Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Friday, Aug 01st

Last update04:29:22 PM GMT

You are here: Blog

SEAS Blog

Blog của nhóm thành viên Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông
Tháng 7 25
2013

Điểm sách “Sổ tay phân định ranh giới trên biển” của Liên hợp quốc

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

Điểm sách “Sổ tay phân định ranh giới trên biển” của Liên hợp quốc (Văn phòng Sự vụ Pháp luật, Phân ban Sự vụ Hải dương và Luật biển)

 

Nguyễn Đức Hùng

Tháng 7 20
2013

Điểm sách "Chế độ (pháp lý) của các đảo trong luật pháp quốc tế"

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

Điểm sách "Chế độ (pháp lý) của các đảo trong luật pháp quốc tế" (The Regime of Islands in International Law, by Hiran W. Jayewardene)
Nguyễn Đức Hùng
 
Trong luật biển quốc tế, chế độ (quy chế) pháp lý của các đảo đóng vai trò quan trọng trong việc phân định đường ranh giới biển. Tuy luật biển quốc tế không quy định chủ quyền trên đảo/quần đảo và không sử dụng luật biển quốc tế để giải quyết tranh chấp đảo nhưng chủ quyền trên đảo/quần đảo có ảnh hướng đến việc xác định đường ranh giới biển của mỗi quốc gia ven biển. Sự diễn giải và áp dụng chế độ pháp lý các đảo trong việc phân định ranh giới biển là việc khó đồng thuận trong thương lượng. Cuốn sách "Chế độ (pháp lý) của các đảo trong luật pháp quốc tế" của tiến sỹ luật học Hiron W. Jayewardene tổng hợp nguyên lý sử dụng đảo để xác định ranh giới biển trong việc thương lượng và ký kết hiệp định phân định ranh giới. Cuốn sách cung cấp nhiều ví dụ điển hình trên thế giới.
 
Phần 1 gồm chương mở đầu (chương 1) trình bày khái quát đặc điểm đặc trưng của các đảo theo luật pháp quốc tế bao gồm định nghĩa và hiệu lực các đảo được hưởng vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa cũng như vùng đặc quyền kinh tế của các đảo.
 
Phần 2 gồm năm chương (chương 2 đến 5) trình bày quy chế các đảo và vịnh, quy chế vịnh bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các đảo trong vịnh, các đảo và vai trò của đảo trong việc xác định đường cơ sở, các đá ngầm và đảo san hô, các quần đảo nằm giữa biển. Chương 2 trình bày quy tắc xác định đường cơ sở khi có đảo ở trong vịnh và những vấn đề phát sinh trong việc vạch đường cơ sở. Chương 3 trình bày quy chế sử dụng đảo trong việc xác định các đường cơ sở thẳng và các trường hợp áp dụng thực tế (án lệ) trên thế giới. Chương 4 đề cập đến quy chế của đá ngầm và đảo san hô và những nguyên tắc chung sử dụng đá ngầm và đảo san hô để xác định đường cơ sở. Chương 5 trình bày quy chế quần đảo ở giữa biển khơi và những vấn đề phức tạp nảy sinh tranh chấp. Chương 5 lấy một số ví dụ về quốc gia quần đảo và thực hành xác định đường cơ sở dựa trên quy chế quốc gia quần đảo.
 
Phần 3 gồm ba chương (chương 6 đến 8) trình bày ảnh hưởng của đảo tới việc phân định đường ranh giới biển giữa các quốc gia. Chương 6 đề cập quy chế các đảo trên đường biên giới sông giữa các quốc gia, còn Chương 7 viết về quy chế các đảo trong các hồ quốc tế và thực tế áp dụng phân định đường ranh giới trên hồ giữa các quốc gia xung quanh hồ. Chương 8 trình bày quy chế các đảo và phân định ranh giới biển quốc tế giữa các quốc gia ven biển, và tổng hợp nguyên tắc chung và phương pháp áp dụng quy chế đảo trong việc phân định ranh giới trên biển quốc tế. Trước khi trình bày chi tiết và minh họa bằng các ví dụ điển hình, Chương 8 khái quát về việc phân định ranh giới lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế dựa trên các công ước luật biển. Cũng trong Chương 8, phương pháp đường trung tuyến (equidistance) phân định ranh giới biển được giới thiệu và nhiều ví dụ điển hình được sử dụng để minh họa. Một điều lý thú là chương 8 chiếm phân nửa nội dung của cuốn sách.
  
Nhìn một cách tổng quát, cuốn sách "Chế độ (pháp lý) của các đảo trong luật pháp quốc tế" là một sự tổng hợp lịch sử quy chế các đảo trong luật biển, thực tế áp dụng các quy chế pháp lý các đảo trong thực tế thông qua các ví dụ điển hình mà tòa án quốc tế đã phán quyết. Đây là một cuốn sách nên có để làm nguồn tham khảo cho những người làm nghiên cứu về việc áp dụng quy chế pháp lý của đảo/quần đảo trong việc giải quyết tranh chấp ranh giới biến và có thể làm sách cẩm nang cho việc đàm phán thương lượng ký kết hiệp định phân định ranh giới biển.
 
Vài hàng về tiểu sử tác giả cuốn sách: Tác giả là Hiran W Jayewardene, tiến sỹ luật học người Ski Lanka (nước duy nhất với tên có tính từ XHCN giống như VN: CHXHCN DC Sri Lanka!), tốt nghiệp ngành luật tại University of Ceylon, và làm PhD về luật biển (với chủ đề "the regime of islands in the international law") tại Đại học Cambridge và cuốn sách này được cập nhật và phát triển thêm từ luận văn tiến sỹ. TS Jayewardene được chỉ định làm đặc phái viên và đã có những đóng góp nhiều ấn tương cho Hội nghị LHQ về luật biển lần thứ 3 (1982). TS Jayewardene từng làm đại diện cho chính phủ Sri Lanka (trưởng phái đoàn) tham dự Hội nghị LHQ lần thứ 3 về luật biển. TS Jayewardene là người tham gia thành lập và hiện làm Chủ tịch Hãng Tài nguyên biển Quốc gia (the National Aquatic Resources Agency) http://www.nara.ac.lk/people/, một cơ quan luật pháp có chức năng về nghiên cứu và phát triển nguồn tài nguyên dưới lòng biển.
Tháng 7 16
2013

Điểm sách “Nguồn gốc và phát triển luật biển – Nhìn lại lịch sử phát triển luật quốc tế"

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

Điểm sách “Nguồn gốc và phát triển luật biển – Nhìn lại lịch sử phát triển luật quốc tế" (Origin and Development of the Law of the Sea - History of International Law Revisited" của R.P. Anand, Giáo sư luật quốc tế, Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi.

Cuốn sách của giáo sư luật quốc tế viết về nguồn gốc và sự phát triển của luật biển qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chương khởi đầu nhấn mạnh đến thuyết tự do trên biển (Mare Libreum) của Grotius, một luật sư người Hà Lan, được coi là cha đẻ của luật quốc tế và luật biển. Thuyết tự do trên biển dựa trên nguyên lý cơ bản biển và đại dương không thuộc riêng ai và phải được mở ra để tất cả mọi người trên thế giới cùng sử dụng.

Chương 2 của cuốn sách trình bày về tự do trên biển và giao thương đường biển trong vùng Ấn Độ Dương. Chương này bắt đầu lịch sử phát triển luật hàng hải trên Biển Địa Trung Hải từ thành phố cổ Rhodes và sự phát triển của ngành giao thông đường biển, chạy tầu buôn bán của các nước Tây Á và Trung Cận Đông trên các vùng khác nhau trong Ấn Độ Dương từ thời cổ tới thời trung cổ.

Tháng 8 18
2011

Lời mở đầu của cuốn "Phân tranh lãnh thổ biên giới thế giới và Tòa án quốc tế"

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

 

 

Tập tài liệu

Tháng 12 15
2010

Pháp làm gì với Trường Sa

Posted by: duongdanhhuy

Tagged in: Untagged 

Pháp làm 3 điều sau và 3 điều đó có nghĩa chủ quyền đối với Trường Sa trở thành thuộc Việt Nam.

 

1. Tuyên bố Trường Sa thuộc chủ quyền Pháp:


Theo Tập San Sử Địa thì Journal officiel de la République Francais 25 Juillet 1933, p.7394, ghi

MINISTÈRE DES AFFAIRES ÉTRANGÈRES

Avis relatif à l’occupation, le 19 juillet 1933, de certaines iles par des uni-tés navales  francaises.
Le Gouvernement francais a fait procéder par des unités navales à l’occupation des iles et ilòts  définis ci-dessous:
1, L’ile Spratly, située par 8°39’ latitude Nord et 111°55’ longitude Est Greenwich, ainsi que les  ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 13 avril 1933).
2, Ilot Caye-d’ Amboine, sitúe par 7°52’, latitude Nord et 112°55, longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 7 avril 1933). 
3, Ilot Itu-Aba, situé par 10°22’, latitude Nord et 114°21’, longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).
4, Groupe de Deux-Iles, sitúe par 11°29’ latitude Nord et 114°21’, longitude Est Greenwich, ainis  que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).
5, Ilot Loaito , sitúe par 10°42’ latitude Nord et 114°25’, longitude Est Greenwich, ainis que les  ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 11 avril 1933).
6, Ile Thí-Tu, sitúe par 11°7’ latitude Nord et 114°16’, longitude Est Greenwich, ainis que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 12 avril 1933).

Les iles et ilots sus-indiqués relèvent désormais de la souverameté francaise

Lưu ý Pháp không chỉ ghi có 6 đảo trong tuyên bố chủ quyền, mà đối với mỗi đảo Pháp còn tuyên bố chủ quyền đối với "những đảo phụ thuộc" ("ainsi que les  ilots qui en dépendent").

2. Sáp nhập Trường Sa vào với tỉnh Bà Rịa thuộc Cochin-China:

Theo TSSĐ thì nghị định số 4762, 21-12-1933 ghi:
LE GOUVERNEUR DE LA COCHINCHINE OFFICER DE LA LÉGION D’HONNEUR

Vu le décret du 29 Octobre 1911;
Vu le décret du 9 Juin 1922 portant réorganisation du Conseil Colonial de la Cochinechine et les textes subséquents;
Vu l’avis publíe dans le Journal officietl de la République Francaise du 26 Juillet 1933 par le Ministere des Affaires Etrangéres, relatif à l’occupation de certaines iles par des unité navales Etrangeres, relatif à l’occupation de certaines iles par des unité navales francaises.
Vu les lettres Nos 634 et 2243- AP des 24 Aout et 14 septembre 1933 du Gouverneur général, relatives a l’annexion des iles et ilots du groupe Spratly ou Tempête;
Vu les delibération du Conseil colonial en date du 23 Octobre 1933;
Le consefl privé entendu,
ARRETE
Article ier. – L’ile dénommée Spartly et les ilots Caye-d’ Amboine, Itu-Aba, Groupe de Deux- iles, 
Loaito et Thi-Tu qui en dépendent, situés dans la mer de Chine sont rattachés à la province de Baria.
Article 2. – L’administrateur, Chef de la province de Baria et la Chef du Servics du Cadastré et de la Topographic sont chargés, chacun en ce qui le concerne de l’execution du présent arrêté.
Saigon, le 21 décembre 1933
Signé : J.KRAUTHEIMER

3. Công nhận Cochin-China được sáp nhập vào Viêt Nam, không còn thuộc Pháp, và không bảo lưu quyền gì đối với Trường Sa:

Loi N°49-733 du 4 juin 1949 modifiant le statut de la Cochinchine dans l’Union française

Après avis de l’Assemblée de l’Union française,
L’Assemblée nationale et le Conseil de la République ont délibéré,
L’Assemblée nationale a adopté,
Le Président de la République promulgue la loi dont la teneur suit :
Art. 1er. – Dans le cadre fixé à l’article 60 de la Constitution de la République française et après l’avis émis, dans sa séance du 23 avril 1949, par l’Assemblée territoriale de Cochinchine, le statut de Cochinchine est modifié dans les conditions prévues à l’article ci-après.
Art. 2. – Le territoire de la Cochinchine est rattaché à l’Etat associé du Viet-Nam suivant les termes de la déclaration commune du 5 juin 1948 et de la déclaration du Gouvernement français du 19 août 1948. La Cochinchine cesse en conséquence d’avoir le statut de territoire d’outre-mer.
Art. 3. – En cas de changement de statut du Viet-Nam, le statut de la Cochinchine fera l’objet d’une nouvelle délibération des assemblées prévues à l’article 75 de la Constitution (Titre VII : De l’union française).
La présente loi sera exécutée comme loi de l’Etat.
Fait à Toulon, le 4 juin 1949.
VINCENT AURIOL.
Par le Président de la République :
Le président du conseil des ministres,
HENRI QUEUILLE.
Le ministre de la France d’outre-mer,
PAUL COSTE-FLORET.
Lưu ý Pháp không bảo lưu TS như 1 phần của Cochin-China không được sáp nhập vào VN, vẫn còn thuộc Pháp (trừ khi những tuyên bố 5/6/1948 hay 19/8/1948 có bảo lưu).

 

Tháng 10 26
2010

Luật quốc tế về xác lập chủ quyền đối với đảo

Posted by: duongdanhhuy

Tagged in: Untagged 

Theo luật quốc tế chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ, thí dụ như đối với đảo, dựa trên hai yếu tố: thụ đắc chủ quyền và duy trì chủ quyền.

Trước hết một nuớc phải thụ đắc chủ quyền bằng hành động của nhà nước để khẳng định chủ quyền đối với một vùng đất vô chủ. Hành động này phải không bị các nước khác phản đối. Luật quốc tế về thế nào là “khẳng định” chủ quyền có thay đổi theo thời gian, thí dụ như

·         Trước thế kỷ 19, sự chinh phục hay xâm lăng có thể được xem là có giá trị thụ đắc chủ quyền.

Tháng 10 26
2010

Sự khác biệt giữa đảo và biển trong lãnh vực chủ quyền

Posted by: duongdanhhuy

Tagged in: Untagged 

Trong tranh chấp biển đảo, chúng ta cần phân biệt giữa một bên là chủ quyền đối với đảo và bên kia là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với biển.

Chủ quyền của một quốc gia đới với đảo là tuyệt đối, không khác gì chủ quyền đối với lãnh thổ trên đất liền hay đối với nội thuỷ.

Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với biển không tuyệt đối, phức tạp hơn chủ quyên đối với đảo, và được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 thường được viết tắt là UNCLOS. Những quyền này bao gồm chủ quyền không tuyệt đối trong lãnh hải 12 hải lý, và những quyền chủ quyền, quyền tài phán khác nhau trong vùng tiếp giáp 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa bên ngoài 200 hải lý.

Tháng 9 25
2010

Joint Statement of the 2ND U.S.- ASEAN Leaders Meeting

Posted by: duongdanhhuy

Tagged in: Untagged 

Những tuyên bố này trên nguyên tắc cũng giống của Hilary Clinton tại AFR, nhưng có vẻ dè dặt hơn.  Tuyên bố cuối cùng không nói tên "South China Sea" một cách cụ thể (dù ai cũng hiểu là nói về South China Sea).

Read-out of President Obama's Working Luncheon with ASEAN Leaders

"The President and the leaders also agreed on the importance of peaceful resolution of disputes, freedom of navigation, regional stability, and respect for international law, including in the South China Sea"

Joint Statement of the 2ND U.S.- ASEAN Leaders Meeting


http://www.whitehouse.gov/the-press-office/2010/09/24/joint-statement-2nd-us-asean-leaders-meeting
"18. We reaffirmed the importance of regional peace and stability, maritime security, unimpeded commerce, and freedom of navigation, in accordance with relevant universally agreed principles of international law, including the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and other international maritime law, and the peaceful settlement of disputes. "

Chắc vì TQ dọa trước và ASEAN sợ:

China 'concerned' about possible US-ASEAN statement on South China Sea issue


Hy vọng ASEAN nói ít làm nhiều.

Tháng 7 06
2010

Tự Học Hán Văn Trực Tuyến - Bài 1 Học

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

(Bản nháp)

Phần 1
Bậc 1 80 chữ Hán cơ bản

一 ニ 三 四 五 六 七 八 九 十 百 千 日 月 火 水 木 金 土 左 右 上 下 大 中 小 目 耳 口 手 足 人 子 女 男 先 生 学 校 赤 青 白 正 早 山 川 林 森 田 竹 草 花 犬 貝 虫 天 空 気 夕 雨 村 町 石 車 音 本 字 文 力 名 年 入 出 立 見 休 円 王 玉 糸

Âm Hán Việt

Nhất Nhị Tam Tứ Ngũ Lục Thất Bát Cửu Thập Bách Thiên Nhật Nguyệt Hỏa Thủy Mộc Kim Thổ Tả Hữu Thượng Hạ Đại Trung Tiểu Mục Nhĩ Khẩu Thủ Chi Nhân Tử Nữ Nam Tiên Sinh Học Hiệu Xích Thanh Bạch Chính Tảo Sơn Xuyên Lâm Sâm Điền Trúc Thảo Hoa Khuyển Bối Trùng Thiên Không Khí Tịch Vũ Thôn Đinh Thạch Xa Ôn Bản Tự Văn Lực Danh Niên Nhập Xuất Lập Kiến Hựu Viên Vương Ngọc Mịch

Âm Tiếng Trung

yī  èr sān  sì  wǔ  liù  qī  bā  jiǔ  shí  bǎi  qiān  rì  yuè  huǒ  shuǐ  mù  jīn  tǔ  zuǒ  yòu  shàng  xià  dà  zhōng  xiǎo  mù  ěr  kǒu  shǒu  zú  rén  zǐ  nǚ  nán  xiān  shēng  xué  xiào  chì  qīng  bái  zhèng  zǎo  shān  chuān  lín  sēn  tián  zhú  cǎo  huā  quǎn  bèi  chóng  tiān  kōng  qì  xī  yǔ  cūn  dīng  shí  chē  yīn  běn  zì  wén  lì  míng  nián  rù  chū  lì  jiàn  xiū  yán  wáng  yù  jiǎo

Bài Mở Đầu

Điểm cần nhớ:












Tháng 7 05
2010

Tự Học Hán Văn Trực Tuyến - Phát Âm Tiếng Trung Quốc

Posted by: nguyenduchung

Tagged in: Untagged 

Phát âm tiếng Trung Quốc

By Nguyễn Đức Hùng
Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông www.seasfoundation.org

Tổng quan

Chữ Hán là chữ tượng hình, nghĩa là chữ viết biểu diễn nghĩa bằng hình, không giống như chữ viết tượng thanh theo các hệ chữ viết dùng chữ cái La Tinh. Khi phát âm, mỗi chữ Hán được phát một âm tiết (a syllable) và cũng giống như tiếng Việt một âm tiết trong tiếng Hán thường được ghép bởi một phụ âm và một nguyên âm và một phụ âm cuối. Lưu ý rằng cũng có những âm tiết chỉ có nguyên âm và phụ âm cuối hoặc chỉ có phụ âm đầu và nguyên âm, hoặc chỉ có nguyên âm.

Một đặc điểm của tiếng Hán là tồn tại rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa (nghĩa là các từ có cùng phát âm nhưng nghĩa khác nhau). Tiếng Hán-Việt dùng ở Việt Nam là tiếng Hán cổ (được cho rằng là tiếng Hán vào thời điểm Việt Nam thoát khỏi thời kỳ bắc thuộc, tức vào khoảng thế kỷ thứ 9-10) và được phiên âm theo lối phát âm của người Việt Nam và được Việt hóa qua nhiều thế kỷ nên có phát âm hoàn toàn khác với tiếng Hán hiện đại ở Trung Quốc. Có lẽ cũng vì do đặc điểm của tiếng Hán Việt có nhiều từ cùng âm khác nghĩa nên ở Việt Nam thường ám chỉ các cụ đồ am hiểu tiếng Hán là “thâm như nhà Nho” và có lối “chơi chữ Nho”, nghĩa là nói một chữ nhưng lại ngụ ý nhiều ý khác nhau!