Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

forcefetish.net

Saturday, Aug 19th

Last update04:31:38 PM GMT

You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Phán quyết Biển Đông: lợi, hại và tương lai.

Email In PDF.

 

  • 19 tháng 7 2016

Philippines đã có một chiến thắng pháp lý lịch sử. Vượt trội phần lớn các dự đoán, họ đã thắng gần như toàn bộ 15 điểm được đưa ra trước Tòa.

Trên phương diện pháp lý, họ đã “đuổi” không chỉ Trung Quốc mà cả Việt Nam và Đài Loan ra khỏi phần lớn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đảo Palawan và Luzon. Phán quyết của Tòa có lợi ích lớn lao cho Việt Nam, nhưng cũng đem lại rủi ro tiềm tàng.

Có lợi

Bản đồ Biển Đông của tác giả Dương Danh HuyImage copyrightOTHER
Image captionCó lợi: yêu sách biển Trung Quốc bị đẩy lùi về các vòng tím

Với việc phán quyết bác bỏ hai lập luận “quyền lịch sử đối với EEZ” và “Trường Sa có EEZ 200 hải lý”, không nước nào có thể lợi dụng tranh chấp Trường Sa để đòi quyền lợi trên biển cách các đảo này hơn 12 hải lý.

Như vậy, mọi lập luận của Trung Quốc nhằm lấn lướt Việt Nam trong các khu vực Nam Côn Sơn, Tư Chính và bể trầm tích Phú Khánh lên đến khoảng vĩ tuyến 14°30’ (giữa Quy Nhơn và Quảng Ngãi) đã bị bác bỏ. Những động thái như gây áp lực với các tập đoàn dầu khí, cắt cáp tàu Bình Minh và Viking sẽ bị thế giới thấy rõ ràng là gây hấn trong EEZ của nước khác.

Nếu tàu cá Trung Quốc đánh bắt trong EEZ cách bờ biển Việt Nam dưới 200 hải lý nam khoảng vĩ tuyến 14°30’ (giữa Quy Nhơn và Quảng Ngãi), thì đó cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm EEZ của nước khác.

Việc Trung Quốc ngăn cản và đàn áp ngư dân Việt Nam đánh bắt trong lãnh hải 12 hải lý của các đảo Hoàng Sa cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm quyền đánh cá lịch sử bên trong lãnh hải các đảo Hoàng Sa, dù thế giới không nghiêng về bên nào trong tranh chấp các đảo này. Nếu Trung Quốc xây đảo tại Hoàng Sa, thì đó cũng rõ ràng là bất hợp pháp, vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển.

Việc tàu thuyền nhà nước của Trung Quốc đâm húc tàu thuyền Việt Nam cũng rõ ràng là bất hợp pháp.

Như vậy sẽ thuận tiện cho Việt Nam trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, và hy vọng là Trung Quốc sẽ bớt ngang ngược phần nào. Họ sẽ khó ngụy biện đó là vùng có tranh chấp và hành động của Việt Nam là khiêu khích trước, họ phải phản ứng.

Cho đến nay, nội bộ Việt Nam, từ người dân đến lãnh đạo, vẫn chưa quyết định về Trường Sa có nên được hưởng quy chế EEZ hay không.

Có quan điểm cho rằng Trường Sa là của Việt Nam, do đó nếu quần đảo này được hưởng quy chế EEZ thì sẽ có lợi cho Việt Nam, cũng như có quan điểm cho rằng một số bãi ngầm và bãi lúc nổi lúc chìm là của Việt Nam bất kể chúng cách xa các đảo bao nhiêu.

Có quan điểm ngược lại cho rằng quy chế EEZ cho Trường Sa là con dao hai lưỡi mà Trung Quốc có thể dùng để đẩy vùng tranh chấp sâu vào các vùng biển ven bờ Việt Nam. Có lẽ phán quyết của Tòa sẽ giải quyết sự lưỡng lự cho Việt Nam và nhờ đó Việt Nam sẽ có quan điểm nhất quán và rõ ràng hơn.

Những hệ quả tốt này rất quan trọng cho Việt Nam trong việc chống lại các yêu sách trên biển quá lố của Trung Quốc.

Bất lợi

Bản đồ Biển Đông của tác giả Dương Danh HuyImage copyrightDUONG DANH HUY
Image captionBất lợi: Philippines, Malaysia được khoảng 3/4 vùng biển giữa các đảo Trường Sa 

Phán quyết của Tòa cũng có hệ quả xấu cho Việt Nam.

“Xấu” không phải là nó bất công cho Việt Nam - phán quyết của một Tòa án quốc tế là thước đo khách quan nhất cho sự công bằng trong việc diễn giải luật quốc tế. “Xấu” cũng không phải vì nó gây thiệt hại vật chất cho Việt Nam hay buộc Việt Nam phải làm gì bất lợi - Việt Nam không phải là bị cáo của phiên tòa và không bị ràng buộc bởi phán quyết. “Xấu” chỉ là vì nó có hệ quả pháp lý mà một ngày nào đó Philippines hay Malaysia có thể dùng để chống, hay kiện, Việt Nam nếu họ muốn.

Theo phán quyết của Tòa, bãi Cỏ Rong, bãi Cỏ Mây và đá Vành Khăn thuộc về EEZ Philippines. Đối với người có quan điểm các thực thể đó là của Việt Nam thì đó là hệ quả xấu.

Mặc dù Philippines không kiện Việt Nam và không đề cập đến một số bãi lúc nổi lúc chìm cách đảo hơn 12 hải lý, thí dụ như đá Long Điền (Boxall), đá Tốc Tan (Alison), đá Núi Le (Cornwallis), đá Kiệu Ngựa (Ardasier Reef), đá Suối Cát (Dallas) theo nguyên tắc được áp dụng trong phán quyết thì chúng có thể sẽ thuộc về EEZ của Philippines hoặc Malaysia.

Philippines và Malaysia có thể viện dẫn phán quyết để ngăn cấm Việt Nam đánh cá hoặc khai thác kinh tế trong EEZ 200 hải lý tính từ Palawan và Sabah và bên ngoài lãnh hải 12 hải lý của các đảo Trường Sa.

Bản đồ vùng Biển Đông với
Image captionBản đồ vùng Biển Đông với "đường chín đoạn"/"đường lưỡi bò" do Trung Quốc vạch ra

Giả sử như trong tương lai có một tòa án quốc tế phán quyết rằng tất cả các đảo Trường Sa là của Việt Nam và các nước kia tuân thủ thì những hệ quả xấu này vẫn sẽ áp dụng, tức là vẫn không có quyền khai thác tài nguyên trong phần lớn khu vực Trường Sa, vẫn không được đòi một số bãi lúc nổi lúc chìm.

Nhưng bất kể những hệ quả xấu trên, Việt Nam không nên phản đối phán quyết. Điều đó sẽ là sai lầm.

  • Phán quyết của Tòa là thước đo khách quan nhất cho sự công bằng.
  • Nếu Việt Nam phản đối thì Trung Quốc sẽ hưởng lợi.
  • Với tương quan lực lượng giữa các nước trong tranh chấp, nếu không có phán quyết này thì trên thực tế Việt Nam cũng không giành được đá Vành Khăn từ Trung Quốc, bãi Cỏ Mây từ Philippines, đá Kiệu Ngựa từ Malaysia, vv.
  • Vì Việt Nam không bị ràng buộc bởi phán quyết này, những hệ quả xấu trên chỉ có tính tiềm tàng.
  • Tổng cộng lại thì các hệ quả tốt vẫn to lớn hơn các hệ quả xấu.
Mục đích chiến lược của Philippines
Bãi ScarboroughImage copyrightREUTERS

Để đánh giá chính xác các hệ quả xấu, chúng ta cần đặt chúng vào văn cảnh mục đích chiến lược của Philippines.

Mục đích ban đầu và cho tới hiện nay của Philippines không phải là đẩy Việt Nam ra khỏi các bãi lúc nổi lúc chìm, hay ra khỏi vùng biển trong phần chính của quần đảo Trường Sa.

Mục đích của họ là bảo vệ (a) bãi Cỏ Rong, (b) khu vực Scarborough, (c) bãi Cỏ Mây, vốn đang bị Trung Quốc phong tỏa, (d) khu vực rìa phía Đông của quần đảo Trường Sa và sâu trong EEZ Palawan.

Mục đích của họ là chống lại các yêu sách biển của Trung Quốc, đặc biệt là tại những khu vực trên.

Chiến thắng của Philippines, tuy mục đích là để chống Trung Quốc, có hệ quả phụ là cho họ một vị trí pháp lý mà họ có thể dùng để “thừa thắng xông lên” giành quyền lợi từ Việt Nam nếu họ muốn.

Trên thực tế, trong khi Trung Quốc còn là mối đe dọa cho Philippines thì khả năng là Philippines sẽ không muốn vận dụng phán quyết này để chống lại Việt Nam, và những hệ quả xấu chỉ là tiềm tàng.

Các bãi lúc nổi lúc chìm cách các đảo khác hơn 12 hải lý không được hưởng quy chế lãnh hải 12 hải lý và quy chế EEZ 200 hải lý. Do đó, chúng không phải là nguồn lợi cho Việt Nam hay Philippines.

Ngược lại, chúng là một mối nguy cho cả hai nước: Trung Quốc có thể chiếm đóng và xây căn cứ quân sự. Vì vậy, mục đích của việc đóng quân không phải là để giành tài nguyên mà là để không cho Trung Quốc chiếm. Do đó, có thể Philippines thấy họ không cần tìm cách giành lại từ Việt Nam.

Hải quân Philippines cắm cờ tại Scarborough Shoal, 1997Image copyrightAFP
Image captionHải quân đưa ba nghị sĩ Philippines ra cắm cờ tại Scarborough Shoal, 1997, đánh dấu chủ quyền nước này.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng trong quá khứ Philippines cũng đã có những hành động bất lợi cho Việt Nam, thí dụ như năm 2009 họ phản đối các báo cáo thềm lục địa của Việt Nam, trong khi lại không phản đối việc Trung Quốc gửi bản đồ đường lưỡi bò cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, và năm 2004 họ ký thỏa thuận song phương với Trung Quốc để khảo sát chung trong khu vực Trường Sa. Do đó, Việt Nam vẫn cần có biện pháp để dự phòng.

Dù sao đi nữa, mối đe dọa lớn nhất cho Việt Nam tại Biển Đông vẫn là Trung Quốc.

Tương lai

Phán quyết này mới chỉ là chiến thắng pháp lý, chưa là chiến thắng trên thực tế. Điều thay đổi là phương tiện và điều kiện thuận lợi cho kháng cự sự bành trướng từ phương Bắc. Điều không thay đổi là Việt Nam vẫn còn phải kháng cự.

Hải quân Mỹ và Philippines diễn tập quân sự tại ScarboroughImage copyrightAP
Image captionHải quân Mỹ và Philippines diễn tập quân sự tại Scarborough 

Để không phí phạm những hệ quả tốt, Việt Nam phải vừa vận dụng chúng trong lĩnh vực ngoại giao, vừa phải sẵn sàng kiện Trung Quốc. Điều đáng lo là Việt Nam đã quá dè dặt về việc kiện Trung Quốc.

Có thể hỏi:
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc xây đảo là vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển, và thắng kiện, trong khi Việt Nam đã không kiện? Nếu Trung Quốc xây đảo với quy mô lớn tại Hoàng Sa thì Việt Nam có sẽ kiện không?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc cấm cản ngư dân họ đánh bắt tại Scarborough, và thắng kiện, trong khi Việt Nam không kiện Trung Quốc cấm cản ngư dân Việt Nam đánh bắt trong lãnh hải các đảo Hoàng Sa và bắn họ khi họ vào tránh bão? Bao giờ Việt Nam mới kiện?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc sử dụng tàu thuyền chấp pháp một cách nguy hiểm, có thể gây đâm húc, và thắng kiện, nhưng Việt Nam không kiện tàu chấp pháp và tàu tư nhân Trung Quốc đâm húc tàu thuyền Việt Nam hàng loạt, thậm chí đâm chìm? Nếu việc đó tái diễn, Việt Nam có kiện không?
  • Vì sao Philippines kiện Trung Quốc lấn lướt trong khu vực bãi Cỏ Rong, và thắng kiện, nhưng Việt Nam không kiện Trung Quốc lướt trong các khu vực Nam Côn Sơn, Tư Chính, bồn trầm tích Phú Khánh? Nếu việc đó tái diễn, Việt Nam có kiện không?
  • Nếu Trung Quốc lấn lướt hay gây hấn trong khu vực ngoài khơi miền Trung cách quần đảo Hoàng Sa dưới 200 hải lý, nhưng cách Hải Nam hơn 200 hải lý, Việt Nam có chọn quan điểm Hoàng Sa không được hưởng quy chế EEZ và có kiện hay không?

Những vấn đề trên để lại nghi vấn về có hay không những vấn đề nội bộ và đối ngoại có thể ảnh hưởng đến khả năng của Việt Nam trong việc tận dụng những hệ quả tốt của phán quyết.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Tác giả cảm ơn Phạm Quang Tuấn, Phan Văn Song và các thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông đã góp ý cho bài viết
 
http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/07/160719_forum_scs_duong_danh_huy_china_philippines_ruling

Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Email In PDF.

3. Philippine đã “dính bẫy” chưa? 

Nhiều người bức xúc cho rằng nội dung mà các lãnh đạo tuyên bố trong quan hệ với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông trong thời gian qua là đã “dính bẫy” do Trung Quốc giăng ra, thậm chí là đã quy phục, đầu hàng Trung Quốc. 

Tuy nhiên, dựa trên những nội dung pháp lý đã nêu ở phần 1 ("Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?) và với một tinh thần cầu thị, khách quan khi nhận xét đánh giá nội dung và hình thức của các tuyên bố đặt trong bố cảnh hiện nay, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về bản chất, ý nghĩa và giá trị của các tuyên bố quan trọng đó. 

Theo nguồn tin của các hãng thông tấn khu vực và quốc tế, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm thứ Ba tuần trước 16/5 tuyên bố: ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông. 

alt
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tại Diễn đàn quốc tế Một vành đai, một con đường ở Bắc Kinh, ảnh: Rappler.

Tổng thống Philippines nói ông có thể hợp tác với các nước láng giềng khi trở về nước từ Bắc Kinh, sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường: 

“Nếu có thể có được cái gì đó mà không gặp phiền hà, thì tại sao không chứ?”, ông Duterte nói với các nhà báo. Ông nói thêm rằng với điều kiện là mọi sự phải “công bằng và cân xứng”.  

Căn cứ vào lời lẽ nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Nhà nước Philippines đã chính thức từ bỏ yêu sách của mình trên Biển Đông. Vì sao? 

Thứ nhất, ông Duterte chỉ tuyên bố về nguyên tắc là “sẵn sàng” hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với điều kiện không gặp “phiền hà” và mọi sự phải “công bằng và cân xứng”. 

Suy ra rằng bất cứ một thỏa thuận nào có liên quan đến lãnh thổ, chủ quyền quốc gia là phải tuân thủ đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. 

Nếu không thì sẽ phải “gặp phiền hà” bởi sự phủ quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và bởi sự phản kháng của người dân nước họ. 

Chính vì vậy, bên cạnh những tuyên bố của Tổng thống Duterte trong thời gian tham dự Diễn đàn cấp cao: “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, ông Santa Romana, một quan chức ngoại giao Philippines lại tuyên bố rằng:

Sự tham dự của ông Duterte tại hội nghị thượng đỉnh về Con đường Tơ lụa lần này không thể được coi là Philippines đã “từ bỏ” tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. 

Phải chăng đó là chìa khóa an toàn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Philippines trong Biển Đông?

Thứ hai, đi sâu hơn về ý tứ của tuyên bố đó, thiết nghĩ đây cũng là một sách lược khôn ngoan của phía Philippines trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Lịch sử của quá trình Philppines tranh chấp chủ quyền ở đây đã chứng minh và ngay cả phía Philippines cũng đã thừa nhận:

Họ đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền chỉ từ những năm 50 và đã chiếm đóng trên thực tế một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa vào những năm 70 của thế kỷ trước. 

Trên danh nghĩa pháp lý, họ cũng chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với các thực thể nằm trong phạm vi hình lục giác bao lấy một phần quần đảo Trường Sa (trừ nhóm đảo Trường Sa lớn), mà họ gọi là “Kalayaan”. 

alt
Lược đồ phạm vi nhóm đảo Kalayaan do Philippines tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thể hiện trong Sắc lệnh số 1596 của tổng thống Philippines. Ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kalayaan_Island_Group_(vi).png

Họ lập luận rằng nhóm đảo này, mặc dù không phải là một bộ phận cấu thành quốc gia quần đảo, vẫn thuộc chủ quyền của Philippines, vì chúng ở gần Philippines về mặt khoảng cách địa lý.  

Nguyên tắc “khoảng cách địa lý” không có giá trị để bảo vệ cho việc chiếm đóng của họ dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. 

Vì vậy, phải chăng tuyên bố này cũng là một biện pháp pháp lý nhằm giành lấy sự công nhận trên thực tế  việc chiếm đóng phi pháp của họ, nếu các bên liên quan chấp nhận “đề xuất” này?

Thứ ba, Philippines thừa biết rằng đây không phải là lần đầu tiên Philippines tìm cách hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông. 

Năm 2005, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Trung Quốc và Việt Nam trên khắp khu vực.

Nhưng thỏa thuận này sau đó sụp đổ, khiến bà Arroyo sau đó tuyên bố “không thể tin vào người Trung Quốc”. 

Mặc dù như vậy, Philippines vẫn tiếp tục đề xuất chủ trương này cũng chỉ vì mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc mà thôi.

Bởi thế, Tổng thống Philippines nói chuyến đi của ông tới thăm Bắc Kinh là “cơ may” cho Philippines, ông tiết lộ rằng sẽ có thêm nhiều khoản đầu tư từ Trung Quốc, nhưng ông không cho biết thêm chi tiết…

4. Việt Nam chưa “dính bẫy”?

Trước hết chúng tôi xin được trích nguyên văn nội dung được nêu tại Điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa diễn ra:

“Hai bên đã trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển; nhấn mạnh cần tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã đạt được và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”;

alt

Donald Trump - Tập Cận Bình cùng thắng, phần thua thuộc về ai?

Sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung; kiên trì thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; 

Tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. 

Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; 

Tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.  

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm xây dựng “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC); 

Kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Trong nội dung này, chúng tôi xin lưu ý thỏa thuận “hợp tác cùng phát triển” là giải pháp tạm thời áp dụng cho hai khu vực khác nhau: 

Một là ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ: “…Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này…”.

Hai là: “trên biển”: “…tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”.

alt

Lý do không ai hưởng ứng Trung Quốc "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông

Từ nội dung nói trên, chúng tôi cho rằng Việt Nam đã rất thận trọng khi thỏa thuận áp dụng giải pháp “cùng phát triển” cho 2 khu vực biển khác nhau: 

Một là khu vực cửa vịnh Bắc Bộ mà 2 bên đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng chồng lấn.

Trong khi hai bên đang đàm phán để thống nhất một đường phân định cuối cùng thì có thể thỏa thuận áp dụng giải pháp tạm thời “cùng phát triển” cho vùng chồng lấn ở đây.

Đây là một thỏa thuận hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

Hai là: nhóm công tác cần tiếp tục “…bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…” Cụm từ “trên biển” ở đây nên được hiểu như thế nào? 

Phải chăng cụm từ này đã phản ánh sự dung hòa quan điểm của 2 bên về phạm vi áp dụng giải pháp “cùng phát triển”? 

Theo lập trường của Việt Nam, phạm vi này chỉ có thể phải là các vùng chồng lấn được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 khi xác lập phạm vi vùng đặc quyền và thềm lục địa của mỗi quốc gia. 

Còn Trung Quốc có thể cho rằng “trên biển” nói trong tuyên bố này bao gồm toàn bộ vùng biển nằm trong giới hạn đường “lưỡi bò”, trong đó có cả khu vực quần đảo Trường Sa mà họ gọi là “Nam Sa quần đảo”, nơi mà Trung Quốc, kể cả vùng lãnh thổ Đài Loan, cho đến nay đã cưỡng chiếm được 9 thực thể địa lý;

Nhưng lập trường của Trung Quốc về khái niệm "trên biển" lại không bao gồm khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa và đã chiếm đóng trái phép hoàn toàn từ năm 1974.

Đó là cách mà Trung Quốc vẫn thường xuyên sử dụng để áp đặt, mặc cả trong đàm phán ngoại giao. 

Như vậy, có thể thấy lập trường của hai bên về phạm vi áp dung cho giải pháp “cùng khai thác trên biển” còn cần phải được cụ thể hóa bằng các cuộc đàm phán cấp chuyên viên.

Và chắc chắn điều này sẽ không dễ dàng thống nhất được một sớm một chiều, nếu Trung Quốc vẫn cố tình bám giữ yêu sách “lưỡi bò”. 

Như vậy, không thể nói Việt Nam đã “dính bẫy” mà Trung Quốc đã giăng ra trong Biển Đông. 

Tuy nhiên, như mọi người đều đã biết, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó, đàm phán ngoại giao song phương hoặc đa phương là biện pháp ưu tiên hàng đầu. 

Trong quá tình đàm phán hòa bình, Việt Nam cũng đã từng chủ động đề xuất áp dụng các giải pháp tạm thời có tính thực tiễn và hợp lý để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đàm phán, từng bước tìm được giải pháp cơ bản, lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được.  

Tất nhiên cũng phải tùy theo khu vực và tính chất tranh chấp để áp dụng các giải pháp tạm thời thích hợp nhất, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, chẳng hạn:

Trong cuộc đàm phán từ ngày 3 đến 5/6/1992, Việt Nam và Malaysia đã ký văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung khu vực biển chồng lấn rộng 2.800 km2 trong vịnh Thái Lan (gọi tắt là MOU). 

Nội dung chủ yếu của MOU là, hai bên đã xác định chính thức tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa mà phía Việt Nam và phía Malaysia đưa ra, quy định hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn này theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất. 

Thỏa thuận cũng nêu rõ, nếu như có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực chồng lấn và một phần nằm trên thềm lục địa của Việt Nam hoặc Malaysia thì hai bên sẽ thỏa thuận cùng thăm dò khai thác. 

alt

Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông?

Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tại khu vực chồng lấn, thì hai bên cũng có thỏa thuận về quản lý hải quan, thuế, biên phòng…  

Với Indonesia, Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận hoạch định ranh giới thềm lục địa và hiện hai nước đang tiến hành đàm phán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Việt Nam cũng đã từng chủ động đề nghị áp dụng giải pháp hợp tác cùng khai thác trước khi nhất trí xác định được ranh giới cuối cùng của vùng đặc quyền kinh tế, tuy nhiên, hai bên vẫn chưa đạt được đồng thuận.

Trở lại vấn đề hợp tác cùng khai thác giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc có vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách của đôi bên trong hoạch định vùng biển theo đúng với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và hai bên đã đề cập sẽ có sự hợp tác khai thác chung ở khu vực chồng lấn này. 

Trong đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã từng thỏa thuận áp dụng giải pháp hợp tác trong vùng đánh cá chung chứ không phải bây giờ mới đề cập. 

Mặc dù đã thống nhất được đường phân định, nhưng vì lý do chiếu cố đến lợi ích của ngư dân của đôi bên trong quá trình chuyển đổi nghề, nên hai bên đã đồng ý xác định một khu vực gọi là “khu vực đánh cá tạm thời, quá độ”. 

Cũng trên tinh thần đó, ngành dầu khí hai nước cũng đã ký gia hạn thỏa thuận cùng nhau hợp tác thăm dò, khai thác mỏ dầu vắt ngang qua đường phân định biên giới tại vịnh Bắc Bộ. 

Đối với tranh chấp Biển Đông, ngày 23/9/2013, tờ Inquirer của Philippines, đăng bài viết của John Nery, một trong 15 nhà báo ASEAN phỏng vấn Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Trong đó ông Lý Hiển Long có đưa ra một số bình luận đáng chú ý khi cho rằng: tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông “chỉ có thể quản lý, không thể giải quyết”, đồng thời ông kêu gọi các bên tranh chấp cùng khai thác nguồn tài nguyên trên Biển Đông. 

Xuất phát từ lợi ích khu vực trong tình hình hiện nay, tuyên bố này xét về phương diện chính trị, ngoại giao là hợp lý. 

Nhưng đi sâu về mặt pháp lý, vấn đề đặt ra là hợp tác khai thác như thế nào, ở đâu, và áp dụng cho loại tranh chấp nào?  

Bởi vì, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, không có chuyện vùng đặc quyền kinh tế hay vùng thềm lục địa được xác lập hợp pháp, chính đáng, rõ ràng theo quy định của Công ước này, lại bị nước khác, do động cơ vụ lợi, nhảy vào, cố tình tạo ra tranh chấp, rồi  bắt “cùng khai thác”, biến vùng không phải tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến không thành có.  

Chính vì thế, các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quôc đề cập tới giải pháp “hợp tác cùng khai thác” áp dụng cho khu vực ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là khả thi, vì đây là điều rất bình thường, giống như đã được áp dụng tại các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia; Việt Nam, Thái Lan và Malaysia trong vịnh Thái Lan…

alt
Sơ đồ vùng đánh cá chung,vùng quá độ. Nguồn: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao.

Như vậy cho thấy rằng, Việt Nam sẵn sàng áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” đối với những vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách dựa theo đúng quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chứ không phải đồng ý giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên toàn bộ Biển Đông.  

Liên quan đến giải pháp tạm thời theo nguyên tắc Status- quo, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã vận dụng thành công giải pháp tạm thời này cho quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa 2 nước:

Năm 1991, sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được khôi phục, trước khi mở ra các vòng đàm phán về biên giới, lãnh thổ trên đất liền, hai bên đã ký “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới” theo nguyên tắc quản lý biên giới theo tình hình thực tế, giữ nguyên mốc giới hiện có (nguyên tắc Status-quo). 

Trong quá trình đàm phán về biên giới trên bộ, hai bên cũng đã vận dụng nguyên tắc này để xử lý thỏa đáng những khu vực biên giới trên bộ còn có nhận thức khác nhau, nhằm phục vụ cho nhu cầu hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. 

Thỏa thuận khai thông đường sắt liên vận Đồng Đăng – Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu là một ví dụ điển hình, sinh động về cách thức áp dụng nguyên tác này với danh nghĩa là một  giải pháp tạm thời:

Trước khi thống nhất được đường biên ở khu vực biên giới còn có nhận thức khác nhau này, Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết một nhu cầu rất thiết yếu về kinh tế, kỹ thuật. 

Đó là làm sao khai thông tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường, nối Lạng Sơn của Việt Nam với khu vực tự trị Choang- Quảng Tây, Trung Quốc.

Tuyến đường này đi qua Hữu Nghị Quan, thuộc khu vực 249C, là khu khu vực Việt Nam và Trung Quốc có nhận thức khác nhau về mặt pháp lý, từng xảy ra đụng độ đẫm máu. 

Lịch sử bảo vệ, quản lý tại thực địa ở đây khiến việc đàm phán không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều.

Trong khi đó, nhu cầu khai thông tuyến đường sắt liên vận sau khi hai nước khôi phục quan hệ là rất cần thiết.

Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế, dân sinh của mỗi nước, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng vừa trải qua một cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt. 

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra làm sao có thể khai thông được khi mà tuyến đường sắt liên vận này phải đi qua khu vực tranh chấp về biên giới, lãnh thổ chưa được giải quyết? 

Trong khi Trung Quốc từ lâu tìm cách khẳng định đường biên giới đi qua “điểm nối ray”, còn Việt Nam cho rằng đường biên giới phải đi qua “nhà mái bằng”, ngôi nhà bảo vệ thiết bị thông tin kết nối đường sắt.

Hai điểm này cách nhau 300 mét.

Đại diện đàm phán hai nước, với tinh thần khách quan, cầu thị, đã thẳng thắn khẳng định đường biên giới chủ trương của cả Trung Quốc và Việt Nam thể hiện trong khu vực này là  không hoàn toàn chuẩn xác, không thể đi qua vị trí mà Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn. 

Vì thế hai bên cần phải đàm phán để tìm ra một đường biên giới mới mà cả hai nước có thể chấp nhận. Trong khi đàm phán hoạch định biên giới theo thỏa thuận, hai bên nên thống nhất chọn một giải pháp tạm thời, mang tính kinh tế, kỹ thuật, để khai thông tuyến đường sắt liên vận. 

Giải pháp tạm thời này không làm ảnh hưởng đến việc hoạch định hướng đi của đường biên giới mới tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận “đóng băng” khu vực 300 mét này, tức là khi con tàu chạy từ phía Việt Nam đến “điểm nối ray” và từ phía Trung Quốc đến vị trí “nhà mái bằng” thì dừng lại, để các lực lượng quản lý nhà nước của hai bên rời khỏi tàu. 

Trên tàu chỉ còn các chuyên gia kỹ thuật, lái tàu và nhân viên phục vụ hàng hóa ở lại làm nhiệm vụ chuyên môn, dịch vụ. 

Vì vậy, hai nước ký biên bản khai thông đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu ngay trong dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị Trung Quốc cuối năm 1995. 

Thiết nghĩ, đó là một bài học để có thể nghiên cứu áp dụng cho những khu vực tranh chấp có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ trên biển.

Và, chính trong Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), các bên tham gia cũng đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng thêm sự chiếm đóng, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình…cũng đã vận dụng tốt nguyên tắc Status-quo rồi. 

Tất nhiên, điều tối quan trọng khi sử dụng những giải pháp tạm thời này là cần phải khẳng định rằng chúng không làm ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế. 

Tuy vậy, các bên vẫn có quyền (và cần thiết) bảo lưu quan điểm về chủ quyền của mình đối với các thực thể địa lý mà mình đã tuyên bố có chủ quyền để phục vụ cho một kênh giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình đối với các thực thể địa lý này, khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận tổ chức thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý nhất định./.

Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội-2008.

-Thục Minh , “Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và luật pháp quốc tế”. Báo Thanh Niên Online, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121203/giai-quyet-tranh-chap-bang-thuong-luong-va-luat-phap-quoc-te.aspx -Luật quốc tế, đề cương Giáo trình , Học viện Quan hệ quốc tế, 1978.

- Steven R. Ratner, The New UN Peacekeeping: Building Peace in Lands of Conflict After the Cold War, Nhà xuất bản St. Martin's (1996).

- Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung  Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).

- Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN (Nghiên cứu Biển Đông,17/03/201) Biendong.net - TQ "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông không  -biendong.net/.../9364-tq-gac-tranh-chap-cung-khai-thac-bien-dong... Sep 27, 2016.

- Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG (Nghiên cứu Biển Đông, 15/03/2010).

- AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.".

-  Trần Công Trục: “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, năm 2012.

-TS  Đặng Đình Quý: “Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2015.

- Hợp tác cùng phát triển - giải pháp có tính thực tế tạm thời – QĐ , www.baomoi.com › Xã hội › Thời sự ,Oct 29, 2013.

- Nghĩa vụ trong vùng biển chồng lấn thềm lục địa ... - Luật pháp Quốc tế- https://iuscogen.wordpress.com/.../nghia-vu-trong-vung-bien-chong lấn...

- Bàn về khả năng hợp tác cùng phát triển ở - Petrotimes - petrotimes.vn/ban-ve-kha-nang-hop-tac-cung-phat-trien-o-bien-do... Nov 14, 2013.

- TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/12/18/4186/ Dec 18, 2009.

- 100 câu Hỏi - Đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. www.vnmilitaryhistory.net.

TS Trần Công Trục

Thủ tướng: Châu Á phải là nơi chúng ta được nghe ‘giấc mơ’ của mọi quốc gia

Email In PDF.

Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam… còn ít được biết đến, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á ở Tokyo, Nhật Bản.

Sáng nay, tại Tokyo, Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự và có bài phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 23.

Chủ đề của Hội nghị năm nay là “Chủ nghĩa toàn cầu hóa giữa ngã tư đường - Bước đi tiếp theo của châu Á” với sự tham dự của lãnh đạo cấp cao và chính khách nhiều nước châu Á cũng như các tập đoàn lớn trên thế giới.

Châu Á là động lực tăng trưởng chủ chốt

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Mở đầu bài phát biểu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói về nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, người đã phát hiện ra chìa khóa cho sự thịnh vượng của một quốc gia đó là "tự do tự nhiên", được hiểu là tự do sản xuất và trao đổi hàng hóa theo nhu cầu tự nhiên, mở cửa thị trường trong nước cũng như quốc tế để cạnh tranh theo nguyên tắc tự do, công bằng. Theo Thủ tướng, đó chính là nền tảng quan trọng của toàn cầu hóa và trên thực tế tiến trình này đã diễn ra hàng trăm năm trước đó.

“Sự kiện hôm nay diễn ra tại Nhật Bản nhắc tôi nhớ lại từ khoảng thế kỷ 16, Hội An, một thương cảng nằm ở tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, đã dần hình thành một trong những nơi buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền ở châu Á”, Thủ tướng bày tỏ. Người Nhật Bản là những nhà kinh doanh quốc tế thuộc thế hệ đầu tiên đã có những đóng góp quan trọng, đưa Hội An tham gia vào hệ thống thương mại xuyên biên giới, trở thành nơi mà cho đến hôm nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích của một mô hình cảng thị hội nhập quốc tế ở vào buổi sơ khai của nền thương mại toàn cầu.

Thủ tướng cho rằng, thực tế lịch sử cho thấy, dù chúng ta ủng hộ hay không ủng hộ toàn cầu hóa thì đó vẫn là xu thế tất yếu. Trong nhiều thế kỷ qua, những hành trình ngược xuôi, những câu chuyện huyền thoại trên con đường tơ lụa lịch sử đã giúp chúng ta hiểu một điều quan trọng: Toàn cầu hóa không chỉ là một tiến trình kinh tế mà còn là sự phản ánh những khát vọng vươn xa, những mưu cầu hạnh phúc và chinh phục thử thách của loài người.

Thủ tướng cho rằng châu Á, châu lục lớn nhất thế giới về diện tích và dân số, đa dạng về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, đang là động lực tăng trưởng chủ chốt trong quá trình toàn cầu hóa.

Sự vươn lên của châu Á là sự vươn lên của tập hợp các quốc gia luôn hướng tới hội nhập quốc tế sâu sắc và mạnh mẽ, như Singapore, nền kinh tế mở, năng động bậc nhất thế giới; Hàn Quốc - "kỳ tích sông Hàn” của châu Á và là nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới, một thành viên quan trọng của OECD. Hay Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với nhiều thập niên tăng trưởng ngoạn mục, đưa hàng trăm triệu người thoát nghèo.

Với trên 150 hiệp định thương mại tự do và khu vực, chiếm 58% tổng số hiệp định của thế giới, châu Á đi đầu về hợp tác, hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, quá trình hội nhập toàn cầu cũng đang đặt châu Á trước nhiều thách thức.

Những diễn biến phức tạp về chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, các mối đe dọa khủng bố, các vụ thử tên lửa trên bán đảo Triều Tiên; những căng thẳng trên Biển Hoa Đông, Biển Đông vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ về an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không của tuyến đường biển quốc tế.

Biến đổi khí hậu cùng với những thảm họa về bệnh dịch, thiên tai, gây thiệt hại nặng nề về tài sản và con người. Mối lo ngại về sự đồng nhất và một nền văn hóa phổ quát sẽ làm phai nhạt tính độc đáo và các giá trị bản sắc châu Á.

Châu Á cần làm gì?

“Đứng trước thách thức đó, châu Á cần phải làm gì”, Thủ tướng đặt vấn đề và nêu ra 3 nhóm biện pháp.

Thứ nhất, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong bối cảnh châu Á đang có những thay đổi mang tính cấu trúc. Theo đó, cần tạo dựng quan hệ gắn kết lành mạnh, tăng cường lòng tin, sự thực tâm giữa các quốc gia về an ninh, chính trị và phát triển kinh tế thông qua các hiệp định song phương, đa phương, các liên kết chiến lược khu vực và liên lục địa;

Tập trung giải quyết các khác biệt nội tại khu vực và hành xử có trách nhiệm của các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị Tương lai châu Á

Gia tăng sức mạnh mềm châu Á thông qua việc truyền thông, gìn giữ và phát huy tính đa dạng, nét độc đáo về bản sắc văn hóa và những "giá trị châu Á" mà cố Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã từng đề cập đến như tinh thần lao động cần cù, ý thức tiết kiệm, sự hiếu học, tình bằng hữu và sự gắn kết gia đình... Đồng thời chúng ta mở cửa hợp tác, tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn hóa của các châu lục khác.

Thứ hai, giải quyết bài toán về mô hình phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh, bền vững và bao trùm. Theo đó, cần tạo sự gắn kết lành mạnh giữa các nền kinh tế, thúc đẩy kết nối nhiều mặt và đa tầng nấc giữa các quốc gia, gồm kết nối hạ tầng mềm nhằm tạo dựng môi trường chính sách thuận lợi cho các hoạt động kinh tế thương mại; kết nối giao thông/hạ tầng cứng để bảo đảm cho sự di chuyển an toàn, thuận lợi của người dân và hàng hóa; kết nối về con người; kết nối về môi trường tự nhiên như hợp tác trong giải quyết các thách thức về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, quản lý thiên tai. Kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa hiện tại và các giá trị lịch sử, giữa hiện đại và truyền thống, giữa chủ nghĩa toàn cầu và bản sắc dân tộc, bảo toàn sự đa dạng văn hóa.

Thứ ba, tối ưu hóa nguồn lực, phối hợp và phát huy vai trò tích cực của các định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB)…

Thủ tướng cho rằng, chính những thể chế, tôn chỉ, nguyên tắc, luật lệ được xây dựng bởi các định chế quốc tế này cùng với tổ chức khu vực như ASEAN, APEC… đã góp phần quan trọng duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới nói chung và châu Á nói riêng.

“Giấc mơ” cho mọi quốc gia châu Á

Thủ tướng chia sẻ: Chúng ta vẫn thường nghe về "Giấc mơ Mỹ" hay “Giấc mộng Trung Hoa”, nhưng dường như trên phương diện truyền thông, các giấc mơ Miến Điện, giấc mơ Lào, Campuchia hay giấc mơ Việt Nam... còn ít được biết đến. Châu Á phải là một nơi mà ở đó chúng ta sẽ được lắng nghe về giấc mơ của mọi quốc gia, của nước lớn cũng như nước nhỏ, nước phát triển cũng như chưa phát triển.

Tất cả đều được đối xử trên nguyên tắc tự do, bình đẳng không sự phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, màu da, sắc tộc hay giới tính. Tất cả cùng hợp tác, đóng góp vì hòa bình và thịnh vượng cho mọi quốc gia, mọi người dân châu Á.

 
 

Tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu tình hình kinh tế-xã hội và tiềm năng phát triển của Việt Nam, đang trở thành một thị trường hấp dẫn có sức mua ngày càng lớn với tầng lớp trung lưu chiếm trên 10% dân số và đang gia tăng nhanh chóng.

Thủ tướng nhấn mạnh, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hết lòng phục vụ người dân và doanh nghiệp, với những định hướng lớn như kiến tạo các cơ hội phát triển cho đất nước thông qua tăng cường hội nhập quốc tế, tham gia vào các cấu trúc quản trị toàn cầu. Kiến tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy vai trò động lực của kinh tế tư nhân và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu dựa trên năng suất lao động và năng lực sáng tạo của nền kinh tế.

Chính phủ kiến tạo mà Việt Nam đang xây dựng đồng nghĩa với lựa chọn cân bằng giữa các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế với việc quản lý sự khan hiếm về các dạng tài nguyên và tính bền vững của môi trường và đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với thực tế đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Thủ tướng đối thoại và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề quốc tế và chính sách của Việt Nam

Cho rằng khi nói đến sự thần kỳ châu Á thì không thể không nhắc tới "sự thần kỳ Nhật Bản", khép lại bài phát biểu, Thủ tướng đã nêu rõ vai trò Nhật Bản trong sự phát triển châu Á và mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.

Không chỉ là nhà đầu tư hàng đầu khu vực với trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, có vai trò dẫn dắt trong nhiều lĩnh vực, Nhật Bản còn là tấm gương về văn hóa kỷ luật, kiên nhẫn và đức hy sinh.

Tinh thần đoàn kết, kỷ luật, bình tĩnh của nước Nhật trong thảm họa kép năm 2011 đã được khắc họa chân thật qua hình ảnh những người dân Nhật Bản trật tự xếp hàng; hình ảnh cậu bé 9 tuổi nhường phần đồ ăn của mình cho những người khác. Những người cứu hộ không quản ngại nguy hiểm, bền bỉ tìm kiếm các nạn nhân sau thảm họa…

Thủ tướng khẳng định, sau hơn bốn thập niên, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản không ngừng được củng cố và trở thành đối tác chiến lược sâu rộng vào tháng 3/2014.

Nhật Bản là quốc gia viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 2, là đối tác lớn thứ 3 về du lịch và là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Đến hết năm 2016, Nhật Bản có hơn 3.200 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 42 tỷ USD, chiếm 15% tổng FDI vào Việt Nam.

Hai nước xây dựng mối quan hệ ổn định, tin cậy thông qua các cuộc đối thoại, các cuộc tiếp xúc và chuyến thăm cấp cao giữa hai nước.

Nhật Bản và Việt Nam đã ký 9 thỏa thuận hợp tác giữa các trường đại học và Chương trình chiến lược hợp tác về giáo dục. Đặc biệt, Trường Đại học Việt Nhật đang dần trở thành biểu tượng cho sự hợp tác giáo dục giữa hai nước. Số lượng sinh viên, thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản tăng mạnh, hiện đã đạt con số 150.000 người.

“Tầm nhìn sẽ quyết định phương thức chúng ta tư duy, cách thức chúng ta hành động tại thời điểm hiện tại. Tôi mong rằng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi người dân châu Á hãy cùng chung tay hành động vì một châu Á hòa bình và thịnh vượng”, Thủ tướng chia sẻ.

Đối thoại cởi mở

Tại Hội nghị, Thủ tướng đã đối thoại cởi mở và trả lời nhiều câu hỏi nêu ra liên quan đến nhiều vấn đề như Hiệp định TPP, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, chính sách về môi trường, kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ vừa qua của Thủ tướng.

Về Hiệp định TPP, Thủ tướng cho biết Việt Nam và Nhật Bản nằm trong 12 nước tham gia TPP. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, Việt Nam cũng như Nhật Bản đang bàn với các đối tác một cách cụ thể để tìm ra một phương thức tốt nhất để chúng ta cùng phát triển, cùng có lợi.

Về ASEAN, Thủ tướng nhấn mạnh nguyên tắc đồng thuận của ASEAN. Trên nguyên tắc đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được triển khai thời gian qua và bước đầu có kết quả tốt. “Chúng tôi đã đẩy mạnh giao lưu thương mại, tự do di chuyển thể nhân và pháp nhân. Khối lượng thương mại giữa 10 nước ASEAN không ngừng tăng lên”, Thủ tướng nói.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,Nguyễn Xuân Phúc,Thủ tướng thăm Nhật

Quang cảnh Hội nghị Tương lai châu Á

Với câu hỏi về chính sách trước việc “thị trường xe 2 bánh và 4 bánh phát triển tốt ở Việt Nam nhưng đồng thời gây ra những vấn đề về môi trường, khí thải, đặc biệt ở đô thị”, Thủ tướng nói: “Chúng tôi có chiến lược về phát triển bền vững, trong đó, vấn đề môi trường đặt ra hàng đầu ở Việt Nam. Chúng tôi có một chương trình hành động cụ thể để giảm thiểu khói bụi từ ô tô và mô tô. Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, hơn ai hết, Việt Nam tích cực thực hiện COP 21”.

“Tuần trước, ngài đã gặp Tổng thống Donald Trump. Xin ngài cho biết kết quả sau cuộc hội đàm này, trong đó có nội dung về tự do hàng hải an ninh trên biển”. Trước câu hỏi mà người điều hành Hội nghị nêu ra, Thủ tướng cho biết, đây là chuyến thăm thành công. Tham dự hội đàm, ngoài Tổng thống, có cả Phó Tổng thống và các Bộ trưởng các bộ quan trọng của Hoa Kỳ. Hai bên đã bàn những vấn đề về thương mại hết sức thú vị. Hai bên có sự thống nhất cao rằng xuất nhập khẩu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là có lợi cho hai bên. Những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ, người dân Hoa Kỳ ưa dùng và Việt Nam đã tăng cường nhập các thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại của Hoa Kỳ để phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Thủ tướng cho biết, hai bên đã trao đổi về vấn đề an ninh khu vực, trong đó có vấn đề biển đông và thống nhất giải quyết vấn đề Biển Đông theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc 1982, xây dựng Biển Đông thành khu vực hòa bình, hữu nghị, tự do hàng không, hàng hải.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Bac-Kinh-huy-Dien-dan-Huong-Son-2017--doi-trong-cua-Shangrila-post177128.gd

Giới thiệu cuốn sách Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và tòa án quốc tế

Email In PDF.

Trong số các cuốn sách viết về việc giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ thì có cuốn "Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế" của ông g/s Kaneko, Đại học Sapporo, Hokkaido, Nhật Bản, rất nên tham khảo để đưa ra đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Cuốn này có hai phiên bản với mục lục như sau:

Phiên bản 2 (2009): Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế
Từ bảo vệ lãnh thổ quốc gia dân tộc hướng tới Liên bang thế giới?
 
Mục lục

Phần 1 Lịch sử vấn đề lãnh thổ Nhật Bản
1. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Nga - Về vùng lãnh thổ phía bắc
2. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Trung Quốc - Về vùng quần đảo Senkaku
3. Vấn đề lãnh thổ giữa Nhật và Hàn Quốc - Về vấn đề đảo Take (Trúc Đảo - Takeshima)

Phần 2 Phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ biên giới
4. Nguyên nhân thương lượng ngoại giao không đạt hiệu quả
5. Nghĩa vụ giải quyết tranh chấp
6. Giải quyết bằng tư pháp
7. Sự lựa chọn thích hợp cách giải quyết bằng tư pháp

Phần 3 Nghiên cứu án lệ tranh chấp lãnh thổ biên giới
8. Lịch sử án lệ vấn đề biên giới quốc gia
9. Án lệ liên quan đến tranh chấp biên giới thời cận đại
10. Phát sinh tranh chấp và mở rộng nhu cầu
11. Phán quyết một phía hay cả hai phía tự cho mình là đúng
12. Lập pháp tư pháp và sự phát triển luật quốc tế
13. Thương lượng ngoại giao và các phương pháp giải quyết hòa bình khác
14. Từ vùng đất tranh chấp đến rút lui quân đội
15. Phiên tòa quốc tế trong trường hợp thương lượng ngoại giao thất bại
16. Thương lượng ngoại giao và tiến hành đồng thời tòa án quốc tế
17. Ngày quyết định
18. Từ bỏ, nhầm lẫn và tính ổn định của biên giới quốc gia - Liên quan tới quần đảo Kurile
19. Nghĩa vụ thực hiện hiệp ước - Liên quan đến Tuyên bố chung Nhật-Nga
20. Chiếm hữu từ trước và chiếm đóng có hiệu quả - Liên quan đến đảo Take và quần đảo Senkaku
21. Án lệ liên quan đến đảo
22. Thực thi phán quyết - Một số trường hợp không thực thi

Phần 4 Từ Tòa án Công dân Thế giới đến Tòa án Toàn nhân loại
23. Công dân thế giới phủ quyết việc chiếm giữ bằng vũ lực
24. Sự kiện phó thác cho Tòa án Công dân Thế giới
25. Sự phát triển nền pháp trị của cộng đồng thế giới

Phần 5 Từ cải cách Liên hợp quốc đến Liên bang thế giới và Hòa bình vĩnh cửu - Giải quyết các vấn đề lãnh thổ và các vấn đề khác
26. Liên Hợp Quốc không phù hợp với nhu cầu của thế kỷ 21
27. Liên Bang Thế Giới

Phiên bản 1 (2001):
Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế
Mục tiêu sử dụng hai phương pháp giải quyết bằng thương lượng ngoại giao và tư pháp

Mục lục
Phần 1 Lịch sử vấn đề lãnh thổ Nhật Bản
Phần 2 Khu vực hóa hòa bình các quần đảo có tranh chấp
Phần 3 Phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ biên giới
Phần 4 Nghiên cứu án lệ tranh chấp lãnh thổ biên giới
Phần 5 Thành lập Tòa án Công dân Thế giới

*****************************

Tóm tắt và trích đoạn bằng tiếng Nhật:

Phiên bản 2 (tiếng Nhật)

世界の領土・境界戦争と国際裁判【第2版】 (単行本)
民族国家の割拠か世界連邦へ向かって
金子 利喜男 (著)


目次

第1部 日本の領土問題の沿革
第2部 領土・境界紛争の解決方法
第3部 領土・境界紛争の判例研究
第4部 世界市民法廷から全人類裁判所へ
第5部 国連変革から世界連邦と恒久平和へ―領土・その他の諸問題の解決
資料編
内容(「BOOK」データベースより)
本書では、領土問題の解決手段のひとつとして、また一般に紛争解決の方法として、司法的解決方法に注意をはらった。問題が外交交渉で解決できない場合、法的問題については、国連の国際司法裁判所に解決をまかせつつも、同時並行的に外交交渉もおこなうことも提言している。著者略歴 (「BOOK著者紹介情報」より)
金子 利喜男
1942年、秋田県生まれ。早稲田大学政治経済学部を卒業後、1968年から早稲田大学大学院の修士課程と博士課程を通して、入江啓四郎教授や宮崎繁樹教授のもとで国際法を研究。1982年、札幌大学に助教授として赴任し、外国語学部ロシア語学科で国際関係論、日ロ関係論、ロシア語などの科目を担当しつつ、日ロ関係年鑑を出版し、とくに北方領土問題を研究してきた。1995年、同大の教授となってから、領土問題の司法的解決の論調を強め、この問題が20 世紀中に解決できないとみるや、2000年の春に世界市民法廷を設立し、その会長に就任する。2007年には、ジュネーヴでの世界連邦運動協会(WFM) の60周年大会で世界連邦府の創設を提案し、2009年それを世界平和連邦府(WPF)として結実。その会長に選出される。世界連邦実現探究世界大会を主催。2007年には、北海道ロシア文化協会の副会長(本データはこの書籍が刊行された当時に掲載されていたものです)
 
Mục lục chi tiết

http://www.hanmoto.com/bd/ISBN978-4-7503-2978-9.html

紹介
出口の見えない領土問題の解決案として、外交交渉と司法的解決の併用を提言する。世界の代表的な領土・境界紛争に関する国際司法裁判所の判例解説、世界市民法廷・世界連邦の提言を通し、これからの平和的世界の構築を目指す。内容を大幅に改訂した第2版。
目次
はしがき
凡例と参考文献
序文に代えて——日ロ民間共同宣言について——

第1部 日本の領土問題の沿革

はじめに

第1章 日ロ間の領土問題——北方領土をめぐって——
1 千島の先住民族と黎明期の交流
2 日露間の初期の領土関係条約
3 第2次世界大戦直後と北方領土問題
4 サンフランシスコ対日講和条約
5 日米安保条約と高まる北方の壁
6 80年代後半の一条の陽光
7 国際裁判に注目
8 アイヌ民族の動き
9 ゴルバチョフ大統領の訪日と領土問題
10 新生ロシアと司法的解決案
11 訪日準備委員会の司法的解決構想
12 エリツィン訪日後の不透明感
13 北方領土と諸外国との経済貿易関係
14 クラスノヤルスク会談と川奈会談
15 モスクワ会談まえの小渕首相への書簡
16 アイヌ民族の先住権の要求
17 司法的解決の賛同者の増加
18 閉塞感から世界民間法廷設立準備に決起
19 プーチン大統領と森首相の仕切り直し

第2章 日中間の領土問題——尖閣諸島をめぐって——
1 紛争の経過の概要
2 中国側の主張
3 日本側の主張
4 中華民国側の主張
5 その後の経過

第3章 日韓間の領土問題——竹島問題をめぐって——
1 紛争の経過の概要
2 当事国の主張
3 日本の国際司法裁判所付託提案
4 国際司法裁判所付託提案の韓国による拒否
5 その後の経過

第2部 領土・境界紛争の解決方法

はじめに

第4章 外交交渉の無果実の原因
1 紛争当事者の民族主義的志向
2 東アジア・ロシアの政治・地政学的風土
3 国際法治社会の軽視
4 一方的または双方の独善的判断
5 互譲・互恵の精神の欠如
6 一般市民と外交当事者の感覚のずれ
第5章 紛争解決の義務
1 政治的ゲームに踊る外交交渉
2 合意達成の義務
3 問題解決に展望があるか
第6章 司法的解決
1 錯綜する理論の複雑さ
2 国際司法裁判所の判決と勧告的意見
3 国境画定のさいの苦悩とその緩和措置
第7章 司法的解決の友好的選択
1 より合理的な解決方法
2 大いなる誤解

第3部 領土・境界紛争の判例研究

第8章 国境問題の判例史
第9章 近代の境界紛争にかんする判例
マリア・ルース号事件(判決は1875年6月)
家屋税事件(常設仲裁裁判所、判決は1905年5月)
第10章 紛争の発生と要求の拡大
1 東部グリーンランドの法的地位事件
2 メイン湾境界画定事件
第11章 一方または双方の独善的判断——変動期の複雑な灰色の法律関係と大陸棚の判例——
3 大陸棚境界画定事件
4 リビア・マルタ大陸棚事件
5 グリーンランドとヤン・マイエン島間海域境界事件
第12章 司法的立法と国際法の発展
6 南西アフリカの地位事件
7 南西アフリカ事件
8 ナミビア事件
第13章 外交交渉と他の平和的解決手段
9 アールー山事件
10 北海大陸棚事件
11 リビア・チャド領土紛争事件
第14章 係争地からの軍隊の撤退
12 カッチ事件
13 マリ・ブルキナファソ国境紛争事件
第15章 外交交渉失敗の場合の国際裁判
14 ウォルフィッシュ湾地区境界事件
15 チャコ事件
第16章 外交交渉と国際裁判の同時進行
16 カタール・バーレーン間海洋境界画定と領土問題事件
17 カメルーン・ナイジェリア間の陸地と海洋境界事件
第17章 決定的期日
18 アラスカ国境事件
19 パルマス島事件
20 カシキリ/セドゥドゥ島事件
第18章 放棄、錯誤と国境の安定性——「千島列島」との関連で——
21 北大西洋沿岸漁業事件
22 ティモール島事件
23 国境地区の主権にかんする事件
24 プレア・ビヘア寺院事件
第19章 条約の履行義務——日ソ共同宣言との関連で——
25 タクナ・アリカ事件
第20章 先占と実効的支配——竹島と尖閣諸島との関連で——
26 マンキエ・エクレオ諸島事件
27 リギタン島とシパダン島の主権にかんする事件
第21章 島にかんする判例
28 グリスバダルナ事件
29 クレタ島とサモス島の灯台の事件
第22章 判決の履行——不履行はわずか——
30 エル・チャミザル事件
31 コロンビア・ベネズエラ国境事件

第4部 世界市民法廷から全人類裁判所へ

第23章 独善と力の支配を地球民が止揚
1 地球の点から面へ
2 世界市民万人の簡易提訴
第24章 世界市民法廷への付託事件
1 ついに北方領土問題が提訴される
2 カシミール事件と核戦争の危険性
4 イラク戦争事件
第25章 法治地球社会の発展
1 全人類裁判所
2 世界平和連邦府による世界市民法廷の継承

第5部 国連変革から世界連邦と恒久平和へ——領土・その他の諸問題の解決——

第26章 21世紀の要請に合致しない国際連合
1 国連変革
2 金子私案
第27章 世界連邦
1 世界連邦への道
2 世界連邦運動
3 日本における世界連邦運動
4 北海道における世界連邦運動

むすびに

資料編
日本側およびロシア側への第2次提案
イラク情勢にかんする世界市民法廷会長の声明
世界平和連邦府大綱(案)の要点
世界連邦実現探究洞爺湖宣言
前書きなど
はしがき

ゲーテのこの言葉[注:ゲーテ『若きヴェルテルの悩み』、1772年9月4日の日記。書籍では引用]は、きびしく当時の教養人を批判しているが、現代では教養人であろうとなかろうと、みな協力しあえば、地球を持続可能な全人類のための共同体として発展できる可能性がたかまる一方、その逆の場合、さまざまな面で地球と人類は病みつづけるであろう。そうであってはならない。
本書では、領土問題の解決手段のひとつとして、また一般に紛争解決の方法として、司法的解決方法に相当の注意をはらった。問題が外交交渉で解決できない場合、法的問題については、国連の国際司法裁判所に解決をまかせつつも、同時並行的に外交交渉もおこなうことも提言している。
わが国、中国、韓国などの東北アジア諸国、それにロシアは、政治・外交的解決を重視し、法的争点の解決を国際裁判にまかせることを好まない。しかし、法的問題を長年にわたって解決できないときにどうするか、ということである。このような場合、まさしく国際裁判、または外交交渉と国際司法裁判所による同時並行的で、競合的な解決方法が、より公正、より確実、より早期の問題打開の突破口となることは、疑問の余地がない。
政治家や外交官とことなり、日ロ両国民の大多数は、このような合理的な解決方法に賛成するであろう。わたくしは、1997年の夏から、ロシアではウラジオストク、ハバロフスク、モスクワに旅行し、また日本では、札幌、根室、苫小牧、青森県、秋田県などで、いろいろな人びとと話し、ときには講演しながら、アンケート調査をおこない、また函館市や新潟市、それに早稲田大学の多賀秀敏教授からも、受講生にたいするアンケート調査結果がおくられてきた。その結果、おどろくべき数字があらわれた。外交交渉失敗の場合、領土問題を国連の国際司法裁判所へ付託すべきであると回答した者が、1999年11月3日現在では、ロシア人は69%(104名中72名)、日本人は77%(585名中451名)である。
わたくしを勇気づけるのは、ゲーテのことばだけでなく、賛成した大多数の親愛なる日ロ両国民の声である。中国人や朝鮮半島の人びとも、国際法治社会を樹立すべきであるとの構想に、時代の流れとともに賛同していくであろう。
現状の国際社会は、法治社会というにはほど遠い。2000年5月から、現在のもろもろの国際裁判所を補完するものとして、筆者の先導によりNGOの世界市民法廷(WOCIT)が活動してきた。国連の常任理事国の拒否権、侵害国が逃れることができるような弱い国際司法裁判所、かかる現行の国際制度が、新世紀の世界市民社会に適合しているはずがない。とりわけ、ここに世界市民法廷設立の存在理由がある。
世界市民法廷には11の事件が付託されてきた。同法廷は、日本・ロシア・アイヌ民族間の領土紛争事件については、この問題を外交交渉で解決できなければ国際裁判での解決を視野にいれるよう2回(2005年11月14日、2007年1月25日)両国に提案し(資料編、312—315頁)、インド・パキスタン間のカシミール事件では、双方の首脳にたいし、核戦争に訴えないよう3回も(2000年12月5日、2002年1月15日、2002年6月4日)緊急措置を勧告し、イラク戦争にかんしては、同法廷の総会は、法の支配と民族自決権の重要性を強調しつつ(2004年5月26日)、他方、私はWOCIT会長として、イラク戦争では、人類の英知が営々として築いてきた戦争禁止原則の金字塔が軽視されたことを批判し、こんご武力不行使原則への再帰が強く求められていると声明した。(2007年1月25日。資料編、316—320頁)
国連憲章第33条は、「いかなる紛争でもその継続が国際の平和及び安全の維持を危うくするおそれのあるものについては、その当事者は、まず第1に、交渉、審査、仲介、調停、仲裁裁判、司法的解決、地域的機関又は地域的取極の利用その他当事者が選ぶ平和的手段による解決を求めなければならない。」と規定している。武力行使が合法であるのは、自衛権(国連憲章51条)と集団安全保障の場合だけであり、復讐や戦争などは容認されない。ところが、赤裸々な戦争や復讐が21世紀にはいってもおこなわれているのである。
筆者が2006年8月5日、世界連邦・北海道(荻野忠則代表)に入会したのは自然の成り行きであった。領土、軍事、環境、人口、その他もろもろの国際問題が、より効果的かつ合理的に世界連邦のもとで解決されうる、と筆者は考えている。
WFM(世界連邦運動、本部はニューヨーク)という国際団体は、かなり影響力のある団体であるが、それ自身の具体的な世界連邦案をもっていないことがわかるや、筆者はその構想を考察する必要を感じ、そのためのNGOの憲章作成と組織化をすすめる一方、世界連邦実現探究世界大会の開催にも奔走した。
国連は、変革されるべきであるとおもう。2008年11月10日、ニューヨークで、国連変革世界連合(WATUN)が開催された。筆者は、そこでも、また脱稿済みの「世界平和連邦府憲章(案)」でも、領土問題が外交交渉や調停で解決できないばあい、国際裁判で解決する制度を提案した。領土問題だけでない。人間も、国家も、いろいろな対外的行動で独善的であってはならない。法の支配する地球社会の樹立、——これが本書の基底にある精神である。
近年、国際社会において、じつに多くのNGOが大きな役割を演じている。世界平和連邦府(WPF,仮称)は、2009年1月1日に誕生したばかりの赤子ではあるが、世界連邦と恒久平和の樹立への寄与を目的としており、その成長に期待している。

(…後略…)

***
Phiên bản 1 (tiếng Nhật)
世界の領土・境界紛争と国際裁判 - 外交交渉と司法的解決の併用を目指して (単行本)
金子 利喜男 (著)

目次

第1部 日本の領土問題の沿革第2部 係争諸島の平和地帯化
第3部 領土・境界紛争の解決方法
第4部 領土・境界紛争の判例研究
第5部 世界市民法廷の創建
http://www.hanmoto.com/bd/isbn978-4-7503-1418-1.html
目次
第1部 日本の領土問題の沿革 日ロ間の領土問題—北方領土をめぐって/日中間の領土問題—尖閣諸島をめぐって/日韓間の領土問題—竹島問題をめぐって
第2部 係争諸島の平和地帯化
永世中立・平和地帯化構想の系譜/平和地帯と積極的平和の樹立
第3部 領土・境界紛争の解決方法
外交交渉の無果実の原因/紛争解決の義務/司法的解決/司法的解決の友好的選択
第4部 領土・境界紛争の判例研究
紛争の発生と要求の拡大/一方または双方の独善的判断/司法的立法と国際法の発展/外交交渉と他の平和的解決手段/ほか
第5部 世界市民法廷の創建
世界市民法廷の構想と特徴/世界市民万人の簡易提訴権

Cập nhật ngày Thứ năm, 27 Tháng 5 2010 20:59

“Để công dân thế giới biết tới Hoàng Sa là của Việt Nam”

Email In PDF.

“Thư gửi Liên hiệp quốc nhân 40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa” đang được lấy chữ ký rộng rãi trên mạng internet, từ ngày 11.1 đến nay, đã có hơn 7000 người ký tên vào bức thư này.

TS.Lê Vĩnh Trương, thành viên Quỹ nghiên cứu biển Đông, người tham gia soạn thảo lá thư cho biết: Sau khi lấy ý kiến từ cộng đồng, nhóm soạn thảo đang tiến hành lọc lại dữ liệu để đảm bảo không có người nào ký 2 lần, tránh thư rác… Thư bằng tiếng Việt, tiếng Anh cũng đã sẵn sàng, dự kiến chúng tôi sẽ gửi lên Liên Hiệp quốc vào 19.1.2014.

Bạn đọc có thể click vào đây để ký tên: http://qncbd.wordpress.com/2014/01/11/ky-ten-thu-goi-lien-hop-quoc-sign-the-letter-sent-to-the-united-nations/

Là người tham gia soạn thảo bức thư đặc biệt này, xin tiến sĩ cho biết ý tưởng ký thư gửi liên hợp quốc được ra đời như thế nào? 

TS. Lê Vĩnh Trương: Mùa Xuân là mùa vui nhưng cũng là mùa có nhiều gợi nhớ, nhớ đến những biến cố đã qua , nhớ đến những hy sinh mất mát, nhớ đến những người nằm xuống. Những trận chiến Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc là một số trong các biến cố gợi những nỗi niềm. Quỹ Nghiên cứu Biển Đông kiên trì có những hoạt động, những bài viết để ôn lại, nhắc lại các sự kiện đó từ nhiều năm nay. Năm nay, việc tưởng niệm 40 năm TQ tấn công Hoàng Sa của Việt Nam khiến chúng tôi nghĩ xem mình sẽ làm gì để mang lại công lý cho VN một cách phù hợp nhất với hoàn cảnh hiện tại.

QNCBĐ và Nhóm Biển Đông tại Pháp có cùng mong muốn này và như thế chương trình hợp tác cùng nhóm Biển Đông Tại Pháp viết thư gởi Liên Hiệp Quốc đã ra đời!

Tiến sĩ có thể giải thích rõ hơn về ý nghĩa và tác động của hoạt động này đối với Liên Hợp Quốc và các quốc gia khác?

TS. Lê Vĩnh Trương: Các hoạt động của thế giới hiện đại ngày càng đa dạng, phổ biến và ngày càng nhiều từ các nhóm dân sự. Chúng tôi cho rằng hoạt động này là một nỗ lực kết nối tất cả các công dân thế giới quan tâm đến công lý và hòa bình cũng như giải quyết các vấn đề giữa người với người, giữa các nước với nhau bằng các biện pháp duy lý và hòa bình. Thương thuyết, yêu cầu các cơ quan luật pháp quốc tế phân xử thay cho võ lực, không như các hành động TQ đã thực hiện đối với VN trong nhiều năm qua mà cụ thể là các biến cố Hoàng Sa, Trường Sa, xâm lặng phía Bắc VN 1979.

Về tác động, lá thư này có thể thu hút sự quan tâm của Liên Hiệp Quốc. Quyền dân sự của một cộng đồng thế giới văn minh cần được lắng nghe và tôn trọng, bất luận quyền ấy được khởi xướng từ công dân của nước nhỏ hay lớn. Chúng tôi còn tin rằng việc Liên Hiệp Quốc quan tâm đến vấn đề này còn có thể có tác động kiềm chế và lên án những hành vi bạo lực vốn tiếp tục leo thang trong khu vực đối với các vấn đề biển đảo.

Đối với cộng đồng ở Việt Nam, việc đọc và ký thư có ảnh hưởng như thế nào, thưa tiến sĩ?

Chúng tôi tin rằng toàn thể những người ký có chung một quyết tâm, mong muốn tác động đến tâm can của tất cả những người dân Việt Nam, ghi nhớ lại những ngày tháng đất nước đối mặt với bạo lực xâm lược. Với lá thư này, chúng tôi còn mong rằng sự kiện chúng ta đã mất một phần lãnh thổ (Quần đảo Hoàng Sa) vì Trung Quốc xâm chiếm trái phép cần được ghi nhớ, nhắc nhở bởi tất cả con dân Việt Nam không chỉ hôm nay mà cả mai sau.

Với những nhà làm chính sách ở Việt Nam, những người ký thể hiện sự ủng hộ, thúc giục và hy vọng có thể tác động đến giới làm chính sách nhằm mục đích giải quyết các vấn đề xung đột bằng những biện pháp dựa trên luật pháp quốc tế, vì công lý và hòa bình. Bảo vệ công lý, hòa bình cũng chính là nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam và sẵn sàng cho những tình huống xấu nhất!

Chúng tôi mong mỏi trước sự hy sinh của tiền nhân đã khuất, người Việt khắp nơi có thể cùng làm một điều vì công lý của đất nước. Để công dân toàn thế giới biết tới Hoàng Sa là của Việt Nam.

Trong thư có nhắc đến các chiến sĩ Việt Nam cộng hoà đã hi sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa, nhóm soạn thảo có lo lắng về việc một số người Việt Nam sẽ ngại ký tên, bởi đây vẫn là một chủ đề “nhạy cảm” ở trong nước?

TS. Lê Vĩnh Trương: Ngại cũng là một tình cảm bình thường trước khi chọn lựa hành động của con người và bất cứ ai cũng có thể ngại. Biết nhiều cũng ngại, trải qua nhiều thăng trầm cũng ngại. Chưa vượt qua được tâm lý của chính mình cũng ngại. Song chúng tôi nghĩ trước khi chọn làm một việc có ích, có ý nghĩa thì cá nhân cần phải vượt qua được những chướng ngại đó.

Cá nhân tôi thấy, sư thật và các giá trị phổ quát thì luôn còn đó. Gạt bỏ lớp bụi thời gian và sự e ngại cá nhân thì tất cả đều sẽ được phơi bày chân thật.

Những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ phẩm giá của đất nước Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử là sự thật lịch sử cần phải được ghi danh bằng cách này hay cách khác, lúc này và cả mai sau!

Cảm ơn internet và những chứng nhân, những sử gia ra công đưa sự thật đến thế giới. Nhờ vậy chúng ta biết được những chiến sĩ ấy đã có những tâm nguyện gì, đã hành xử như thế nào trước bạo lực xâm lược.

Họ ra đi nhưng không mất đi!

Họ cũng là những con người Việt Nam, cũng yêu thương cũng có gia đình vợ con, cũng cần đến những bàn thờ cụ thể cũng như sự ghi công trong tâm tưởng của người VN như bao người lính đã ngã xuống trong nhiều cuộc chiến.

Và chúng tôi mong muốn góp một phần nỗ lực tưởng niệm họ, đó là một phần việc của chương trình này.

Theo tôi, công việc ký vào thư này không của riêng ai, của người Việt trong hay ngoài nước mà cũng có thể là của mọi công dân thế giới hiểu biết và yêu chuộng lẽ phải.

Để đạt được con số trên 7000 người ký, tính đến 14/1/2014, chúng tôi cảm nhận được sức mạnh của truyền thông, của những nhóm dân sự cùng chung tay làm việc vì cộng đồng vì quốc gia. Đất nước không là của riêng ai! Cùng bắt tay vào làm cho xã hội tốt hơn là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người.

Đất nước, láng giềng không của riêng tiền nhân hay hậu thế. Việt Nam tính từ các triều đại Ngô, Đinh, Lê đến nay đã qua nhiều triều đại đều có tính kế thừa lẫn nhau. Lê Lợi-Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo cũng đã ca ngợi các chiến công và nỗ lực gìn giữ đất nước của nhà Trần chống xâm lược là trên tinh thần đó!

Xin cảm ơn tiến sĩ


Káp Thành Long thực hiện
http://sinhvienusa.org/2014/01/15/de-cong-dan-the-gioi-biet-toi-hoang-sa-la-cua-viet-nam/

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL