác tranh chấp, cùng khai thác” và gần đây là “khai thác chung” hay “cùng khai thác”. 

Hơn thế nữa, Trung Quốc đang muốn đánh đồng đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” với giải pháp tạm thời  “cùng phát triển (khai thác)”vùng biển chồng lấn, có ý nghĩa thực tế theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Bển năm 1982.

Bằng cách đánh tráo các khái niệm này, họ âm mưu áp dụng cho hầu như toàn bộ khu vực Biển Đông nằm trong yêu sách “đường lưỡi bò”. 

alt
Ông Đặng Tiểu Bình, người đưa ra chủ thuyết "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp, cùng khai thác", ảnh: news.china.com.

Rõ ràng, quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc đã vượt qua mọi quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Thậm chí ý tưởng "gác tranh chấp, cùng khai thác" theo cách hiểu của Trung Quốc, hoàn toàn không có trong các án lệ của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến vấn đề giải quyết các tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, quần đảo trên biển.

Mặc dù luôn luôn khẳng định chủ trương “cùng khai thác” không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, song ý đồ sâu xa của Trung Quốc là muốn thông qua “cùng khai thác” để hợp pháp hóa các yêu sách phi lý và phi pháp của mình trong Biển Đông. 

Họ còn muốn dùng vấn đề “cùng khai thác” để phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế. 

Thời gian qua, Trung Quốc luôn lớn tiếng rằng “cùng khai thác” là biện pháp duy nhất để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. 

Trung Quốc cho rằng đề xuất này thể hiện thiện chí to lớn của phía Trung Quốc, có cơ sở pháp lý, không đụng chạm đến quan điểm của mỗi bên về vấn đề chủ quyền.

Họ lập luận "gác tranh chấp, cùng khai thác" có tính xây dựng, thực tế và tính khả thi nhất, tạo điều kiện cho các bên khai thác tài nguyên phát triển kinh tế, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác, cũng như góp phần giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định trên biển… 

Thực tế cho thấy trong triển khai chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”, Trung Quốc vừa nhằm duy trì và củng cố yêu sách mở rộng phạm vi biển theo đường "lưỡi bò” trong Biển Đông, tranh đoạt được tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng.

Đồng thời họ còn nhắm mục tiêu giữ được bộ mặt “hòa bình”, tranh thủ dư luận, tăng cường ảnh hưởng chinh trị đối với khu vực, hạn chế vai trò của các cường quốc khác. 

Như vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng  khai thác” của Trung Quốc  chỉ là một “cạm bẫy” pháp lý cực kỳ nguy hiểm. 

2.2.  Cảnh giác để không dính bẫy "gác tranh chấp cùng khai thác" của Trung Quốc.

Đường “lưỡi bò” chiếm trên 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vạch ra xuất phát từ tham vọng độc chiếm Biển Đông, không dựa vào bất cứ một quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

alt

Vùng chồng lấn, vấn đề hoạch định ranh giới biển và thực tiễn Việt Nam

Mặc dù Trung Quốc chính thức công bố, yêu sách này cũng sẽ không bao giờ được coi là một yêu sách hợp lý, có căn cứ khoa học để xem xét áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” trong vùng chồng lấn được tạo bởi con đường “hoang tưởng” này.  

Thực chất, ngoài khu vực Trường Sa, các khu vực Trung Quốc muốn “cùng khai thác” với các nước liên quan đều là các khu vực nằm trong phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa hợp pháp của các nước có tiềm năng dầu khí và không có tranh chấp.

Do vậy, đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” này của Trung Quốc không thể chấp nhận được, chí ít là về nguyên tắc. 

Nếu chấp nhận đề xuất của Trung Quốc, dù chỉ là trên nguyên tắc chung chung, thì chúng ta cũng dễ mắc vào cạm bẫy của Trung Quốc, sẽ đưa chúng ta vào một ván bài mà họ đã sắp sẵn hòng đạt được ý đồ chiếm đến trên 80% diện tích Biển Đông; 

Trước mắt là họ muốn biến yêu sách “đường lưỡi bò” vô lý trở thành yêu sách chính thức với sự chấp thuận của các bên tranh chấp trong Biển Đông. 

Nếu được như vậy, Trung Quốc đã “biến hóa” một yêu sách đơn phương vô lý, hoang tưởng, thiếu cơ sở, trở thành một yêu sách được các bên mặc nhiên thừa nhận. 

Nếu không cảnh giác và tỉnh táo trong khi phát biểu, đàm phán, thỏa thuận với Trung Quốc thì dễ mắc cạm bẫy của Bắc Kinh. Từ đó, họ sẽ khai thác những sơ hở có thể xảy ra trong bất kỳ một diễn đàn nào để kiên trì đòi chấp thuận yêu sách vô lý của mình.  

Mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi tiếp phần 2: Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Ts Trần Công Trục
Cập nhật ngày Thứ ba, 23 Tháng 5 2017 17:02

Phải ngăn chặn sự xâm lấn biển Đông

Email In PDF.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/440464/Phai-ngan-chan-su-xam-lan-bien-Dong.html

TT - Từng nhiều lần đặt chân đến Trường Sa để nghiên cứu về tài nguyên biển, TS Dư Văn Toán - Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo (Bộ Tài nguyên - môi trường) - cho rằng chúng ta cần có những biện pháp đồng bộ và quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu VN là một quốc gia mạnh vì đảo, giàu vì biển.

 

Tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Việt Nam (ảnh chụp vào tháng 4-2011) - Ảnh: Quỳnh Ngọc

 

TS Dư Văn Toán - Ảnh: Đ.Bình
* Ông từng đề xuất tăng gấp 10 lần diện tích các khu vực biển cần được bảo vệ bảo tồn?

- Chúng tôi đề xuất Nhà nước cần sớm xây dựng cơ chế chính sách, pháp luật đồng bộ về bảo vệ tài nguyên môi trường biển. Một tổ chức cấp quốc gia thống nhất để quản lý và quy hoạch các khu bảo tồn - bảo vệ tài nguyên môi trường biển cần được thành lập. Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh việc mở rộng diện tích các khu biển của VN được bảo vệ, bảo tồn ít nhất lên 2% chứ không chỉ 0,2% như hiện nay, trong đó cập nhật bổ sung và đa dạng hóa các phương pháp tiếp cận mới như xây dựng “công viên biển”, “di sản biển”, “kỳ quan biển”, “vùng biển nhạy cảm cao”, “khu bảo tồn cá heo”, “khu bảo tồn san hô”, “khu cỏ biển”...

* Việc mở rộng vùng biển được bảo vệ có ý nghĩa thế nào với phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển - đảo VN?

- Những vùng được bảo vệ hiện nay rất nhỏ, gần các đảo, gần bờ và chỉ là những vùng lõi. Đây là những vùng cấm hoặc hạn chế khai thác nhằm bảo tồn tài nguyên và sự đa dạng sinh học biển. Việc mở rộng các vùng đệm với các quy định cụ thể về giới hạn khai thác sẽ giúp chúng ta khai thác tài nguyên thiên nhiên theo hướng lâu dài, bền vững, vừa mang lại nguồn lợi cho ngân sách, vừa đảm bảo sinh kế cho người dân. Ngoài việc khai thác nguồn lợi thủy sản, khoáng sản biển, chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn để phát triển du lịch, sinh thái và đa dạng hóa các hoạt động trên biển.

Các khu vực được bảo vệ một khi đã công bố sẽ mang tính quốc tế rộng rãi, sẽ được ghi trong danh mục các khu vực bảo tồn thiên nhiên thế giới và mọi hoạt động trên vùng biển đó đều phải thực hiện theo quy tắc chung. Chẳng hạn, tổ chức hàng hải quốc tế sẽ đánh dấu trên hải đồ là khu vực hạn chế hàng hải, khi đó các tàu bè đi trên đó phải chấp nhận quy tắc giao thông quốc tế chịu sự kiểm soát, giám sát của quốc gia có chủ quyền. Trên những vùng biển đó, Nhà nước sẽ dùng các công cụ giám sát và quản lý việc khai thác, người dân sẽ phải tuân thủ các quy định về việc khai thác và được bảo vệ bởi các lực lượng của Nhà nước. Đây cũng là cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc chủ quyền biển - đảo.

* Để tăng diện tích vùng biển được bảo vệ, chúng ta cần thêm những điều kiện gì?

- Trước hết phải tạo điều kiện để các nhà chuyên môn nghiên cứu, khảo sát về các vùng biển của mình, củng cố cứ liệu khoa học nhằm thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, công bố các dữ liệu, tiêu chí theo đúng quy định quốc tế. Cạnh đó, để kiểm soát được các vùng biển rộng hơn cần có lực lượng chuyên trách trên biển. Mỗi khu vực rộng hàng trăm kilômet vuông như vậy cần có các tàu bảo vệ, tàu giám sát...

Tôi ủng hộ thành lập hệ thống chuyên trách các tàu kiểm ngư hiện đại. Nên đầu tư khoảng 30 tàu công suất lớn, vì chúng ta có đường bờ biển trên 3.000km, mỗi 100km phải có một tàu trực, để kiểm soát toàn bộ khu vực biển này. Nếu vận tốc tàu là 50km/giờ thì trong vòng một giờ các tàu kiểm ngư đó sẽ hỗ trợ được cho ngư dân, ứng phó các tình huống xảy ra trên biển. Lực lượng chuyên trách đó sẽ kiểm soát và giám sát các hoạt động trên biển tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về khai thác, đi lại trên biển, ngăn chặn sự xâm hại các vùng biển được bảo vệ.

Tôi cũng mong Nhà nước hỗ trợ nhiều hơn cho ngư dân như phương tiện liên lạc, thông báo. Nhất là sự liên lạc giữa hải quân và ngư dân, định hướng cho ngư dân hoạt động an toàn trên các vùng biển và kịp thời ứng phó trong những trường hợp khẩn cấp.

Tôi cũng chờ đợi một hành lang pháp lý vừa mạnh mẽ, vừa cụ thể cho biển đảo VN.

* Ông chờ đợi sự ra đời của Luật biển VN?

- Những người nghiên cứu như tôi sẽ xác định được các vùng đặc thù riêng và giá trị của từng vùng. Từ đó mới đưa ra được các đề xuất để khai thác, bảo vệ, phát triển... có hệ thống và mang tính khoa học. Khi đó chúng ta vừa có thể tăng thu ngân sách từ các hoạt động kinh tế biển vừa có điều kiện để hỗ trợ, bảo vệ ngư dân tốt hơn. Chẳng hạn nhiều nước quy định rõ các vùng biển phải đấu giá khai thác, bán quyền khai thác cá và trên các vùng biển đó Nhà nước bảo vệ những tổ chức, cá nhân, kể cả nhà đầu tư nước ngoài được cấp phép đánh bắt, khai thác hải sản.

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL