Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

forcefetish.net

Thursday, Jun 29th

Last update04:16:08 PM GMT

You are here: Trang chủ

South East Asia Sea Research Foundation

Thông báo giải thưởng cho các nghiên cứu liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông

Email In PDF.

Giới thiệu tổng quan

Biển Đông là vành đai bao bọc Việt Nam, là nguồn tài nguyên quan trong và có vị trí chiến lược sống còn cho đất nước. Việc có ứng pháp để bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển là vô cùng quan trọng. Việc này cần phải được thực hiện bằng nỗ lực của toàn dân và chính phủ, của toàn bộ người Việt trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

 

Mục đích của giải thưởng

 

Nhằm khuyến khích các cá nhân hoặc tổ chứnghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo.

 

Giải thưởng

 

Hàng nămQuỹ Nghiên cứu Biển Đông sẽ trao giải thưởng trị giá 300 USD/giải cho những công trình nghiên cứu có giá trị về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.

Các công trình nghiên cứu có thể là: luận văn (đại họcthạc sỹ, tiến sỹ), các công trình nghiên cứuđưc phản biện, hoặc được đăng tải trên những báo, tạp chí uy tín có biên tập.

 

Điều kiện được xét duyệt

 

Bất kỳ công trình nghiên cứu nào phù hợp với các lĩnh vực liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông mà Quỹ Nghiên cứu Biển Đông (QNCBĐ) quy định(*) đều được xem xét để nhận giải thưởng.
Giải thưởng có thể được trao cho một cá nhân hoặc một t chức.
Luận văn đại học đã hoàn thành và được bảo vệ thành côngCó điểm của hội đồng phản biệnCó nhận xét và điểm của giáo viên hướng dẫn.
Luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã hoàn thành đề cương chi tiết, có nhận xét của giáo viên hướng dẫn.
Các công trình nghiên cứu đưc phản biện, hoặc được đăng tải trên những báo, tạp chí uy tín có biên tập.

 

Thủ tục xét duyệt và trao giải thưởng

 

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông sẽ thành lập một Ban Giải thưởng.

 

Người viết luận văn gửi đơn xin và các giấy tờ theo yêu cầu về địa chỉ  Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. :

 

1. Thư đề nghị xét giải thưởng theo mẫu của Quỹ, trong đó ghi chi tiết:

Tên và địa chỉ liên lạc, số điện thoại, số fax của người xin (có thể là cá nhân hoặc một nhóm tác giả)
Tên của trường viện/khoa, tổ chức v.v…
Chi tiết về khóa học (cử nhân hay thạc sỹ vv, ngành học)
Tên công trình nghiên cứu
Tóm tắt nội dung công trình nghiên cứu
Tên của tất cả các thành viên tham gia vào công trình nghiên cứu
Đối với luận văn : điểm số của luận văn liên quan đến toàn bộ khóa học (bao nhiêu phần trăm khóa học)
Chữ ký của người xin
Tên và địa chị liên lạc, số điện thoại, số fax và email của giáo viên hướng dẫn

 

2. Bản copy của công trình nghiên cứu (Word hoặc pdf file).

 

Ban Giải thưởng sẽ xem xét, và sẽ tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn khi cần thiết.

 

Trân trọng

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

www.seasfoundation.org

 

(*) Ví dụ về những lĩnh vực liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông mà Quỹ Nghiên cứu Biển Đông có thể trao giải thưởng:

 

Kinh tế biển:

1. Đánh giá thực trạng và dự đoán tiềm năng hải sản trên biển Đông.

2. Đánh giá thực trạng khai thác và dự báo nguồn lợi dầu khí trên biển Đông.

3. Phân tích thực trạng kinh doanh của hệ thống cảng biển của Việt Nam. Nghiên cứu việc bố trí tối ưu hệ thống cảng biển dọc theo bờ biển từ bắc vào nam.

4. Khai thác năng lượng thủy triều và năng lượng gió trên biển (phong điện)

5. Thực trạng khai thác và tiềm năng du lịch biển.

6. Khả năng phát triển các khu kinh tế mở dọc bờ biển.

7. Phát triển kinh tế trên các đảo của Việt Nam.

8. Những chủ đề thích hợp khác.

Luật quốc tế về biển và tranh chấp lãnh thổ:

1. Các luật quốc tế về biển và hàng hải nói chung.

2. Luật quốc tế về phân định biên giới trên biển (UNCLOS và tiền UNCLOS).

3. Luật quốc tế về tranh chấp chủ quyền.

4. Các case studies về phân định biên giới trên biển hay tranh chấp lãnh thổ mà Việt Nam cần quan tâm.

5. Nghiên cứu, giải mã và phê phán các bằng chứng mà Trung Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của họ trên biển Đông.

6. Nghiên cứu về cơ chế sử dụng trọng tài và tòa án quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp trên biển.

7. Vấn đề gác lại tranh chấp và hợp tác khai thác trên biển trên khía cạnh pháp lý và khả năng thực thi.

8. Những chủ đề thích hợp khác.

Lịch sử và văn hóa liên quan đến biển:

1. Khai thác biển của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

2. Các nét văn hóa độc đáo của cư dân ven biển.

3. Các bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông.

4.  Nghiên cứu về việc sử dụng các bằng chứng lịch sử trong việc giải quyết tranh chấp biên giới trên biển.

5.  Những chủ đề thích hợp khác

Địa chính trị biển, ngoại giao và quốc phòng

1. Vai trò của biển Đông đối với quốc tế.

2. Vị trí và tầm quan trọng của các đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông

3. Vị trí chiến lược (nếu có) của Việt Nam trên biển Đông và làm thế nào để sử dụng được các lợi thế này?

4. Chiến lược phát triển hải quân, cảnh sát biển và ngư chính của Việt Nam.

5. Những chủ đề thích hợp khác

Địa lý, sinh thái học Biển Đông và các lĩnh vực liên quan khác:

1. Cấu tạo địa chất của biển Đông.

2. Các dòng hải lưu trên biển Đông.

3. Hiện tượng bồi lấn trên biển Đông, ảnh hưởng của nó đến vận tải biển và sự vận hành của hệ thống cảng biển của Việt Nam.

4. Khí hậu và thời tiết ở biển Đông, các ảnh hưởng của chúng đến kinh tế và quốc phòng của Việt Nam trên Biển.

5. Hệ sinh thái và đa dạng sinh học ở Biển Đông

6.  Những chủ đề thích hợp khác

Ngôn ngữ học và Đông phương học:

1. Các di chỉ, di tích, di vật viết bằng chữ Hán, chữ Nôm liên quan đến quá trình khám phá đất đai, phát hoang hay tạo dựng dinh điền vùng sông biển Việt Nam.

2. Nghiên cứu các tư liệu các tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Nhật, và các tiếng các quốc gia Đông Nam Á có liên quan đến bờ biển Việt Nam.

3. Những chủ đề thích hợp khác

 

 

 
Cập nhật ngày Thứ năm, 23 Tháng 8 2012 23:04

Thư gửi và yêu cầu lãnh đạo Việt Nam đưa Trung Quốc ra trọng tài và tòa án quốc tế

Email In PDF.

Thưa các bạn,

 

Ngày 02/5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 đến hoạt động trong vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc đã điều hơn 80 tàu với sự yểm trợ của máy bay chiến đấu và tàu quân sự, dùng vòi rồng tấn công tàu của kiểm ngư Việt Nam, đâm húc tàu và làm bị thương nhiều kiểm ngư viên Việt Nam.

 

Hành động trên đe dọa an ninh, hòa bình ở khu vực Đông Nam Á và thế giới, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm công pháp quốc tế, xé bỏ mọi nguyên tắc đối xử hữu nghị cơ bản giữa các quốc gia.

 

Trung Quốc đang dùng vũ lực để biến Hoàng Sa và vùng biển Việt Nam thành của họ, tiếp tục mưu đồ xâm lược nước ta, tiếp tục tham vọng bành trướng của họ mà ông cha từ bao đời Lý, Trần, Lê đã dốc công ngăn chặn.

 

Không, chúng ta không thể im lặng khi Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải và đe dọa an toàn của người dân Việt như vậy.

 

Không, chúng ta, và tất cả công dân yêu chuộng công lý của thế giới, không thể im lặng khi Trung Quốc ngang nhiên đi ngược lại mọi chuẩn mực về công pháp quốc tế, chà đạp lên mọi nguyên tắc cơ bản về quan hệ trong khu vực và thế giới.

 

Chúng ta một mặt kiên quyết giữ vững từng tấc đất, từng hòn đảo, từng hải lý mà ông cha ta đã để lại. Mặt khác, chúng ta phải đem tranh chấp ra các cơ quan tài phán quốc tế để ngăn chặn mưu đồ của Trung Quốc, để thế giới biết được bản chất ngang ngược, coi thường công pháp quốc tế của nước này.

 

Đó cũng là mục đích bức thư chúng ta gửi và yêu cầu các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam : chính thức và dứt khoát đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế.

 

Hãy cùng nhau hành động để Trung Quốc hiểu rằng sức mạnh của súng đạn, của máy bay và tàu chiến của họ không thể ngăn được dân tộc Việt Nam và bạn bè thế giới lên tiếng vì công lý và lẽ phải.

 

Hãy cùng nhau ký tên vào lá thư này :

 

Xem thư :

https://docs.google.com/document/d/1RSjufZiPBIn4cmnWvVgMKOz_zLB7mfXc1uWxvbmRuYM/edit

 

Ký thư :

https://docs.google.com/forms/d/1S9hOdsPTa0clAKUweT_eyhCWzkxGNzTLUPByMKoXmGk/edit#

 

Trân trọng, Nguyễn Quang A, Lê Trung Tĩnh. 

 

Cập nhật ngày Thứ sáu, 23 Tháng 5 2014 18:39

Tổng thống Philippines và thách thức cho VN

Email In PDF.

TS. Dương Danh Huy

Mặc dù ngày 20/8/2016 Tổng thống Rodrigo Duterte của Philippines tuyên bố “Có lẽ chúng tôi sẽ phải quyết định ly khai với Liên Hiệp Quốc”, thế nhưng sẽ không hề có nguy cơ Philippines làm điều đó.

Tuyên bố của Duterte chỉ là ngôn từ trả miếng của một nhân vật hay loạn ngôn và đã từng bị ví là “Donald Trump của phương Đông”. Thay vì suy diễn một cách tùy tiện, cần đánh giá tuyên bố đó trong văn cảnh của nó cũng như cùng với khái niệm “ly khai với LHQ".

Bối cảnh của tuyên bố này là Duterte kêu gọi cảnh sát và dân chúng Philippines giết những người bị nghi là buôn bán ma túy, thậm chí giết cả những người sử dụng ma túy. Ông cũng tuyên bố sẽ bảo vệ trước pháp lý những cảnh sát nào giết người như thế.

Từ khi ông nhậm chức, ngày 30/6/2019, đến nay đã có hơn 1.900 người bị giết dưới chính sách bắn không cần xử này, trung bình khoảng 35 người mỗi ngày.

Một trong những luật sư nhân quyền hàng đầu của Philippines, Jose Manuel Diokno, cho rằng Duterte đã “tạo ra một vụ nổ bom nguyên tử không kiểm soát được cho bạo lực và tạo ra một quốc gia không có quan tòa”.

Bộ Ngoại giao Mỹ, các chuyên gia LHQ về nhân quyền, về ngăn trừ tội phạm, về việc tử hình không tòa án, cũng như Tổng Thư ký LHQ đã phê phán chính sách này và kêu gọi Duterte và chính quyền Philippines chấm dứt nó.

Phản pháo lại, Duterte tuyên bố tại một buổi họp báo, “Có lẽ chúng tôi sẽ phải quyết định ly khai với LHQ", và "Nếu anh xấc xược như thế... tôi sẽ bỏ anh.”

Ông thậm chí còn nói ông "không quan tâm" khi được hỏi về hệ quả của tuyên bố đó.

Ông nói thêm là có lẽ ông sẽ sáng lập một tổ chức mới để cạnh tranh với LHQ, ông sẽ mời mọi quốc gia tham gia, ông sẽ mời Trung Quốc và các nước Châu Phi. Và ông cũng đả kích Mỹ.

Hai ngày sau, Ngoại trưởng Philippines Perfecto Yasay bác bỏ chuyện Philippines rút ra khỏi LHQ, khẳng định rằng Philippines vẫn hết lòng với LHQ, và thanh minh rằng tuyên bố của Duterte chỉ là “sự diễn đạt về sự thất vọng và bức xúc sâu sắc” trong lúc ngài Tổng thống đang mệt và đói.

Duterte cũng nói ông chỉ đùa cợt. Rõ ràng tuyên bố “ly khai” chỉ là phát biểu hồ đồ, xả xú páp của một “người hùng” thích dùng ngôn từ không phù hợp với cương vị của một nguyên thủ.

altImage copyrightAFP
Image captionÔng Duterte tức giận trước việc LHQ chỉ trích cuộc chiến chống ma túy của ông

Khả năng ly khai khỏi LHQ

Việc Philippines, hay bất cứ quốc gia nào, rút ra khỏi LHQ không khơi khơi như sự diễn đạt của Duterte.

Các thành viên sáng lập của LHQ đã rút kinh nghiệm từ việc nước Nhật quân phiệt ly khai với Hội Quốc Liên năm 1933 khi tổ chức này đề nghị Nhật rút quân ra khỏi Mãn Châu, trả chủ quyền cho Trung Quốc, và họ có chủ ý là việc tham gia LHQ sẽ là vĩnh viễn, trừ khi bị trục xuất. Trong Hiến chương LHQ, không có quy định về việc ly khai.

Mặc dù một quốc gia có thể viện dẫn điều khoản về có “sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh” trong Công ước Vienna về Luật Điều ước Quốc tế để biện minh cho việc rút ra khỏi LHQ, khó có thể cho rằng mâu thuẫn giữa Duterte và LHQ là “sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh”.

Trên thực tế, cho tới nay, nếu không tính trường hợp Syria sáp nhập với Ai Cập năm 1958, do đó không thể tiếp tục là thành viên LHQ, chỉ có duy nhất một quốc gia đã từng tuyên bố ly khai với LHQ. Đó là Indonesia năm 1965 khi nước này phản đối việc Malaysia vào Hội đồng Bảo an LHQ. Nhưng chỉ trong vòng một năm nước này đã tiếp tục làm thành viên trở lại.

Tổng kết lại, không hề có nguy cơ Philippines sẽ rút ra khỏi LHQ.

Việc cho nó là nguy cơ là quá đáng. Việc đặt vấn đề Quốc hội Philippines phê chuẩn nó và phân tích về hệ quả của trường hợp đó là không cần thiết. Việc để sang một bên nguyên nhân của tuyên bố của Duterte để rồi suy diễn ra một nguyên nhân khác là không hợp lý.

altImage copyright
Image captionTrong Hiến chương LHQ không có điều khoản về việc một nước thành viên có thể ly khai

Cũng vô lý nếu cho rằng tuyên bố của Duterte giới hạn hiệu lực của phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài về Biển Đông hay củng cố lại yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc.

Tuyên bố của Duterte không làm cho phán quyết của Tòa giảm hiệu lực pháp lý ở bất cứ mức nào, không làm cho yêu sách biển của Trung Quốc dựa trên đường 9 đoạn hợp pháp thêm ở bất cứ mức nào.

Chính sách của Philippines qua các thời tổng thống

Thật ra nguy cơ đặc thù từ Duterte không phải là “Philippines rút ra khỏi LHQ” hay tuyên bố của ông “giới hạn hiệu lực của phán quyết” mà là những điều khác.

Trước tình hình ngàn cân treo sợi tóc tại Biển Đông, trong những năm qua một trong những điểm sáng đem lại hy vọng là thiện chí và sự phối hợp giữa Việt Nam, Philippines và Mỹ.

Trong thời gian đó, Tổng thống của Philippines là Benigno Aquino.

Trong một cuộc phỏng vấn báo chí, Aquino nói mỗi sáng thức dậy ông thường nghĩ về Biển Đông và tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm những điều họ làm. Phát biểu này và việc Aquino kiên trì theo đuổi vụ kiện Biển Đông bất kể áp lực từ Trung Quốc cho thấy ông có một sự đam mê về Biển Đông xuyên suốt từ suy nghĩ đến hành động.

Chính phủ của Aquino cũng đã tương đối sáng suốt và khé léo trong quan hệ với Việt Nam.

Chẳng hạn, khi Việt Nam ban hành Luật Biển năm 2012, trong đó có khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, và Trung Quốc phản ứng bằng việc thành lập thành phố Tam Sa, Philippines đã không phản đối Việt Nam nhưng lại phản đối Trung Quốc. Dưới thời Aquino, các nhà ngoại giao và các học giả Philippines cũng khéo léo vận động sự ủng hộ của Mỹ.

altImage copyrightREUTERS

Để có thể đoàn kết chống sự bành trướng của Trung Quốc, cần có sự đam mê, tầm nhìn, sự khôn ngoan và khéo léo của tất cả các bên.

Nhưng Duterte vừa không có sự đam mê về Biển Đông, vừa có vẻ kém khéo léo, nếu không muốn nói là kém khôn ngoan và có tầm nhìn ngắn.

Khi thì ông nói sẽ cưỡi mô tô trượt nước phi ra đảo đòi chủ quyền, khi thì ông nói nếu Trung Quốc xây đường sắt cho ông, ông sẽ im miệng về tranh chấp.

Trong khi Mỹ là đồng minh quan trọng nhất của Philippines, chỉ vì Mỹ phê phán ông giết người không tòa án là vi phạm nhân quyền, ông sẵng sàng đả kích Mỹ và nói sẽ mời Trung Quốc.

Với LHQ, ông là một vị nguyên thủ nhưng dùng ngôn từ thô tục. Một trong những tờ báo lớn ở Anh, tờ Telegraph, đã gọi đó là “miệng bẩn”.

Thách thức cho Việt Nam

Thách thức cho Việt Nam là một nhà lãnh đạo như Duterte sẽ khó kiên trì chống sự bành trướng của Trung Quốc, có nhiều khả năng ông sẽ không quý trọng hay tôn trọng luật quốc tế và các cơ quan quốc tế, sẽ thiếu sự tế nhị cũng như những hiểu biết tế nhị và tầm nhìn trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong tranh chấp Biển Đông.

Ông có thể dễ bị Trung Quốc dụ dỗ bằng củ cà rốt kinh tế, bằng cách ủng hộ các chính sách của ông, bất kể về nhân quyền, bất kể về sự nguy hại của các chính sánh đó cho nền pháp trị của Philippines, bằng cách ve vuốt, hay những cách khác.

Trung Quốc có thể khai thác những sự mâu thuẫn giữa Philippines và Việt Nam, Malaysia, thậm chí giữa Philippines và Mỹ, với ông.

Trong khi đó, làm việc với một người như ông sẽ có nhiều thử thách cho Việt Nam, Mỹ, cũng như Malaysia. Những điều này đem lại nguy cơ tiềm tàng cho thiện chí và sự phối hợp Việt-Phi-Mỹ ba nước đã xây dựng được trong những năm qua.

Trong khi Malaysia đã có khuynh hướng không tin cậy Philippines và điều đó là một yếu tố cản trở sự đoàn kết giữa các nước Đông Nam Á trong tranh chấp Biển Đông, với một Tổng thống như Duterte, sẽ khó mà Malaysia sẽ tin cậy Philippines hơn.

Tóm lại, thách thức ở Duterte cho Việt Nam chính là việc ông có thể gây thêm khó khăn cho việc đoàn kết vốn đã có nhiều khó khăn nhằm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, trong khi Việt Nam là nước cần sự đoàn kết đó nhất.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Tác giả cảm ơn Phan Văn Song và các thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông đã góp ý cho bài viết.

Nguồn

Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác"

Email In PDF.

3. Philippine đã “dính bẫy” chưa? 

Nhiều người bức xúc cho rằng nội dung mà các lãnh đạo tuyên bố trong quan hệ với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông trong thời gian qua là đã “dính bẫy” do Trung Quốc giăng ra, thậm chí là đã quy phục, đầu hàng Trung Quốc. 

Tuy nhiên, dựa trên những nội dung pháp lý đã nêu ở phần 1 ("Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên Biển Đông đang trở thành hiện thực?) và với một tinh thần cầu thị, khách quan khi nhận xét đánh giá nội dung và hình thức của các tuyên bố đặt trong bố cảnh hiện nay, chúng ta hãy cùng nhau phân tích về bản chất, ý nghĩa và giá trị của các tuyên bố quan trọng đó. 

Theo nguồn tin của các hãng thông tấn khu vực và quốc tế, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, hôm thứ Ba tuần trước 16/5 tuyên bố: ông sẵn sàng cùng Trung Quốc và Việt Nam, hai đối thủ chính trong tranh chấp Biển Đông, thăm dò tài nguyên ở Biển Đông. 

alt
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tại Diễn đàn quốc tế Một vành đai, một con đường ở Bắc Kinh, ảnh: Rappler.

Tổng thống Philippines nói ông có thể hợp tác với các nước láng giềng khi trở về nước từ Bắc Kinh, sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường: 

“Nếu có thể có được cái gì đó mà không gặp phiền hà, thì tại sao không chứ?”, ông Duterte nói với các nhà báo. Ông nói thêm rằng với điều kiện là mọi sự phải “công bằng và cân xứng”.  

Căn cứ vào lời lẽ nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Nhà nước Philippines đã chính thức từ bỏ yêu sách của mình trên Biển Đông. Vì sao? 

Thứ nhất, ông Duterte chỉ tuyên bố về nguyên tắc là “sẵn sàng” hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với điều kiện không gặp “phiền hà” và mọi sự phải “công bằng và cân xứng”. 

Suy ra rằng bất cứ một thỏa thuận nào có liên quan đến lãnh thổ, chủ quyền quốc gia là phải tuân thủ đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. 

Nếu không thì sẽ phải “gặp phiền hà” bởi sự phủ quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và bởi sự phản kháng của người dân nước họ. 

Chính vì vậy, bên cạnh những tuyên bố của Tổng thống Duterte trong thời gian tham dự Diễn đàn cấp cao: “Vành đai và Con đường” tại Bắc Kinh, ông Santa Romana, một quan chức ngoại giao Philippines lại tuyên bố rằng:

Sự tham dự của ông Duterte tại hội nghị thượng đỉnh về Con đường Tơ lụa lần này không thể được coi là Philippines đã “từ bỏ” tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. 

Phải chăng đó là chìa khóa an toàn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Philippines trong Biển Đông?

Thứ hai, đi sâu hơn về ý tứ của tuyên bố đó, thiết nghĩ đây cũng là một sách lược khôn ngoan của phía Philippines trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền của các bên liên quan đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Lịch sử của quá trình Philppines tranh chấp chủ quyền ở đây đã chứng minh và ngay cả phía Philippines cũng đã thừa nhận:

Họ đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền chỉ từ những năm 50 và đã chiếm đóng trên thực tế một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa vào những năm 70 của thế kỷ trước. 

Trên danh nghĩa pháp lý, họ cũng chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với các thực thể nằm trong phạm vi hình lục giác bao lấy một phần quần đảo Trường Sa (trừ nhóm đảo Trường Sa lớn), mà họ gọi là “Kalayaan”. 

alt
Lược đồ phạm vi nhóm đảo Kalayaan do Philippines tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thể hiện trong Sắc lệnh số 1596 của tổng thống Philippines. Ảnh: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kalayaan_Island_Group_(vi).png

Họ lập luận rằng nhóm đảo này, mặc dù không phải là một bộ phận cấu thành quốc gia quần đảo, vẫn thuộc chủ quyền của Philippines, vì chúng ở gần Philippines về mặt khoảng cách địa lý.  

Nguyên tắc “khoảng cách địa lý” không có giá trị để bảo vệ cho việc chiếm đóng của họ dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. 

Vì vậy, phải chăng tuyên bố này cũng là một biện pháp pháp lý nhằm giành lấy sự công nhận trên thực tế  việc chiếm đóng phi pháp của họ, nếu các bên liên quan chấp nhận “đề xuất” này?

Thứ ba, Philippines thừa biết rằng đây không phải là lần đầu tiên Philippines tìm cách hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông. 

Năm 2005, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Trung Quốc và Việt Nam trên khắp khu vực.

Nhưng thỏa thuận này sau đó sụp đổ, khiến bà Arroyo sau đó tuyên bố “không thể tin vào người Trung Quốc”. 

Mặc dù như vậy, Philippines vẫn tiếp tục đề xuất chủ trương này cũng chỉ vì mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc mà thôi.

Bởi thế, Tổng thống Philippines nói chuyến đi của ông tới thăm Bắc Kinh là “cơ may” cho Philippines, ông tiết lộ rằng sẽ có thêm nhiều khoản đầu tư từ Trung Quốc, nhưng ông không cho biết thêm chi tiết…

4. Việt Nam chưa “dính bẫy”?

Trước hết chúng tôi xin được trích nguyên văn nội dung được nêu tại Điểm 6, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa diễn ra:

“Hai bên đã trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển; nhấn mạnh cần tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã đạt được và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”;

alt

Donald Trump - Tập Cận Bình cùng thắng, phần thua thuộc về ai?

Sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung; kiên trì thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; 

Tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. 

Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; 

Tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.  

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm xây dựng “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC); 

Kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Trong nội dung này, chúng tôi xin lưu ý thỏa thuận “hợp tác cùng phát triển” là giải pháp tạm thời áp dụng cho hai khu vực khác nhau: 

Một là ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ: “…Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này…”.

Hai là: “trên biển”: “…tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”.

alt

Lý do không ai hưởng ứng Trung Quốc "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông

Từ nội dung nói trên, chúng tôi cho rằng Việt Nam đã rất thận trọng khi thỏa thuận áp dụng giải pháp “cùng phát triển” cho 2 khu vực biển khác nhau: 

Một là khu vực cửa vịnh Bắc Bộ mà 2 bên đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng chồng lấn.

Trong khi hai bên đang đàm phán để thống nhất một đường phân định cuối cùng thì có thể thỏa thuận áp dụng giải pháp tạm thời “cùng phát triển” cho vùng chồng lấn ở đây.

Đây là một thỏa thuận hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. 

Hai là: nhóm công tác cần tiếp tục “…bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…” Cụm từ “trên biển” ở đây nên được hiểu như thế nào? 

Phải chăng cụm từ này đã phản ánh sự dung hòa quan điểm của 2 bên về phạm vi áp dụng giải pháp “cùng phát triển”? 

Theo lập trường của Việt Nam, phạm vi này chỉ có thể phải là các vùng chồng lấn được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 khi xác lập phạm vi vùng đặc quyền và thềm lục địa của mỗi quốc gia. 

Còn Trung Quốc có thể cho rằng “trên biển” nói trong tuyên bố này bao gồm toàn bộ vùng biển nằm trong giới hạn đường “lưỡi bò”, trong đó có cả khu vực quần đảo Trường Sa mà họ gọi là “Nam Sa quần đảo”, nơi mà Trung Quốc, kể cả vùng lãnh thổ Đài Loan, cho đến nay đã cưỡng chiếm được 9 thực thể địa lý;

Nhưng lập trường của Trung Quốc về khái niệm "trên biển" lại không bao gồm khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa và đã chiếm đóng trái phép hoàn toàn từ năm 1974.

Đó là cách mà Trung Quốc vẫn thường xuyên sử dụng để áp đặt, mặc cả trong đàm phán ngoại giao. 

Như vậy, có thể thấy lập trường của hai bên về phạm vi áp dung cho giải pháp “cùng khai thác trên biển” còn cần phải được cụ thể hóa bằng các cuộc đàm phán cấp chuyên viên.

Và chắc chắn điều này sẽ không dễ dàng thống nhất được một sớm một chiều, nếu Trung Quốc vẫn cố tình bám giữ yêu sách “lưỡi bò”. 

Như vậy, không thể nói Việt Nam đã “dính bẫy” mà Trung Quốc đã giăng ra trong Biển Đông. 

Tuy nhiên, như mọi người đều đã biết, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó, đàm phán ngoại giao song phương hoặc đa phương là biện pháp ưu tiên hàng đầu. 

Trong quá tình đàm phán hòa bình, Việt Nam cũng đã từng chủ động đề xuất áp dụng các giải pháp tạm thời có tính thực tiễn và hợp lý để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đàm phán, từng bước tìm được giải pháp cơ bản, lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được.  

Tất nhiên cũng phải tùy theo khu vực và tính chất tranh chấp để áp dụng các giải pháp tạm thời thích hợp nhất, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, chẳng hạn:

Trong cuộc đàm phán từ ngày 3 đến 5/6/1992, Việt Nam và Malaysia đã ký văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung khu vực biển chồng lấn rộng 2.800 km2 trong vịnh Thái Lan (gọi tắt là MOU). 

Nội dung chủ yếu của MOU là, hai bên đã xác định chính thức tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa mà phía Việt Nam và phía Malaysia đưa ra, quy định hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn này theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lãi suất. 

Thỏa thuận cũng nêu rõ, nếu như có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực chồng lấn và một phần nằm trên thềm lục địa của Việt Nam hoặc Malaysia thì hai bên sẽ thỏa thuận cùng thăm dò khai thác. 

alt

Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông?

Về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tại khu vực chồng lấn, thì hai bên cũng có thỏa thuận về quản lý hải quan, thuế, biên phòng…  

Với Indonesia, Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận hoạch định ranh giới thềm lục địa và hiện hai nước đang tiến hành đàm phán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Việt Nam cũng đã từng chủ động đề nghị áp dụng giải pháp hợp tác cùng khai thác trước khi nhất trí xác định được ranh giới cuối cùng của vùng đặc quyền kinh tế, tuy nhiên, hai bên vẫn chưa đạt được đồng thuận.

Trở lại vấn đề hợp tác cùng khai thác giữa Việt Nam và Trung Quốc: 

Tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc có vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách của đôi bên trong hoạch định vùng biển theo đúng với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và hai bên đã đề cập sẽ có sự hợp tác khai thác chung ở khu vực chồng lấn này. 

Trong đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã từng thỏa thuận áp dụng giải pháp hợp tác trong vùng đánh cá chung chứ không phải bây giờ mới đề cập. 

Mặc dù đã thống nhất được đường phân định, nhưng vì lý do chiếu cố đến lợi ích của ngư dân của đôi bên trong quá trình chuyển đổi nghề, nên hai bên đã đồng ý xác định một khu vực gọi là “khu vực đánh cá tạm thời, quá độ”. 

Cũng trên tinh thần đó, ngành dầu khí hai nước cũng đã ký gia hạn thỏa thuận cùng nhau hợp tác thăm dò, khai thác mỏ dầu vắt ngang qua đường phân định biên giới tại vịnh Bắc Bộ. 

Đối với tranh chấp Biển Đông, ngày 23/9/2013, tờ Inquirer của Philippines, đăng bài viết của John Nery, một trong 15 nhà báo ASEAN phỏng vấn Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long.

Trong đó ông Lý Hiển Long có đưa ra một số bình luận đáng chú ý khi cho rằng: tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông “chỉ có thể quản lý, không thể giải quyết”, đồng thời ông kêu gọi các bên tranh chấp cùng khai thác nguồn tài nguyên trên Biển Đông. 

Xuất phát từ lợi ích khu vực trong tình hình hiện nay, tuyên bố này xét về phương diện chính trị, ngoại giao là hợp lý. 

Nhưng đi sâu về mặt pháp lý, vấn đề đặt ra là hợp tác khai thác như thế nào, ở đâu, và áp dụng cho loại tranh chấp nào?  

Bởi vì, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, không có chuyện vùng đặc quyền kinh tế hay vùng thềm lục địa được xác lập hợp pháp, chính đáng, rõ ràng theo quy định của Công ước này, lại bị nước khác, do động cơ vụ lợi, nhảy vào, cố tình tạo ra tranh chấp, rồi  bắt “cùng khai thác”, biến vùng không phải tranh chấp thành vùng tranh chấp, biến không thành có.  

Chính vì thế, các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quôc đề cập tới giải pháp “hợp tác cùng khai thác” áp dụng cho khu vực ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là khả thi, vì đây là điều rất bình thường, giống như đã được áp dụng tại các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia; Việt Nam, Thái Lan và Malaysia trong vịnh Thái Lan…

alt
Sơ đồ vùng đánh cá chung,vùng quá độ. Nguồn: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao.

Như vậy cho thấy rằng, Việt Nam sẵn sàng áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác cùng khai thác” đối với những vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách dựa theo đúng quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chứ không phải đồng ý giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên toàn bộ Biển Đông.  

Liên quan đến giải pháp tạm thời theo nguyên tắc Status- quo, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã vận dụng thành công giải pháp tạm thời này cho quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa 2 nước:

Năm 1991, sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được khôi phục, trước khi mở ra các vòng đàm phán về biên giới, lãnh thổ trên đất liền, hai bên đã ký “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới” theo nguyên tắc quản lý biên giới theo tình hình thực tế, giữ nguyên mốc giới hiện có (nguyên tắc Status-quo). 

Trong quá trình đàm phán về biên giới trên bộ, hai bên cũng đã vận dụng nguyên tắc này để xử lý thỏa đáng những khu vực biên giới trên bộ còn có nhận thức khác nhau, nhằm phục vụ cho nhu cầu hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật. 

Thỏa thuận khai thông đường sắt liên vận Đồng Đăng – Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu là một ví dụ điển hình, sinh động về cách thức áp dụng nguyên tác này với danh nghĩa là một  giải pháp tạm thời:

Trước khi thống nhất được đường biên ở khu vực biên giới còn có nhận thức khác nhau này, Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết một nhu cầu rất thiết yếu về kinh tế, kỹ thuật. 

Đó là làm sao khai thông tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường, nối Lạng Sơn của Việt Nam với khu vực tự trị Choang- Quảng Tây, Trung Quốc.

Tuyến đường này đi qua Hữu Nghị Quan, thuộc khu vực 249C, là khu khu vực Việt Nam và Trung Quốc có nhận thức khác nhau về mặt pháp lý, từng xảy ra đụng độ đẫm máu. 

Lịch sử bảo vệ, quản lý tại thực địa ở đây khiến việc đàm phán không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều.

Trong khi đó, nhu cầu khai thông tuyến đường sắt liên vận sau khi hai nước khôi phục quan hệ là rất cần thiết.

Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế, dân sinh của mỗi nước, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia láng giềng vừa trải qua một cuộc chiến tranh biên giới khốc liệt. 

Tuy vậy, câu hỏi đặt ra làm sao có thể khai thông được khi mà tuyến đường sắt liên vận này phải đi qua khu vực tranh chấp về biên giới, lãnh thổ chưa được giải quyết? 

Trong khi Trung Quốc từ lâu tìm cách khẳng định đường biên giới đi qua “điểm nối ray”, còn Việt Nam cho rằng đường biên giới phải đi qua “nhà mái bằng”, ngôi nhà bảo vệ thiết bị thông tin kết nối đường sắt.

Hai điểm này cách nhau 300 mét.

Đại diện đàm phán hai nước, với tinh thần khách quan, cầu thị, đã thẳng thắn khẳng định đường biên giới chủ trương của cả Trung Quốc và Việt Nam thể hiện trong khu vực này là  không hoàn toàn chuẩn xác, không thể đi qua vị trí mà Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn. 

Vì thế hai bên cần phải đàm phán để tìm ra một đường biên giới mới mà cả hai nước có thể chấp nhận. Trong khi đàm phán hoạch định biên giới theo thỏa thuận, hai bên nên thống nhất chọn một giải pháp tạm thời, mang tính kinh tế, kỹ thuật, để khai thông tuyến đường sắt liên vận. 

Giải pháp tạm thời này không làm ảnh hưởng đến việc hoạch định hướng đi của đường biên giới mới tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam và Trung Quốc chấp nhận “đóng băng” khu vực 300 mét này, tức là khi con tàu chạy từ phía Việt Nam đến “điểm nối ray” và từ phía Trung Quốc đến vị trí “nhà mái bằng” thì dừng lại, để các lực lượng quản lý nhà nước của hai bên rời khỏi tàu. 

Trên tàu chỉ còn các chuyên gia kỹ thuật, lái tàu và nhân viên phục vụ hàng hóa ở lại làm nhiệm vụ chuyên môn, dịch vụ. 

Vì vậy, hai nước ký biên bản khai thông đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường và Lào Cai - Sơn Yêu ngay trong dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị Trung Quốc cuối năm 1995. 

Thiết nghĩ, đó là một bài học để có thể nghiên cứu áp dụng cho những khu vực tranh chấp có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ trên biển.

Và, chính trong Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), các bên tham gia cũng đã thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng thêm sự chiếm đóng, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình…cũng đã vận dụng tốt nguyên tắc Status-quo rồi. 

Tất nhiên, điều tối quan trọng khi sử dụng những giải pháp tạm thời này là cần phải khẳng định rằng chúng không làm ảnh hưởng đến quá trình đàm phán và kết quả cuối cùng, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau, vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế. 

Tuy vậy, các bên vẫn có quyền (và cần thiết) bảo lưu quan điểm về chủ quyền của mình đối với các thực thể địa lý mà mình đã tuyên bố có chủ quyền để phục vụ cho một kênh giải quyết tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình đối với các thực thể địa lý này, khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận tổ chức thực hiện theo đúng các thủ tục pháp lý nhất định./.

Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội-2008.

-Thục Minh , “Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và luật pháp quốc tế”. Báo Thanh Niên Online, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121203/giai-quyet-tranh-chap-bang-thuong-luong-va-luat-phap-quoc-te.aspx -Luật quốc tế, đề cương Giáo trình , Học viện Quan hệ quốc tế, 1978.

- Steven R. Ratner, The New UN Peacekeeping: Building Peace in Lands of Conflict After the Cold War, Nhà xuất bản St. Martin's (1996).

- Vu Duong Ninh (ed.), Bien gioi tren dat lien Viet Nam-Trung  Quoc [China‐Vietnam Land boundary], Hanoi (Cong An Nhan Dan ed. 2011).

- Tôn Sinh Thành, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN (Nghiên cứu Biển Đông,17/03/201) Biendong.net - TQ "gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông không  -biendong.net/.../9364-tq-gac-tranh-chap-cung-khai-thac-bien-dong... Sep 27, 2016.

- Nguyễn Bá Diến, ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG (Nghiên cứu Biển Đông, 15/03/2010).

- AFP, Tokyo ngày 21/4/1995. Ngày 20/4/1995, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã phát biểu chính thức tại Tokyo rằng: "Quan điểm của Việt Nam là giữ gìn hiện trạng để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp thay vì là sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.".

-  Trần Công Trục: “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, năm 2012.

-TS  Đặng Đình Quý: “Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông”, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2015.

- Hợp tác cùng phát triển - giải pháp có tính thực tế tạm thời – QĐ , www.baomoi.com › Xã hội › Thời sự ,Oct 29, 2013.

- Nghĩa vụ trong vùng biển chồng lấn thềm lục địa ... - Luật pháp Quốc tế- https://iuscogen.wordpress.com/.../nghia-vu-trong-vung-bien-chong lấn...

- Bàn về khả năng hợp tác cùng phát triển ở - Petrotimes - petrotimes.vn/ban-ve-kha-nang-hop-tac-cung-phat-trien-o-bien-do... Nov 14, 2013.

- TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CHUNG https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/12/18/4186/ Dec 18, 2009.

- 100 câu Hỏi - Đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam. www.vnmilitaryhistory.net.

TS Trần Công Trục

Cơ hội hợp tác an ninh Việt - Mỹ trên Biển Đông

Email In PDF.

 

Một "hàng rào miễn dịch" cần được xây dựng và củng cố.

Làm sao để Biển Đông trở thành một vùng biển của hợp tác - hòa bình và hữu nghị, thay vì xung đột và chiến tranh; Làm sao để quan hệ hợp tác Việt - Mỹ trở thành động lực và mang đến cơ hội cho cả hai, chứ không phải tạo ra rào cản bởi một bên thứ 3;​

Làm thế nào để quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các siêu cường cũng như những thành viên còn lại của ASEAN bổ sung cho nhau và hướng tới mục tiêu hòa bình - ổn định - phồn vinh, thay vì theo phe này chống phe kia thực sự là một nhu cầu, đòi hỏi và bài toán đặt ra cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Vì thế, những hoạt động đối ngoại như chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có ý nghĩa rất quan trọng.

Chuyến thăm không chỉ thể hiện tính chủ động và năng động của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong đối ngoại, mà còn mở ra những cơ hội mới để tăng cường hiểu biết và lòng tin, củng cố các hoạt động hợp tác cùng có lợi cho cả hai nước và khu vực.

An ninh trên Biển Đông hay kinh tế - thương mại nên được xem như những cơ hội để hai bên đào sâu khả năng hợp tác, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://www.cnbc.com/2017/05/31/trump-may-turn-to-vietnam-for-help-on-south-china-sea.html

[2]http://www.cnbc.com/2017/01/23/trump-white-house-vows-to-stop-china-taking-south-china-sea-islands.html

[3]http://theweek.com/articles/701749/trumps-big-mistake-south-china-sea

[4]http://edition.cnn.com/2017/05/29/asia/south-china-sea-underwater-observation-system/

[5]http://www.eurasiareview.com/31052017-resolving-south-china-sea-dispute-critical-for-world-peace-analysis/

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Co-hoi-hop-tac-an-ninh-Viet--My-tren-Bien-Dong-post177067.gd

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL