Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

forcefetish.net

Thursday, Jun 29th

Last update04:16:08 PM GMT

You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Phán quyết Biển Đông: lợi, hại và tương lai.

Email In PDF.

 

  • 19 tháng 7 2016

Philippines đã có một chiến thắng pháp lý lịch sử. Vượt trội phần lớn các dự đoán, họ đã thắng gần như toàn bộ 15 điểm được đưa ra trước Tòa.

Trên phương diện pháp lý, họ đã “đuổi” không chỉ Trung Quốc mà cả Việt Nam và Đài Loan ra khỏi phần lớn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đảo Palawan và Luzon. Phán quyết của Tòa có lợi ích lớn lao cho Việt Nam, nhưng cũng đem lại rủi ro tiềm tàng.

Có lợi

Bản đồ Biển Đông của tác giả Dương Danh HuyImage copyrightOTHER
Image captionCó lợi: yêu sách biển Trung Quốc bị đẩy lùi về các vòng tím

Với việc phán quyết bác bỏ hai lập luận “quyền lịch sử đối với EEZ” và “Trường Sa có EEZ 200 hải lý”, không nước nào có thể lợi dụng tranh chấp Trường Sa để đòi quyền lợi trên biển cách các đảo này hơn 12 hải lý.

Như vậy, mọi lập luận của Trung Quốc nhằm lấn lướt Việt Nam trong các khu vực Nam Côn Sơn, Tư Chính và bể trầm tích Phú Khánh lên đến khoảng vĩ tuyến 14°30’ (giữa Quy Nhơn và Quảng Ngãi) đã bị bác bỏ. Những động thái như gây áp lực với các tập đoàn dầu khí, cắt cáp tàu Bình Minh và Viking sẽ bị thế giới thấy rõ ràng là gây hấn trong EEZ của nước khác.

Nếu tàu cá Trung Quốc đánh bắt trong EEZ cách bờ biển Việt Nam dưới 200 hải lý nam khoảng vĩ tuyến 14°30’ (giữa Quy Nhơn và Quảng Ngãi), thì đó cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm EEZ của nước khác.

Việc Trung Quốc ngăn cản và đàn áp ngư dân Việt Nam đánh bắt trong lãnh hải 12 hải lý của các đảo Hoàng Sa cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm quyền đánh cá lịch sử bên trong lãnh hải các đảo Hoàng Sa, dù thế giới không nghiêng về bên nào trong tranh chấp các đảo này. Nếu Trung Quốc xây đảo tại Hoàng Sa, thì đó cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển.

Việc tàu thuyền nhà nước của Trung Quốc đâm húc tàu thuyền Việt Nam cũng rõ ràng là bất hợp pháp.

Như vậy sẽ thuận tiện cho Việt Nam trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, và hy vọng là Trung Quốc sẽ bớt ngang ngược phần nào. Họ sẽ khó ngụy biện đó là vùng có tranh chấp và hành động của Việt Nam là khiêu khích trước, họ phải phản ứng.

Cho đến nay, nội bộ Việt Nam, từ người dân đến lãnh đạo, vẫn chưa quyết định về Trường Sa có nên được hưởng quy chế EEZ hay không.

Có quan điểm cho rằng Trường Sa là của Việt Nam, do đó nếu quần đảo này được hưởng quy chế EEZ thì sẽ có lợi cho Việt Nam, cũng như có quan điểm cho rằng một số bãi ngầm và bãi lúc nổi lúc chìm là của Việt Nam bất kể chúng cách xa các đảo bao nhiêu.

Có quan điểm ngược lại cho rằng quy chế EEZ cho Trường Sa là con dao hai lưỡi mà Trung Quốc có thể dùng để đẩy vùng tranh chấp sâu vào các vùng biển ven bờ Việt Nam. Có lẽ phán quyết của Tòa sẽ giải quyết sự lưỡng lự cho Việt Nam và nhờ đó Việt Nam sẽ có quan điểm nhất quán và rõ ràng hơn.

Những hệ quả tốt này rất quan trọng cho Việt Nam trong việc chống lại các yêu sách trên biển quá lố của Trung Quốc.

Bất lợi

Bản đồ Biển Đông của tác giả Dương Danh HuyImage copyrightDUONG DANH HUY
Image captionBất lợi: Philippines, Malaysia được khoảng 3/4 vùng biển giữa các đảo Trường Sa 

Phán quyết của Tòa cũng có hệ quả xấu cho Việt Nam.

“Xấu” không phải là nó bất công cho Việt Nam - phán quyết của một Tòa án quốc tế là thước đo khách quan nhất cho sự công bằng trong việc diễn giải luật quốc tế. “Xấu” cũng không phải vì nó gây thiệt hại vật chất cho Việt Nam hay buộc Việt Nam phải làm gì bất lợi - Việt Nam không phải là bị cáo của phiên tòa và không bị ràng buộc bởi phán quyết. “Xấu” chỉ là vì nó có hệ quả pháp lý mà một ngày nào đó Philippines hay Malaysia có thể dùng để chống, hay kiện, Việt Nam nếu họ muốn.

Theo phán quyết của Tòa, bãi Cỏ Rong, bãi Cỏ Mây và đá Vành Khăn thuộc về EEZ Philippines. Đối với người có quan điểm các thực thể đó là của Việt Nam thì đó là hệ quả xấu.

Mặc dù Philippines không kiện Việt Nam và không đề cập đến một số bãi lúc nổi lúc chìm cách đảo hơn 12 hải lý, thí dụ như đá Long Điền (Boxall), đá Tốc Tan (Alison), đá Núi Le (Cornwallis), đá Kiệu Ngựa (Ardasier Reef), đá Suối Cát (Dallas) theo nguyên tắc được áp dụng trong phán quyết thì chúng có thể sẽ thuộc về EEZ của Philippines hoặc Malaysia.

Philippines và Malaysia có thể viện dẫn phán quyết để ngăn cấm Việt Nam đánh cá hoặc khai thác kinh tế trong EEZ 200 hải lý tính từ Palawan và Sabah và bên ngoài lãnh hải 12 hải lý của các đảo Trường Sa.

Bản đồ vùng Biển Đông với
Image captionBản đồ vùng Biển Đông với "đường chín đoạn"/"đường lưỡi bò" do Trung Quốc vạch ra

Giả sử như trong tương lai có một tòa án quốc tế phán quyết rằng tất cả các đảo Trường Sa là của Việt Nam và các nước kia tuân thủ thì những hệ quả xấu này vẫn sẽ áp dụng, tức là vẫn không có quyền khai thác tài nguyên trong phần lớn khu vực Trường Sa, vẫn không được đòi một số bãi lúc nổi lúc chìm.

Nhưng bất kể những hệ quả xấu trên, Việt Nam không nên phản đối phán quyết. Điều đó sẽ là sai lầm.

  • Phán quyết của Tòa là thước đo khách quan nhất cho sự công bằng.
  • Nếu Việt Nam phản đối thì Trung Quốc sẽ hưởng lợi.
  • Với tương quan lực lượng giữa các nước trong tranh chấp, nếu không có phán quyết này thì trên thực tế Việt Nam cũng không giành được đá Vành Khăn từ Trung Quốc, bãi Cỏ Mây từ Philippines, đá Kiệu Ngựa từ Malaysia, vv.
  • Vì Việt Nam không bị ràng buộc bởi phán quyết này, những hệ quả xấu trên chỉ có tính tiềm tàng.
  • Tổng cộng lại thì các hệ quả tốt vẫn to lớn hơn các hệ quả xấu.
Mục đích chiến lược của Philippines
Bãi ScarboroughImage copyrightREUTERS

Để đánh giá chính xác các hệ quả xấu, chúng ta cần đặt chúng vào văn cảnh mục đích chiến lược của Philippines.

Mục đích ban đầu và cho tới hiện nay của Philippines không phải là đẩy Việt Nam ra khỏi các bãi lúc nổi lúc chìm, hay ra khỏi vùng biển trong phần chính của quần đảo Trường Sa.

Mục đích của họ là bảo vệ (a) bãi Cỏ Rong, (b) khu vực Scarborough, (c) bãi Cỏ Mây, vốn đang bị Trung Quốc phong tỏa, (d) khu vực rìa phía Đông của quần đảo Trường Sa và sâu trong EEZ Palawan.

Mục đích của họ là chống lại các yêu sách biển của Trung Quốc, đặc biệt là tại những khu vực trên.

Chiến thắng của Philippines, tuy mục đích là để chống Trung Quốc, có hệ quả phụ là cho họ một vị trí pháp lý mà họ có thể dùng để “thừa thắng xông lên” giành quyền lợi từ Việt Nam nếu họ muốn.

Trên thực tế, trong khi Trung Quốc còn là mối đe dọa cho Philippines thì khả năng là Philippines sẽ không muốn vận dụng phán quyết này để chống lại Việt Nam, và những hệ quả xấu chỉ là tiềm tàng.

Các bãi lúc nổi lúc chìm cách các đảo khác hơn 12 hải lý không được hưởng quy chế lãnh hải 12 hải lý và quy chế EEZ 200 hải lý. Do đó, chúng không phải là nguồn lợi cho Việt Nam hay Philippines.

Ngược lại, chúng là một mối nguy cho cả hai nước: Trung Quốc có thể chiếm đóng và xây căn cứ quân sự. Vì vậy, mục đích của việc đóng quân không phải là để giành tài nguyên mà là để không cho Trung Quốc chiếm. Do đó, có thể Philippines thấy họ không cần tìm cách giành lại từ Việt Nam.

Hải quân Philippines cắm cờ tại Scarborough Shoal, 1997Image copyrightAFP
Image captionHải quân đưa ba nghị sĩ Philippines ra cắm cờ tại Scarborough Shoal, 1997, đánh dấu chủ quyền nước này.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng trong quá khứ Philippines cũng đã có những hành động bất lợi cho Việt Nam, thí dụ như năm 2009 họ phản đối các báo cáo thềm lục địa của Việt Nam, trong khi lại không phản đối việc Trung Quốc gửi bản đồ đường lưỡi bò cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, và năm 2004 họ ký thỏa thuận song phương với Trung Quốc để khảo sát chung trong khu vực Trường Sa. Do đó, Việt Nam vẫn cần có biện pháp để dự phòng.

Dù sao đi nữa, mối đe dọa lớn nhất cho Việt Nam tại Biển Đông vẫn là Trung Quốc.

Tương lai

Phán quyết này mới chỉ là chiến thắng pháp lý, chưa là chiến thắng trên thực tế. Điều thay đổi là phương tiện và điều kiện thuận lợi cho kháng cự sự bành trướng từ phương Bắc. Điều không thay đổi là Việt Nam vẫn còn phải kháng cự.

Hải quân Mỹ và Philippines diễn tập quân sự tại ScarboroughImage copyrightAP
Image captionHải quân Mỹ và Philippines diễn tập quân sự tại Scarborough 

Để không phí phạm những hệ quả tốt, Việt Nam phải vừa vận dụng chúng trong lĩnh vực ngoại giao, vừa phải sẵn sàng kiện Trung Quốc. Điều đáng lo là Việt Nam đã quá dè dặt về việc kiện Trung Quốc.

Có thể hỏi:
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc xây đảo là vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển, và thắng kiện, trong khi Việt Nam đã không kiện? Nếu Trung Quốc xây đảo với quy mô lớn tại Hoàng Sa thì Việt Nam có sẽ kiện không?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc cấm cản ngư dân họ đánh bắt tại Scarborough, và thắng kiện, trong khi Việt Nam không kiện Trung Quốc cấm cản ngư dân Việt Nam đánh bắt trong lãnh hải các đảo Hoàng Sa và bắn họ khi họ vào tránh bão? Bao giờ Việt Nam mới kiện?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc sử dụng tàu thuyền chấp pháp một cách nguy hiểm, có thể gây đâm húc, và thắng kiện, nhưng Việt Nam không kiện tàu chấp pháp và tàu tư nhân Trung Quốc đâm húc tàu thuyền Việt Nam hàng loạt, thậm chí đâm chìm? Nếu việc đó tái diễn, Việt Nam có kiện không?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc lấn lướt trong khu vực bãi Cỏ Rong, và thắng kiện, nhưng Việt Nam không kiện Trung Quốc lướt trong các khu vực Nam Côn Sơn, Tư Chính, bồn trầm tích Phú Khánh? Nếu việc đó tái diễn, Việt Nam có kiện không?
  • Nếu Trung Quốc lấn lướt hay gây hấn trong khu vực ngoài khơi miền Trung cách quần đảo Hoàng Sa dưới 200 hải lý, nhưng cách Hải Nam hơn 200 hải lý, Việt Nam có chọn quan điểm Hoàng Sa không được hưởng quy chế EEZ và có kiện hay không?

Những vấn đề trên để lại nghi vấn về có hay không những vấn đề nội bộ và đối ngoại có thể ảnh hưởng đến khả năng của Việt Nam trong việc tận dụng những hệ quả tốt của phán quyết.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Tác giả cảm ơn Phạm Quang Tuấn, Phan Văn Song và các thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông đã góp ý cho bài viết
 
http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/07/160719_forum_scs_duong_danh_huy_china_philippines_ruling

Biển Đông diễn biến bất lợi, Việt Nam tăng cường phòng thủ Trường Sa

Email In PDF.

Một loạt những diễn biến gần đây trong và ngoài khu vực có phần không có lợi cho Việt Nam trong quyết tâm chống lại sức ép của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Có lẽ vì đã dự phòng khả năng xấu đó mà Việt Nam đã kín đáo tăng cường phòng thủ các thực thể mình đang kiểm soát ở vùng quần đảo Trường Sa, để tránh bị bất ngờ nếu Trung Quốc làm càn.

Vấn đề nói trên đã được nêu bật với báo cáo ngày 15/11/2016 của trung tâm thông tin Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải AMTI thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS của Mỹ, tiết lộ những hoạt động xây dựng mới của Việt Nam trong vùng đang bị tranh chấp. Đã có nhiều giả thuyết được đưa ra, nhưng có một điều chắc chắn : Đó là vào lúc này, Việt Nam là nước duy nhất tại Đông Nam Á vẫn kháng lại sức ép của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, trái với Philippines và Malaysia đã tỏ dấu hiệu khuất phục Bắc Kinh.

Gọng kềm từ hai phía của Bắc Kinh

Từ một nước đi đầu trong việc chống lại Trung Quốc, với tân tổng thống Duterte, Philippines đã rời xa Mỹ và ngả vào vòng tay Trung Quốc để tranh thủ những khoản đầu tư, tín dụng và lợi ích kinh tế hậu hĩnh. Theo chân ông Duterte, thủ tướng Malaysia cũng chạy theo Trung Quốc, để được tài trợ với những khoản đầu tư to lớn. Biển Đông đối với hai nước này đã trở thành thứ yếu.

Trung Quốc cũng đã chiêu dụ được Lào, chủ tịch ASEAN năm nay, và vung tiền nắm chắc Cam Bốt với kết quả là tránh được việc Hiệp Hội Đông Nam Á ASEAN nhắc đến phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng Tài La Haye cho dù đó là một văn kiện được cho là tối quan trọng cho an ninh Đông Nam Á.

Một cái nhìn bi quan sẽ phát hiện ra là Việt Nam như đã bị lọt vào trong gọng kềm của Trung Quốc, trên biển thì khó dựa vào Philippines hay Malaysia khi cần, trên bộ thì phải thận trọng, nhất là với Cam Bốt.

Trên trường quốc tế, sự kiện ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ cũng có thể ảnh hưởng đến chính sách Biển Đông của Việt Nam, nhất là khi nhân vật này đã dọa dẹp bỏ ngay lập tức hiệp định TPP, một thành tố quan trọng trong chính sách xoay trục qua châu Á-Thái Bình Dương của người tiền nhiệm Barack Obama, vốn rất có lợi cho Việt Nam cho đến nay. Mối quan ngại hiện nay là với tâm lý " con buôn ", liệu ông Trump có sẽ chiều ý Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông nêu được Trung Quốc « đền bù » xứng đáng hay không ?

Từ phi đạo đến pháo phản lực

Chính trong toàn cảnh đó mà thông tin về việc Việt Nam kéo dài phi đạo trên đảo Trường Sa Lớn và cho xây dựng một số nhà chứa máy bay tại chỗ được tiết lộ vào trung tuần tháng 11 vừa qua, kèm theo là một số ảnh vệ tinh chỉ rõ những gì mới được xây dựng.

Thông tin trên nối tiếp theo một thông tin khác không được kiểm chứng do hãng tin Anh Reuters đưa ra vào tháng 08/2016, theo đó Việt Nam đã kín đáo chuyển pháo phản lực EXTRA có độ chính xác cao - mua của Israel – ra 5 căn cứ ở Trường Sa, bố trí ở những nơi có thể tấn công các phi đạo và căn cứ quân sự của Trung Quốc trong khu vực.

Trước các động thái của Việt Nam, một số nhà quan sát đã vội vàng cho rằng Việt Nam đang thách thức Trung Quốc ở Biển Đông, thậm chí còn tự hỏi là phải chăng Việt Nam đang châm lại mồi lửa ở Biển Đông.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long : Đề phòng Trung Quốc là chính

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Biển Đông và Trung Quốc tại trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ), thì các động thái của Việt Nam mới đây của Việt Nam tại Trường Sa chỉ nhằm mục tiêu phòng thủ. Trả lời Ban Việt Ngữ, giáo sư Long nhận định :

Ngô Vĩnh Long :Về việc Việt Nam kéo dài phi đạo và đang xây hai nhà chứa máy bay trên thực thể gọi là “đảo Trường Sa” thì tôi không nghĩ việc này có nghĩa là Việt Nam đang chuẩn bị đánh nhau với Trung Quốc.

Nếu báo cáo hôm 15 tháng 11 vừa qua của Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế và Chiến Lược CSIS tại Mỹ là đúng, thì Việt Nam đã nối dài đường bay từ khoảng dưới 750 mét đến khoảng 990 mét.

Báo cáo trên nói thêm là Việt Nam có thể sẽ xây đường bay này dài đến khoảng 1200 mét trong tương lai, nhưng đến lúc đó thì các máy bay phản lực của Việt Nam vẫn khó có thể sử dụng đường bay này vì vẫn chưa đủ dài và vẫn chật hẹp.

Ngược lại thì hiện nay tại 3 cái đảo nhân tạo lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực Trường Sa có những phi đạo dài hơn cái phi đạo mà Việt Nam đang xây rất nhiều và có nhà chứa đủ cho khoảng 24 máy bay phản lực trên mỗi đảo nhân tạo đó.

Tôi cũng xin nói thêm về việc anh đã đề cập đến là Việt Nam đưa hỏa tiễn ra Trường Sa : Tháng 8/2016, tôi đã hỏi một số nhân vật rất cao cấp trong chính phủ Việt Nam, thì được trả lời rằng đó chỉ là vấn đề tập luyện, tức là đưa ra đưa vào, chứ Việt Nam không có ý định đưa hẳn các hỏa tiễn ra đảo, vì như vậy rất nguy hiểm. Nếu mà Trung Quốc biết được thì Trung Quốc có thể bắn phá. Cho nên vấn đề là tập luyện và đề phòng.

Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, động thái của Việt Nam không phải là thách thức Trung Quốc mà chính là để tạo thêm điều kiện tự vệ, qua đó cảnh báo các nước khác về khả năng Trung Quốc có thể làm càn tại Biển Đông nếu chính sách xoay trục của Mỹ gặp khó khăn do chính quyền mới của ông Donald Trump.

Ngô Vĩnh Long : Tôi nghĩ rằng Việt Nam không có ý định thách thức Trung Quốc. Theo báo cáo của AMTI, đối với phi đạo, sau khi hoàn thành thì Việt Nam sẽ có thể sử dụng đường bay và hai nhà chứa máy bay mới cho việc tuần tra khu vực Trường Sa.

Đây là một hành động để phòng vệ và để cảnh giác các nước khác là trước khả năng chính sách “tái cân bằng” về Châu Á của Obama sẽ bị hạn chế, nếu không nói là bị phá vỡ, thì an ninh trong khu vực Biển Đông có thể sẽ bị Trung Quốc đe doạ trầm trọng.

Xin nhắc sơ qua ở đây là chính sách “tái cân bằng” được đặt trên nền tảng xây dựng các hệ thống đa phương, trong đó có ASEAN và hiệp định tự do mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP không chỉ là một hiệp định thương mại giữa 12 nước mà đồng thời cũng là một hệ thống an ninh đa phương với ý định củng cố ASEAN và các hiệp định an ninh giữa Mỹ và các nước khác trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính quyền Obama nghĩ rằng Mỹ không có thể đơn thương độc mã bảo vệ an ninh trong khu vực mà phải dựa vào sự ủng hộ của các nước khác.

Nhưng trong cuộc tranh cử tổng thống ở Mỹ vừa qua một số ứng cử viên đã chống TPP kịch liệt (như Donald Trump và Bernie Sanders) hoặc đòi phải đàm phán lại để cho Mỹ có lợi hơn (như Hillary Clinton). Với việc TPP không được phê chuẩn bởi Quốc Hội Mỹ, một số nước ASEAN (như Philippines, Malaysia và Indonesia) đã có thái độ mập mờ, nếu không nói là đã cho thấy đang nghiêng về phía Trung Quốc.

Nếu không muốn ASEAN bị lung lay hay bị tê liệt, và qua đó tạo cơ hội cho Trung Quốc càng leo thang ở Biển Đông, thì Việt Nam không thể hững hờ trước sự đe doạ an ninh của Trung Quốc. Việt Nam không còn có cơ hội đu dây nữa nên phải có thái độ dứt khoát hầu có thể vận động các nước khác trong việc bảo vệ an ninh và lợi ích chung.

Chấp nhận căng thẳng để đánh động quốc tế

Riêng về khả năng động thái của Việt Nam làm dấy lên căng thẳng, đặc biệt là với Trung Quốc, giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng điều đó sẽ có tác dụng thức tỉnh đối với chính quyền Donald Trump về hiểm họa Trung Quốc, để đề phòng việc ông Trump" đi đêm " với Trung Quốc, điều không thể loại trừ.

Ngô Vĩnh Long :Nếu có bùng lên căng thẳng thì việc này có thể sẽ làm cho thế giới rõ thêm về hiểm hoạ của Trung Quốc. Hiện nay chưa rõ chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, nói riêng, và Châu Á Thái Bình Dương, nói chung, là như thế nào trong tương lai gần hay xa.

Trong khi tranh cử tổng thống Trump đã doạ là sẽ tăng thuế quan trên các mặt hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ đến khoảng 45% để đem công ăn việc làm về cho lao động Mỹ. Trump cũng nói là sẽ đóng thêm mấy trăm chiến thuyền cho hải quân Mỹ. Nhưng có thể đây chỉ là một cách mị dân để lấy phiếu hay để đàm phán với Trung Quốc.

Trong trường hợp Trump chơi tay đôi với Trung Quốc theo chiến lược “cân bằng quyền lực” (balance of power) thì Trump sẽ sẵn sàng hi sinh lợi ích của các nước nhỏ. Thêm vào đó thì ê-kíp về an ninh và quốc phòng mà Trump đã chọn cho đến nay đều là các vị tướng bộ binh đã chỉ huy các chiến trường vùng Trung Đông và đã chống chính sách của Obama về việc rút quân ra khỏi vùng này để “xoay trục” về Châu Á Thái Bình Dương. Do đó sẽ có việc tranh giành ảnh hưởng giữa các binh chủng mà giới quân đội gọi là “turf wars” (chiến tranh dành sân chơi). Vậy chưa chắc gì những chiến thuyền mới, nếu có được đóng đi nữa, sẽ được điều động sang Tây Thái Bình Dương.

Nếu có nguy cơ bùng lên căng thẳng thì tôi nghĩ việc này có thể giúp nhắc nhở Trump và các vị tướng xung quanh ông rằng Biển Đông, nơi mà hơn 50% các hàng mậu dịch di chuyển trên biển của toàn cầu phải xuyên qua, thì không phải là nơi họ có thể bỏ rơi cho Trung Quốc được.

Các cử chỉ và hành động của Trump cho đến nay chứng tỏ là ông ta cần được nhắc nhở và cần được tự chứng tỏ.

Tóm lại, theo giáo sư Ngô Vĩnh Long việc củng cố cơ sở tại Trường Sa cho phép Việt Nam chủ động tự bảo vệ, đồng thời cảnh báo các nước khác.

Ngô Vĩnh Long : Việt Nam phải năng động, và phải có những hành động nhắc nhở các nước ASEAN, nhắc nhở các nước lớn là nếu mà họ đi đêm với nhau về Biển Đông, thì Việt Nam cũng có phương cách để bảo vệ mình, cũng như bảo vệ an ninh trong khu vực, và nếu mà có rối ren trong khu vực Biển Đông, thì các nước nhỏ trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng trước nhất.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20161205-bien-dong-dien-bien-bat-loi-viet-nam-tang-cuong-phong-thu-truong-sa

Giới thiệu cuốn sách Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và tòa án quốc tế

Email In PDF.

Trong số các cuốn sách viết về việc giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ thì có cuốn "Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế" của ông g/s Kaneko, Đại học Sapporo, Hokkaido, Nhật Bản, rất nên tham khảo để đưa ra đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Cuốn này có hai phiên bản với mục lục như sau:

Phiên bản 2 (2009): Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế
Từ bảo vệ lãnh thổ quốc gia dân tộc hướng tới Liên bang thế giới?
 
Mục lục

Phần 1 Lịch sử vấn đề lãnh thổ Nhật Bản
1. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Nga - Về vùng lãnh thổ phía bắc
2. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Trung Quốc - Về vùng quần đảo Senkaku
3. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Hàn Quốc - Về vấn đề đảo Take (Trúc Đảo - Takeshima)

Phần 2 Phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ biên giới
4. Nguyên nhân thương lượng ngoại giao không đạt hiệu quả
5. Nghĩa vụ giải quyết tranh chấp
6. Giải quyết bằng tư pháp
7. Sự lựa chọn thích hợp cách giải quyết bằng tư pháp

Phần 3 Nghiên cứu án lệ tranh chấp lãnh thổ biên giới
8. Lịch sử án lệ vấn đề biên giới quốc gia
9. Án lệ liên quan đến tranh chấp biên giới thời cận đại
10. Phát sinh tranh chấp và mở rộng nhu cầu
11. Phán quyết một phía hay cả hai phía tự cho mình là đúng
12. Lập pháp tư pháp và sự phát triển luật quốc tế
13. Thương lượng ngoại giao và các phương pháp giải quyết hòa bình khác
14. Từ vùng đất tranh chấp đến rút lui quân đội
15. Phiên tòa quốc tế trong trường hợp thương lượng ngoại giao thất bại
16. Thương lượng ngoại giao và tiến hành đồng thời tòa án quốc tế
17. Ngày quyết định
18. Từ bỏ, nhầm lẫn và tính ổn định của biên giới quốc gia - Liên quan tới quần đảo Kurile
19. Nghĩa vụ thực hiện hiệp ước - Liên quan đến Tuyên bố chung Nhật-Nga
20. Chiếm hữu từ trước và chiếm đóng có hiệu quả - Liên quan đến đảo Take và quần đảo Senkaku
21. Án lệ liên quan đến đảo
22. Thực thi phán quyết - Một số trường hợp không thực thi

Phần 4 Từ Tòa án Công dân Thế giới đến Tòa án Toàn nhân loại
23. Công dân thế giới phủ quyết việc chiếm giữ bằng vũ lực
24. Sự kiện phó thác cho Tòa án Công dân Thế giới
25. Sự phát triển nền pháp trị của cộng đồng thế giới

Phần 5 Từ cải cách Liên hợp quốc đến Liên bang thế giới và Hòa bình vĩnh cửu - Giải quyết các vấn đề lãnh thổ và các vấn đề khác
26. Liên Hợp Quốc không phù hợp với nhu cầu của thế kỷ 21
27. Liên Bang Thế Giới

Phiên bản 1 (2001):
Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế
Mục tiêu sử dụng hai phương pháp giải quyết bằng thương lượng ngoại giao và tư pháp

Mục lục
Phần 1 Lịch sử vấn đề lãnh thổ Nhật Bản
Phần 2 Khu vực hóa hòa bình các quần đảo có tranh chấp
Phần 3 Phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ biên giới
Phần 4 Nghiên cứu án lệ tranh chấp lãnh thổ biên giới
Phần 5 Thành lập Tòa án Công dân Thế giới

*****************************

Tóm tắt và trích đoạn bằng tiếng Nhật:

Phiên bản 2 (tiếng Nhật)

世界の領土・境界戦争と国際裁判【第2版】 (単行本)
民族国家の割拠か世界連邦へ向かって
金子 利喜男 (著)


目次

第1部 日本の領土問題の沿革
第2部 領土・境界紛争の解決方法
第3部 領土・境界紛争の判例研究
第4部 世界市民法廷から全人類裁判所へ
第5部 国連変革から世界連邦と恒久平和へ―領土・その他の諸問題の解決
資料編
内容(「BOOK」データベースより)
本書では、領土問題の解決手段のひとつとして、また一般に紛争解決の方法として、司法的解決方法に注意をはらった。問題が外交交渉で解決できない場合、法的問題については、国連の国際司法裁判所に解決をまかせつつも、同時並行的に外交交渉もおこなうことも提言している。著者略歴 (「BOOK著者紹介情報」より)
金子 利喜男
1942年、秋田県生まれ。早稲田大学政治経済学部を卒業後、1968年から早稲田大学大学院の修士課程と博士課程を通して、入江啓四郎教授や宮崎繁樹教授のもとで国際法を研究。1982年、札幌大学に助教授として赴任し、外国語学部ロシア語学科で国際関係論、日ロ関係論、ロシア語などの科目を担当しつつ、日ロ関係年鑑を出版し、とくに北方領土問題を研究してきた。1995年、同大の教授となってから、領土問題の司法的解決の論調を強め、この問題が20 世紀中に解決できないとみるや、2000年の春に世界市民法廷を設立し、その会長に就任する。2007年には、ジュネーヴでの世界連邦運動協会(WFM) の60周年大会で世界連邦府の創設を提案し、2009年それを世界平和連邦府(WPF)として結実。その会長に選出される。世界連邦実現探究世界大会を主催。2007年には、北海道ロシア文化協会の副会長(本データはこの書籍が刊行された当時に掲載されていたものです)
 
Mục lục chi tiết

http://www.hanmoto.com/bd/ISBN978-4-7503-2978-9.html

紹介
出口の見えない領土問題の解決案として、外交交渉と司法的解決の併用を提言する。世界の代表的な領土・境界紛争に関する国際司法裁判所の判例解説、世界市民法廷・世界連邦の提言を通し、これからの平和的世界の構築を目指す。内容を大幅に改訂した第2版。
目次
はしがき
凡例と参考文献
序文に代えて——日ロ民間共同宣言について——

第1部 日本の領土問題の沿革

はじめに

第1章 日ロ間の領土問題——北方領土をめぐって——
1 千島の先住民族と黎明期の交流
2 日露間の初期の領土関係条約
3 第2次世界大戦直後と北方領土問題
4 サンフランシスコ対日講和条約
5 日米安保条約と高まる北方の壁
6 80年代後半の一条の陽光
7 国際裁判に注目
8 アイヌ民族の動き
9 ゴルバチョフ大統領の訪日と領土問題
10 新生ロシアと司法的解決案
11 訪日準備委員会の司法的解決構想
12 エリツィン訪日後の不透明感
13 北方領土と諸外国との経済貿易関係
14 クラスノヤルスク会談と川奈会談
15 モスクワ会談まえの小渕首相への書簡
16 アイヌ民族の先住権の要求
17 司法的解決の賛同者の増加
18 閉塞感から世界民間法廷設立準備に決起
19 プーチン大統領と森首相の仕切り直し

第2章 日中間の領土問題——尖閣諸島をめぐって——
1 紛争の経過の概要
2 中国側の主張
3 日本側の主張
4 中華民国側の主張
5 その後の経過

第3章 日韓間の領土問題——竹島問題をめぐって——
1 紛争の経過の概要
2 当事国の主張
3 日本の国際司法裁判所付託提案
4 国際司法裁判所付託提案の韓国による拒否
5 その後の経過

第2部 領土・境界紛争の解決方法

はじめに

第4章 外交交渉の無果実の原因
1 紛争当事者の民族主義的志向
2 東アジア・ロシアの政治・地政学的風土
3 国際法治社会の軽視
4 一方的または双方の独善的判断
5 互譲・互恵の精神の欠如
6 一般市民と外交当事者の感覚のずれ
第5章 紛争解決の義務
1 政治的ゲームに踊る外交交渉
2 合意達成の義務
3 問題解決に展望があるか
第6章 司法的解決
1 錯綜する理論の複雑さ
2 国際司法裁判所の判決と勧告的意見
3 国境画定のさいの苦悩とその緩和措置
第7章 司法的解決の友好的選択
1 より合理的な解決方法
2 大いなる誤解

第3部 領土・境界紛争の判例研究

第8章 国境問題の判例史
第9章 近代の境界紛争にかんする判例
マリア・ルース号事件(判決は1875年6月)
家屋税事件(常設仲裁裁判所、判決は1905年5月)
第10章 紛争の発生と要求の拡大
1 東部グリーンランドの法的地位事件
2 メイン湾境界画定事件
第11章 一方または双方の独善的判断——変動期の複雑な灰色の法律関係と大陸棚の判例——
3 大陸棚境界画定事件
4 リビア・マルタ大陸棚事件
5 グリーンランドとヤン・マイエン島間海域境界事件
第12章 司法的立法と国際法の発展
6 南西アフリカの地位事件
7 南西アフリカ事件
8 ナミビア事件
第13章 外交交渉と他の平和的解決手段
9 アールー山事件
10 北海大陸棚事件
11 リビア・チャド領土紛争事件
第14章 係争地からの軍隊の撤退
12 カッチ事件
13 マリ・ブルキナファソ国境紛争事件
第15章 外交交渉失敗の場合の国際裁判
14 ウォルフィッシュ湾地区境界事件
15 チャコ事件
第16章 外交交渉と国際裁判の同時進行
16 カタール・バーレーン間海洋境界画定と領土問題事件
17 カメルーン・ナイジェリア間の陸地と海洋境界事件
第17章 決定的期日
18 アラスカ国境事件
19 パルマス島事件
20 カシキリ/セドゥドゥ島事件
第18章 放棄、錯誤と国境の安定性——「千島列島」との関連で——
21 北大西洋沿岸漁業事件
22 ティモール島事件
23 国境地区の主権にかんする事件
24 プレア・ビヘア寺院事件
第19章 条約の履行義務——日ソ共同宣言との関連で——
25 タクナ・アリカ事件
第20章 先占と実効的支配——竹島と尖閣諸島との関連で——
26 マンキエ・エクレオ諸島事件
27 リギタン島とシパダン島の主権にかんする事件
第21章 島にかんする判例
28 グリスバダルナ事件
29 クレタ島とサモス島の灯台の事件
第22章 判決の履行——不履行はわずか——
30 エル・チャミザル事件
31 コロンビア・ベネズエラ国境事件

第4部 世界市民法廷から全人類裁判所へ

第23章 独善と力の支配を地球民が止揚
1 地球の点から面へ
2 世界市民万人の簡易提訴
第24章 世界市民法廷への付託事件
1 ついに北方領土問題が提訴される
2 カシミール事件と核戦争の危険性
4 イラク戦争事件
第25章 法治地球社会の発展
1 全人類裁判所
2 世界平和連邦府による世界市民法廷の継承

第5部 国連変革から世界連邦と恒久平和へ——領土・その他の諸問題の解決——

第26章 21世紀の要請に合致しない国際連合
1 国連変革
2 金子私案
第27章 世界連邦
1 世界連邦への道
2 世界連邦運動
3 日本における世界連邦運動
4 北海道における世界連邦運動

むすびに

資料編
日本側およびロシア側への第2次提案
イラク情勢にかんする世界市民法廷会長の声明
世界平和連邦府大綱(案)の要点
世界連邦実現探究洞爺湖宣言
前書きなど
はしがき

ゲーテのこの言葉[注:ゲーテ『若きヴェルテルの悩み』、1772年9月4日の日記。書籍では引用]は、きびしく当時の教養人を批判しているが、現代では教養人であろうとなかろうと、みな協力しあえば、地球を持続可能な全人類のための共同体として発展できる可能性がたかまる一方、その逆の場合、さまざまな面で地球と人類は病みつづけるであろう。そうであってはならない。
本書では、領土問題の解決手段のひとつとして、また一般に紛争解決の方法として、司法的解決方法に相当の注意をはらった。問題が外交交渉で解決できない場合、法的問題については、国連の国際司法裁判所に解決をまかせつつも、同時並行的に外交交渉もおこなうことも提言している。
わが国、中国、韓国などの東北アジア諸国、それにロシアは、政治・外交的解決を重視し、法的争点の解決を国際裁判にまかせることを好まない。しかし、法的問題を長年にわたって解決できないときにどうするか、ということである。このような場合、まさしく国際裁判、または外交交渉と国際司法裁判所による同時並行的で、競合的な解決方法が、より公正、より確実、より早期の問題打開の突破口となることは、疑問の余地がない。
政治家や外交官とことなり、日ロ両国民の大多数は、このような合理的な解決方法に賛成するであろう。わたくしは、1997年の夏から、ロシアではウラジオストク、ハバロフスク、モスクワに旅行し、また日本では、札幌、根室、苫小牧、青森県、秋田県などで、いろいろな人びとと話し、ときには講演しながら、アンケート調査をおこない、また函館市や新潟市、それに早稲田大学の多賀秀敏教授からも、受講生にたいするアンケート調査結果がおくられてきた。その結果、おどろくべき数字があらわれた。外交交渉失敗の場合、領土問題を国連の国際司法裁判所へ付託すべきであると回答した者が、1999年11月3日現在では、ロシア人は69%(104名中72名)、日本人は77%(585名中451名)である。
わたくしを勇気づけるのは、ゲーテのことばだけでなく、賛成した大多数の親愛なる日ロ両国民の声である。中国人や朝鮮半島の人びとも、国際法治社会を樹立すべきであるとの構想に、時代の流れとともに賛同していくであろう。
現状の国際社会は、法治社会というにはほど遠い。2000年5月から、現在のもろもろの国際裁判所を補完するものとして、筆者の先導によりNGOの世界市民法廷(WOCIT)が活動してきた。国連の常任理事国の拒否権、侵害国が逃れることができるような弱い国際司法裁判所、かかる現行の国際制度が、新世紀の世界市民社会に適合しているはずがない。とりわけ、ここに世界市民法廷設立の存在理由がある。
世界市民法廷には11の事件が付託されてきた。同法廷は、日本・ロシア・アイヌ民族間の領土紛争事件については、この問題を外交交渉で解決できなければ国際裁判での解決を視野にいれるよう2回(2005年11月14日、2007年1月25日)両国に提案し(資料編、312—315頁)、インド・パキスタン間のカシミール事件では、双方の首脳にたいし、核戦争に訴えないよう3回も(2000年12月5日、2002年1月15日、2002年6月4日)緊急措置を勧告し、イラク戦争にかんしては、同法廷の総会は、法の支配と民族自決権の重要性を強調しつつ(2004年5月26日)、他方、私はWOCIT会長として、イラク戦争では、人類の英知が営々として築いてきた戦争禁止原則の金字塔が軽視されたことを批判し、こんご武力不行使原則への再帰が強く求められていると声明した。(2007年1月25日。資料編、316—320頁)
国連憲章第33条は、「いかなる紛争でもその継続が国際の平和及び安全の維持を危うくするおそれのあるものについては、その当事者は、まず第1に、交渉、審査、仲介、調停、仲裁裁判、司法的解決、地域的機関又は地域的取極の利用その他当事者が選ぶ平和的手段による解決を求めなければならない。」と規定している。武力行使が合法であるのは、自衛権(国連憲章51条)と集団安全保障の場合だけであり、復讐や戦争などは容認されない。ところが、赤裸々な戦争や復讐が21世紀にはいってもおこなわれているのである。
筆者が2006年8月5日、世界連邦・北海道(荻野忠則代表)に入会したのは自然の成り行きであった。領土、軍事、環境、人口、その他もろもろの国際問題が、より効果的かつ合理的に世界連邦のもとで解決されうる、と筆者は考えている。
WFM(世界連邦運動、本部はニューヨーク)という国際団体は、かなり影響力のある団体であるが、それ自身の具体的な世界連邦案をもっていないことがわかるや、筆者はその構想を考察する必要を感じ、そのためのNGOの憲章作成と組織化をすすめる一方、世界連邦実現探究世界大会の開催にも奔走した。
国連は、変革されるべきであるとおもう。2008年11月10日、ニューヨークで、国連変革世界連合(WATUN)が開催された。筆者は、そこでも、また脱稿済みの「世界平和連邦府憲章(案)」でも、領土問題が外交交渉や調停で解決できないばあい、国際裁判で解決する制度を提案した。領土問題だけでない。人間も、国家も、いろいろな対外的行動で独善的であってはならない。法の支配する地球社会の樹立、——これが本書の基底にある精神である。
近年、国際社会において、じつに多くのNGOが大きな役割を演じている。世界平和連邦府(WPF,仮称)は、2009年1月1日に誕生したばかりの赤子ではあるが、世界連邦と恒久平和の樹立への寄与を目的としており、その成長に期待している。

(…後略…)

***
Phiên bản 1 (tiếng Nhật)
世界の領土・境界紛争と国際裁判 - 外交交渉と司法的解決の併用を目指して (単行本)
金子 利喜男 (著)

目次

第1部 日本の領土問題の沿革第2部 係争諸島の平和地帯化
第3部 領土・境界紛争の解決方法
第4部 領土・境界紛争の判例研究
第5部 世界市民法廷の創建
http://www.hanmoto.com/bd/isbn978-4-7503-1418-1.html
目次
第1部 日本の領土問題の沿革 日ロ間の領土問題—北方領土をめぐって/日中間の領土問題—尖閣諸島をめぐって/日韓間の領土問題—竹島問題をめぐって
第2部 係争諸島の平和地帯化
永世中立・平和地帯化構想の系譜/平和地帯と積極的平和の樹立
第3部 領土・境界紛争の解決方法
外交交渉の無果実の原因/紛争解決の義務/司法的解決/司法的解決の友好的選択
第4部 領土・境界紛争の判例研究
紛争の発生と要求の拡大/一方または双方の独善的判断/司法的立法と国際法の発展/外交交渉と他の平和的解決手段/ほか
第5部 世界市民法廷の創建
世界市民法廷の構想と特徴/世界市民万人の簡易提訴権

Cập nhật ngày Thứ năm, 27 Tháng 5 2010 20:59

“Để công dân thế giới biết tới Hoàng Sa là của Việt Nam”

Email In PDF.

“Thư gửi Liên hiệp quốc nhân 40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa” đang được lấy chữ ký rộng rãi trên mạng internet, từ ngày 11.1 đến nay, đã có hơn 7000 người ký tên vào bức thư này.

TS.Lê Vĩnh Trương, thành viên Quỹ nghiên cứu biển Đông, người tham gia soạn thảo lá thư cho biết: Sau khi lấy ý kiến từ cộng đồng, nhóm soạn thảo đang tiến hành lọc lại dữ liệu để đảm bảo không có người nào ký 2 lần, tránh thư rác… Thư bằng tiếng Việt, tiếng Anh cũng đã sẵn sàng, dự kiến chúng tôi sẽ gửi lên Liên Hiệp quốc vào 19.1.2014.

Bạn đọc có thể click vào đây để ký tên: http://qncbd.wordpress.com/2014/01/11/ky-ten-thu-goi-lien-hop-quoc-sign-the-letter-sent-to-the-united-nations/

Là người tham gia soạn thảo bức thư đặc biệt này, xin tiến sĩ cho biết ý tưởng ký thư gửi liên hợp quốc được ra đời như thế nào? 

TS. Lê Vĩnh Trương: Mùa Xuân là mùa vui nhưng cũng là mùa có nhiều gợi nhớ, nhớ đến những biến cố đã qua , nhớ đến những hy sinh mất mát, nhớ đến những người nằm xuống. Những trận chiến Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc là một số trong các biến cố gợi những nỗi niềm. Quỹ Nghiên cứu Biển Đông kiên trì có những hoạt động, những bài viết để ôn lại, nhắc lại các sự kiện đó từ nhiều năm nay. Năm nay, việc tưởng niệm 40 năm TQ tấn công Hoàng Sa của Việt Nam khiến chúng tôi nghĩ xem mình sẽ làm gì để mang lại công lý cho VN một cách phù hợp nhất với hoàn cảnh hiện tại.

QNCBĐ và Nhóm Biển Đông tại Pháp có cùng mong muốn này và như thế chương trình hợp tác cùng nhóm Biển Đông Tại Pháp viết thư gởi Liên Hiệp Quốc đã ra đời!

Tiến sĩ có thể giải thích rõ hơn về ý nghĩa và tác động của hoạt động này đối với Liên Hợp Quốc và các quốc gia khác?

TS. Lê Vĩnh Trương: Các hoạt động của thế giới hiện đại ngày càng đa dạng, phổ biến và ngày càng nhiều từ các nhóm dân sự. Chúng tôi cho rằng hoạt động này là một nỗ lực kết nối tất cả các công dân thế giới quan tâm đến công lý và hòa bình cũng như giải quyết các vấn đề giữa người với người, giữa các nước với nhau bằng các biện pháp duy lý và hòa bình. Thương thuyết, yêu cầu các cơ quan luật pháp quốc tế phân xử thay cho võ lực, không như các hành động TQ đã thực hiện đối với VN trong nhiều năm qua mà cụ thể là các biến cố Hoàng Sa, Trường Sa, xâm lặng phía Bắc VN 1979.

Về tác động, lá thư này có thể thu hút sự quan tâm của Liên Hiệp Quốc. Quyền dân sự của một cộng đồng thế giới văn minh cần được lắng nghe và tôn trọng, bất luận quyền ấy được khởi xướng từ công dân của nước nhỏ hay lớn. Chúng tôi còn tin rằng việc Liên Hiệp Quốc quan tâm đến vấn đề này còn có thể có tác động kiềm chế và lên án những hành vi bạo lực vốn tiếp tục leo thang trong khu vực đối với các vấn đề biển đảo.

Đối với cộng đồng ở Việt Nam, việc đọc và ký thư có ảnh hưởng như thế nào, thưa tiến sĩ?

Chúng tôi tin rằng toàn thể những người ký có chung một quyết tâm, mong muốn tác động đến tâm can của tất cả những người dân Việt Nam, ghi nhớ lại những ngày tháng đất nước đối mặt với bạo lực xâm lược. Với lá thư này, chúng tôi còn mong rằng sự kiện chúng ta đã mất một phần lãnh thổ (Quần đảo Hoàng Sa) vì Trung Quốc xâm chiếm trái phép cần được ghi nhớ, nhắc nhở bởi tất cả con dân Việt Nam không chỉ hôm nay mà cả mai sau.

Với những nhà làm chính sách ở Việt Nam, những người ký thể hiện sự ủng hộ, thúc giục và hy vọng có thể tác động đến giới làm chính sách nhằm mục đích giải quyết các vấn đề xung đột bằng những biện pháp dựa trên luật pháp quốc tế, vì công lý và hòa bình. Bảo vệ công lý, hòa bình cũng chính là nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam và sẵn sàng cho những tình huống xấu nhất!

Chúng tôi mong mỏi trước sự hy sinh của tiền nhân đã khuất, người Việt khắp nơi có thể cùng làm một điều vì công lý của đất nước. Để công dân toàn thế giới biết tới Hoàng Sa là của Việt Nam.

Trong thư có nhắc đến các chiến sĩ Việt Nam cộng hoà đã hi sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa, nhóm soạn thảo có lo lắng về việc một số người Việt Nam sẽ ngại ký tên, bởi đây vẫn là một chủ đề “nhạy cảm” ở trong nước?

TS. Lê Vĩnh Trương: Ngại cũng là một tình cảm bình thường trước khi chọn lựa hành động của con người và bất cứ ai cũng có thể ngại. Biết nhiều cũng ngại, trải qua nhiều thăng trầm cũng ngại. Chưa vượt qua được tâm lý của chính mình cũng ngại. Song chúng tôi nghĩ trước khi chọn làm một việc có ích, có ý nghĩa thì cá nhân cần phải vượt qua được những chướng ngại đó.

Cá nhân tôi thấy, sư thật và các giá trị phổ quát thì luôn còn đó. Gạt bỏ lớp bụi thời gian và sự e ngại cá nhân thì tất cả đều sẽ được phơi bày chân thật.

Những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ phẩm giá của đất nước Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử là sự thật lịch sử cần phải được ghi danh bằng cách này hay cách khác, lúc này và cả mai sau!

Cảm ơn internet và những chứng nhân, những sử gia ra công đưa sự thật đến thế giới. Nhờ vậy chúng ta biết được những chiến sĩ ấy đã có những tâm nguyện gì, đã hành xử như thế nào trước bạo lực xâm lược.

Họ ra đi nhưng không mất đi!

Họ cũng là những con người Việt Nam, cũng yêu thương cũng có gia đình vợ con, cũng cần đến những bàn thờ cụ thể cũng như sự ghi công trong tâm tưởng của người VN như bao người lính đã ngã xuống trong nhiều cuộc chiến.

Và chúng tôi mong muốn góp một phần nỗ lực tưởng niệm họ, đó là một phần việc của chương trình này.

Theo tôi, công việc ký vào thư này không của riêng ai, của người Việt trong hay ngoài nước mà cũng có thể là của mọi công dân thế giới hiểu biết và yêu chuộng lẽ phải.

Để đạt được con số trên 7000 người ký, tính đến 14/1/2014, chúng tôi cảm nhận được sức mạnh của truyền thông, của những nhóm dân sự cùng chung tay làm việc vì cộng đồng vì quốc gia. Đất nước không là của riêng ai! Cùng bắt tay vào làm cho xã hội tốt hơn là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người.

Đất nước, láng giềng không của riêng tiền nhân hay hậu thế. Việt Nam tính từ các triều đại Ngô, Đinh, Lê đến nay đã qua nhiều triều đại đều có tính kế thừa lẫn nhau. Lê Lợi-Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo cũng đã ca ngợi các chiến công và nỗ lực gìn giữ đất nước của nhà Trần chống xâm lược là trên tinh thần đó!

Xin cảm ơn tiến sĩ


Káp Thành Long thực hiện
http://sinhvienusa.org/2014/01/15/de-cong-dan-the-gioi-biet-toi-hoang-sa-la-cua-viet-nam/

Ý nghĩa của chiến thắng Philippines

Email In PDF.

 

altImage copyrightREUTERS

Phán quyết của Tòa Trọng tài mở một cổng lũ pháp lý, Việt Nam có thể đơn phương kiện Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế và nếu kiện thì sẽ thắng.

Sáng 12/7, trang nhà của Tòa Trọng tài Thường trực bỗng nhiên bị sập. Khi việc tương tự xảy ra vào tháng 7/2015, nguyên nhân được cho là tin tặc Trung Quốc. Có lẽ không phải tình cờ, 12/7/2016 là ngày Tòa ban hành phán quyết cho vụ kiện Phi-Trung về Biển Đông.

Philippines đã ra tòa để bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc. 15 điểm họ đưa ra có thể được chia thành 5 quan điểm chính:

  1. Do bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), và do Trung Quốc không được đòi “quyền lịch sử” cho vùng biển bên trong đường 9 đoạn, các yêu sách biển của Trung Quốc bên trong đường này vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Ngược lại, yêu sách EEZ của Philippines là hợp pháp.
  2. Đá Vành Khăn và bãi Cỏ Mây thuộc về EEZ Philippines.
  3. Trung Quốc đã có một số hành vi vi phạm EEZ của Philippines, bao gồm cả tại đá Vành Khăn và bãi Cỏ Mây.
  4. Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ bảo tồn môi trường biển, đặc biệt là trong việc xây đảo nhân tạo.
  5. Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi dùng tàu thuyền chấp pháp một cách nguy hiểm, có thể gây đâm húc.

Với một văn kiện dài gần 480 trang, Hội đồng Trọng tài đã công nhận tất cả 5 quan điểm chính của Philippines.

Việc Hội đồng Trọng tài công nhận quan điểm 1, 2 và 3, trong đó quan trọng nhất là việc bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc bên trong đường 9 đoạn, dựa trên 2 kết luận then chốt. Thứ nhất, Hội đồng Trọng tài đã bác bỏ việc đòi “quyền lịch sử” cho vùng biển bên trong đường đó. Thứ nhì, Hội đồng Trọng tài đã kết luận rằng quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế. Hai kết luận trên và việc Hội đồng Trọng tài công nhận quan điểm 1 đã xóa sổ đường 9 đoạn như một đường yêu sách biển.

'Làm sáng tỏ nhiều vấn đề'

Thắng tất cả 5 điểm chính này là một chiến thắng vô cùng lớn lao cho Philippines, đặc biệt là khi chúng ta nhớ rằng có nhiều rủi ro về việc Hội đồng Trọng tài có sẽ chấp nhận rằng quần đảo Trường Sa không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế hay không. Nếu không, Philippines đã thất bại trong 3 điểm đầu. May mắn thay, điều đó đã không xảy ra.

 

Trung Quốc đã tẩy chay phiên tòa và đã khẳng đinh lập trường bất hợp pháp là họ không công nhận thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, cũng như sẽ không tuân thủ phán quyết.Thêm vào đó, hiện nay chưa rõ tân Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte có nhượng bộ Trung Quốc không, và nếu có thì sẽ nhượng bộ thế nào. Mặc dù thế, phán quyết này đã mở ra một giai đoạn mới cho tranh chấp Biển Đông với những hệ quả sau.

Hệ quả thứ nhất của phán quyết là nó đã mở một cổng lũ pháp lý. Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Brunei đều có thể đơn phương kiện Trung Quốc về các vùng EEZ và thềm lục địa phía nam Biển Đông, và từ nay các nước này biết là nếu kiện thì sẽ thắng. Thí dụ như nếu Trung Quốc lấn lướt trong vùng Nam Côn Sơn hay Tư Chính, Việt Nam có thể kiện, và nếu kiện thì sẽ thắng.

Không những thế Việt Nam có thể kiện nếu Trung Quốc dùng quần đảo Hoàng Sa để đòi EEZ lấn vào EEZ tính từ bờ biển lục địa Việt Nam. Tuy việc này có khó hơn vụ kiện của Philippines vì đảo Phú Lâm rộng lớn hơn đảo Ba Bình, nhưng lập luận Hội đồng Trọng tài dùng để bác bỏ EEZ cho đảo Ba Bình cũng có khả năng áp dụng cho đảo Phú Lâm. Quan trọng không kém, Việt Nam có thể dùng việc tòa khẳng định quyền đánh cá lịch sử trong lãnh hải 12 hải lý của bãi cạn Scarborough để kiện Trung Quốc về quyền đánh cá lịch sử của ngư dân Việt Nam trong lãnh hải 12 hải lý của các đảo Hoàng Sa.

 
Image copyrightGETTY

Hệ quả thứ nhì là sau khi quan điểm “Trường Sa không có EEZ” được công nhận, khả năng là Việt Nam sẽ chính thức theo quan điểm đó, cũng như các nước Đông Nam Á trong tranh chấp sẽ cùng đoàn kết trong quan điểm đó trong việc chống lại các yêu sách của Trung Quốc.

Hệ quả thứ ba là Mỹ và một số nước có thể ủng hộ Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong tranh chấp một cách mạnh mẽ hơn, thẳng thừng hơn. Trước đây họ còn bị ràng buộc, ít nhất là trên danh nghĩa, bởi nguyên tắc “không thiên vị bên nào trong tranh chấp”.

Nhưng sau khi Hội đồng Trọng tài đã kết luận quần đảo Trường Sa không có EEZ, trong khi Trung Quốc cũng không được đòi quyền lịch sử trong EEZ của nước khác, thì nếu Trung Quốc lấn lướt trong bãi Tư Chính hay bồn trũng Nam Côn Sơn, chẳng hạn, thì đó không phải là tranh chấp mà là gây hấn trong EEZ và thềm lục địa của nước khác, và cộng đồng quốc tế có thể ủng hộ Việt Nam một cách mạnh mẽ mà không vi phạm nguyên tắc “không thiên vị bên nào trong tranh chấp”.

Hệ quả thứ tư là phán quyết của Hội đồng Trọng tài đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến UNCLOS, thí dụ như là việc Nhật dùng đá Okinotorishima để đòi EEZ và thềm lục địa cũng phải bị cho là vi phạm UNCLOS.

Hệ quả thứ năm là với khả năng bị nhiều nước kiện, và nhiều khả năng thua kiện, Trung Quốc có thể rút ra khỏi UNCLOS, tương tự nước Nhật quân phiệt rút ra khỏi Hội Quốc Liên vào năm 1933. Nhưng nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS thì điều đó cũng chỉ làm cho các nước khác không kiện họ được, nó không thể làm cho yêu sách của họ trở thành đúng, và nó cũng không làm cho thế giới không thấy được yêu sách của họ là sai.

  • Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông.
  • http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/07/160713_philippines_pca_ruling_comment

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL