Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Tuesday, Oct 21st

Last update09:43:08 AM GMT

You are here: Hoạt động Bài viết thành viên Một góc nhìn trong sử dụng vốn xã hội về vấn đề Biển Đông

Một góc nhìn trong sử dụng vốn xã hội về vấn đề Biển Đông

Email In PDF.

 

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6125&CategoryID=42

Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

19/1/2013 Tưởng niệm Hoàng Sa 39 năm

1-     Vốn xã hội:

Vốn xã hội đã được bàn thảo nhiều dưới góc độ kinh tế, văn hóa và xã hội nói chung. Sức vóc của loại vốn này có lẽ rồi cũng sẽ tiếp tục được nghiên cứu định lượng như một phần sức mạnh cộng đồng, sức mạnh mềm của quốc gia, dân tộc. Các chuyên gia về vốn xã hội xác định rằng loại vốn này là một sự kết hợp giữa văn hóa, lề thói, tập tục, các mối quan hệ và sự cảm nhận thế giới của một cộng đồng hoặc những cộng đồng chia sẻ chung một số giá trị.

Có thể tham khảo định nghĩa sau của Cohen và Prusak (2001): “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau:  Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được”.

Vốn xã hội được Francis Fukuyama đánh giá rất cao trong phát triển kinh tế và thể chế.[1]Tổng vốn xã hội Việt Nam bao hàm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, lưu ý giúp đỡ nhau, vượt khó, hiếu học, tình người và cả những thói quen không hẳn là tốt... Đối với Việt Nam, nguồn vốn xã hội về nhận thức, cảm nhận chia sẻ và cả sự thôi thúc để hành động cụ thể vì vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa (BĐHSTS) là một thành phần của tổng vốn.Việc quan tâm, nghiên cứu và góp sức cho giải quyết những vấn đề của BĐHSTS ở Việt Nam và thế giới đang diễn ra liên tục. Có lẽ chưa bao giờ các cuộc hội thảo, cuộc vận động ngoại giao, việc bàn luận từ nhà ra phố, từ phòng hội nghị đến trường học vì BĐHSTS hoặc về BĐHSTS lại nhiều như những năm gần đây. Thậm chí mối đe dọa chiến tranh từ Trung Quốc đến vùng nước này đã làm cho tình hình nguy hiểm của Trung Đông và các vùng xung đột khác trở nên mờ nhạt.

2-     Các nhóm nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề Biển Đông

Nguồn vốn xã hội BĐHSTS của Việt Nam bao gồm các mối quan tâm của nhiều giới Việt Nam và ngoại quốc trong và ngoài nước đến Biển Đông, nhằm hành động vì công lý và hòa bình, và trui rèn ý chí thực thi công lý cho Biển Đông. Trước sức tấn công nhiều mặt và lấn tới liên tục của Trung Quốc, nguồn vốn này lộ rõ dần dưới nhiều chiều kích, ở nhiều giới khác nhau. Nguồn vốn quan trọng này bao gồm tình dân tộc nghĩa đồng bào, tình nhân loại trong sự tôn trọng pháp luật quốc gia và quốc tế và những yếu tố khác nữa. Nguồn vốn này vẫn có mặt thường xuyên trên các diễn đàn, trong các bài viết, khi tiềm ẩn lúc trào dâng, khi ở các thành phố và những vạn chài Việt Nam, lúc ở các thủ đô ASEAN và các nước khác, có những lúc bị ngăn cản nhưng không gì có thể kiềm hãm nguồn vốn này lan tỏa, dù lúc yếu lúc mạnh.  

a-     Các chuyên gia, nhà nghiên cứu, chính khách tại các viện, trường,

cơ quan, đơn vị ngoại giao và tham chính trong nước hiện đang tư vấn cho giới công quyền là bộ phận quan trọng bậc nhất trong việc mưu tìm gói giải pháp về BĐHSTS cho VN. Trong vị trí có được cơ hội học tập, trao đổi và tiếp xúc các giới rộng rãi hơn tất cả mọi bên khác, kiến thức của giới này nếu có sự giao thoa đúng mức với mối ưu tư của người Việt nói chung về vấn đề này, thì sẽ là một dòng vốn xã hội mạnh mẽ đóng góp vào quá trình gìn giữ BĐHSTS cho Việt Nam.Bằng không,vốn xã hội về Biển Đông nếu thiếu sinh lực do thiếu chăm chút sẽ ảnh hưởng lớn đến các loại vốn xã hội khác. Ví dụ như sự thờ ơ tập thể ngày càng tăng sẽ làm nản lòng những người dám đứng ra bắt cướp vậy.

b-     Những nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài cũng có nhữngđiều kiện khác như cách nhìn

cộng với điều kiện viết khách quan hơn, khả năng tiếp cận các giới chức, giới làm chính sách, ngoại giao, kể cả ngoại giao công chúng không thua chuyên gia trong nước. Những người nghiên cứu này cũng có khả năng tiếp cận giới nghiên cứu nước ngoài về BĐHSTS và là cầu nối cho các chuyên gia trong nước ra ngoài về vấn đề BĐHSTS.

c-      Ngoài ra, những nhà nghiên cứu nghiệp dư hiện đang làm việc trong và ngoài nước cũng có thể

đóng góp những ý kiến, ý tưởng cho các quyết sách về BĐHSTS đối với nhà nước và góp phần vào hiểu biết chung của xã hội về vấn đề không dễ tiếp cận thấu đáo này.

Những nhà nghiên cứu nghiệp dư thường làm việc đơn lẻ, ít đồng nghiệp và khả năng thu thập tư liệu là có hạn, cộng với sự tổ chức có thể không cao. Ngoài ra khả năng tiếp cận các hội thảo trao đổi học thuật trong và ngoài nước không nhiều do tính chất công việc và nghề nghiệp. Chưa nói đến nguồn động viên tinh thần còn hạn chế.

d-     Sức mạnh tổng hợp bao gồm vốn xã hội của sự hiểu biết và cảm nhận về BĐHSTS không thể

thiếu các giới trong quân ngũ, các lực lượng đang trực tiếp và gián tiếp bảo vệ các loại biên giới và hải đảo của đất nước. Sĩ khí của những lực lượng này và những kết nối tinh thần của họ với các chủ vốn khác ở giai đoạn đặc biệt này của đất nước chắc chắn tác động đến nhiều giới trong và ngoài nước.

e-     Như các thành tố của chính sách đối ngoại do các tác giả của chủ

nghĩa hiện thực tân cổ điển đã nêu[2]quảng đại quần chúng nhân dân (thường dân) sẽ là người có ý kiến trực tiếp hợp pháp, hợp hiến và hợp đạo lý thông qua quyết định mua sắm, kinh doanh, đầu tư, nạp thuế, kiến nghị, biểu tình... Những quyết định của  thường dân là đa chiều lên mọi mặt đời sống xã hội và cần được trân trọng lắng nghe. Thường dân với tinh thần yêu nước, chịu thương chịu khó, lam lũ và có ít điều kiện tiếp cận thông tin ở tầng nghiên cứu cũng vừa là đối tượng vừa là nguồn lực của mối quan tâm về BĐHSTS.  Những ngư dân bám biển chân chất và có xác tín (yếu tố căn bản của vốn xã hội) về biển đảo, biên giới, lãnh thổ do họ kế thừa vùng đánh cá từ các thế hệ trước cùng các giá trị tinh thần, tâm linh ngàn xưa truyền lại. Những nhân chứng khắc khổ, chân thật tại các vùng biển như Lý Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức… là những người làm nghề cá bình thường nhưng họ cũng là những chuyên gia về luồng lạch, hướng gió, cách thức ứng xử khi gặp tàu giặc tại Hoàng Sa. Đó là một dạng sức mạnh mềm, vốn xã hội đáng quý. Ngoài ngư dân, những người lao động bình thường ở mọi nơi luôn đóng góp nhiều trong lúc đất nước nguy biến, thụ hưởng chưa xứng đáng khi qua cơn chiến tranh, song họ luôn là chủ vốn xã hội lớn nhất vì chính họ là nguồn của những chủ vốn xã hội ở mai sau, mọi giới.

                  Thường dân là thành tố thụ hưởng kiến thức về BĐHSTS và quan trọng hơn hết, họ chính là thành phần thúc đẩy các kiến thức về vấn đề quan trọng liên quan tồn vong của đất nước bao gồm cả vấn đề BĐHSTS, từ đó tác động đến ý thức và ý chí của các giới khác trong vấn đề này.

f-      Ngoài ra, kiến thức, hiểu biết và sự cảm nhận nhiều chiều (mang

đặc tính vốn xã hội) đối với nghiên cứu và truyền thông tôn trọng sự thật lịch sử của các bên liên quan BĐHSTS như của Trung Quốc, Philippines, Nhật bản, Đài Loan, Ấn Độ và các nước khác cũng chính là vốn xã hội VN liên quan BĐHSTS. Những hiểu biết này cần thiết không chỉ trên mặt trận ngoại giao hay quân sự mà thôi mà đó chính là những bổ sung cho vốn xã hội VN. Việc Mỹ biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam nhưng không lên tiếng như đối với Senkaku sẽ là một đề tài cho những nhà nghiên cứu và chủ vốn xã hội BĐHSTS.

g-     Nói đến vốn liếng tức nói đến thị trường, nguồn vốn xã hội còn

manh mún của giới nghiên cứu và quan tâm đến BĐHSTS sẽ có đất dụng võ tại đâu? Vốn liếng sinh ra sản phẩm và phải phục vụ cộng đồng. Vốn tốt, người tạo sản phẩm tốt thì xã hội được hưởng và ngược lại. Theo chúng tôi, nơi cần đến nguồn vốn xã hội của giới nghiên cứu và các giới khác phần lớn là nằm trong các mối quan hệ giữa các nhóm này với nhau. Quan hệ đó đậm hay nhạt, kết chặt hay lỏng lẻo sẽ có ý nghĩa vốn ấy ít hay nhiều. Khi vốn xã hội được sử dụng, tự thân vốn ấy sẽ gia tăng. Sẽ có một sự gạn lọc các kiến thức và cảm nhận thông qua bộ lọc kiểm chứng, minh bạch hóa và tinh lọc bởi thời gian. Những yếu tố lịch sử chân thật, luật quốc tế khoa học và tinh thần vì con người sẽ còn đó sau khi gạt bỏ các yếu tố giả tạo, gán ghép hoặc im lặng do thờ ơ hay e ngại. Thái độ tích cực dần của thường dân các vùng biển như Lý Sơn khi trao cho nhà nước các châu bản, sắc phong... nằm trong các yếu tố này.  

Có thể ví dụ cho sức mạnh của sự khắc khổ và nghị lực bằng hình ảnh cây mọc được trên đất cằn- thường có sức sống mạnh, con nhà nghèo quý trọng lao động và giá trị tinh thần, con dân một đất nước  nhiều khó khăn sẽ sở hữu dạng vốn xã hội đặc biệt hơn những cây, những con người có nhiều thuận lợi hơn. Sử dụng vốn xã hội khéo phải kể đến Nam Hàn sau khủng hoảng kinh tế 1997, lúc cả đất nước bật ra sức mạnh xã hội và đứng dậy từ yếu kém của nền kinh tế sụp vào bong bóng hào nhoáng trước đó. Vấn đề lớn tại đây nằm ở người sử dụng nguồn lực chung, không chỉ vốn xã hội BĐHSTS.

3-     Sự kết nối của vốn xã hội Biển Đông

a-     Trong điều kiện hiện tại 2013, khi các luồng và phương tiện thông tin ngày càng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các bên liên kết cùng làm việc, việc tăng giảm vốn xã hội nằm ở sự liên kết,sự hiện thực hóa vốn thành nguồn lực của các bên nêu trên. Vốn xã hội VN như tinh thần chị ngã em nâng, lao động cần cù, đấu tranh bất khuất - thừa hưởng từ cha ông-  có cộng thêm vào vốn xã hội (ý thức, kiến thức, ý chí và cảm thức VN về BĐHSTS ) hay không sẽ tùy thuộc vào độ liên kết, sự tin cẩn[3] và sự hợp tác để có sản phẩm cụ thể của các bên sở hữu vốn này.

Nguy cơ cụt vốn xã hội về vấn đề quan trọng của đất nước như BĐHSTS là có hay không? Có những người dùng vốn này mà chưa đủ quý trọng và làm giàu thêm vốn hay không?

Trả lời những câu hỏi này, các nhà sở hữu và hưởng thụ vốn cần hiểu rõ rằng các thông tin, cảm nhận về một mối nguy xâm lăng để có quyết định liên kết và hợp tác với nhau. Những nguồn lực đó phải được chia sẻ và chắt chiu không chỉ nhằm một việc đưa vụ việc ra Tòa án Quốc Tế mà thôi mà có thể còn phải chuẩn bị hành trang cho những chuyến đi khác có thể đầy gian khổ và bất trắc.

b-     Giới chức có trách nhiệm không thể không tìm kiếm các nguồn khảo cứu về BĐHSTS từ nhiều nơi để tập hợp, giải mã, minh bạch, phổ biến và kêu gọi sự quan tâm (vốn xã hội) và ra sức nghiên cứu thành tác phẩm cụ thể (nguồn lực xã hội). Để vốn thành sản phẩm và quay vòng trở lại và lớn vốn hơn hay cụt vốn, nằm trong trách nhiệm của tất cả những người đang quan tâm đến BĐHSTS.

c-      Sự kiềm hãm vốn, dùng vốn thiếu hiệu quả hoặc phá vốn có thể diễn ra ở nhiều phía, không chỉ ở quân địch. Sự nghi binh kém và cả việc không thể chấp nhận là trá hàng với địch sẽ phá vỡ nền tảng của nguồn vốn xã hội ở các cộng đồng Việt Nam và cộng đồng quý mến Việt Nam. Những nhà chiến lược của đất nước sẽ phải hiểu rõ điều này.

Những nhà tuyên truyền thiếu chính xác có thể sẽ làm giảm nhuệ khí của tất cả những người con Việt Nam, từ những quân đội đang nắm võ khí ở tuyến đầu tổ quốc đến những học giả lặng lẽ đang ngày đêm làm việc để gia tăng vốn xã hội đặc biệt này. Và như vậy chẳng phải là làm cho hao hụt vốn sao? Nói theo binh pháp, sự nghi binh này đã bị kẻ địch tương kế tựu kế mà phá nát cả hậu phương vệ quốc rồi!

Còn nói theo Robert Putnam, tại đây “Sự suy giảm vốn xã hội làm yếu đi các lực bảo vệ tính lành mạnh và hạnh phúc của cộng đồng nói chung”[4]

Không thể ngăn nỗi lo rằng những tập thể có công bảo vệ đất nước và thường dân-những người sẽ xả thân vì nước- có thể sẽ ngã lòng hoặc mất tin tưởng hoàn toàn vì những tín hiệu khác biệt từ các nhà sở hữu và sử dụng vốn xã hội cẩu thả!

4-     Kết luận

Quan trọng nhất trong vốn xã hội BĐHSTS là niềm tin vào chính nghĩa của Việt Nam trong vấn đề BĐHSTS, niềm xác tín bất diệt vào thành quả xây dựng và bảo vệ bờ cõi đất nước. Niềm tin, tình nghĩa mà cả nước dành cho ngư dân, cho những anh hùng đã hy sinh vì Hoàng Sa, Trường Sa và tự hào dân tộc can đảm nhiều ngàn năm chống giặc. Đó là vốn xã hội quý báu nhất của Việt Nam hôm nay.

Việc liên kết các bên sở hữu vốn xã hội BĐHSTS là rất cần thiết để chia sẻ kiến thức, thông tin và cảm xúc- của các bên với nhau để kế thừa tinh thần chung và phát huy sáng kiến mới, và hành động cụ thể để có tác phẩm, bài nghiên cứu và nhiều dạng kết quả khác.. Dù rằng có thể thấy tính chất thiên về cảm hơn tri, uy tín hơn khế ước của loại hình sức mạnh-vốn xã hội này, việc tạo ra một thể chế để thúc đẩy gia tăng vốn là cần làm.

Những nhóm, thực thể có hiểu biết về BĐHSTS sẽ là bên làm gia tăng vốn đặc biệt này. Liên kết, trao đổi và hành động có ý thức để vốn đó sinh sôi nảy nở. Nói rộng hơn về tổng vốn xã hội mà vốn xã hội về BĐHSTS là một thành phần, cộng đồng cần bản lĩnh để vượt qua cuộc chiến, để khoan dung, cần tinh thần mã thượng dành cho người bại trận, nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số). Cộng đồng cũng cần bản lĩnh chia sẻ nỗi buồn nạn nhân chất độc màu da cam, của triệu bà mẹ mất con, của Huế Mậu Thân, của thuyền nhân mất tích, của nghèo khó do chính sách kinh tế mới và bản lĩnh chia sẻ niềm vui của thành công của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chia sẻ những thành tựu của người trong nước. Thiếu những phần phi vật thể dạng vốn xã hội này,thì bất cứ lý lẽ nào, văn bản nào kể cả hiến pháp cũng khó mà chuyên chở được tự tình của dân tộc, làm giàu vốn xã hội, làm nền cho hòa bình và phát triển của đất nước trong danh dự.

Vì vốn xã hội BĐHSTS là một nguồn vốn tinh thần, vô hình, phi vật thể, nên luôn cần những nguồn lực xã hội để giúp sức hành động, trong đó có việc mang đến cho loại vốn này một khung pháp lý như tinh thần yêu nước luôn cần những góp sức hiện thực để có thể cụ thể hóa việc giải quyết vấn đề của đất nước, của cộng đồng.

      Tham khảo

-        Trần Hữu Dũng, Tạp Chí Thời Đại Mới, http://www.tapchithoidai.org/TD8_THDung.pdf

-        Tạp Chí Tia Sáng, www.tiasang.com.vn

-        Trần Kiêm Đoàn, trang web Trần Kiêm Đoàn, http://www.trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/vonxahoi.html

-        Huỳnh Phan, Các bài phỏng vấn trên Vietnamnet,

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/97678/nghien-cuu-bien-dong-khong-nhu-mong-doi--tai-ai-.html

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/97187/nghien-cuu-bien-dong---dong-cua-doc-cho-nhau-nghe-.html

 

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-08-16-thieu-nhac-truong-trong-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong



[1] Trong một hội thảo do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tổ chức năm 1999, Francis Fukuyama  đã khẳng  định "xây dựng vốn xã hội là nhiệm vụ của cải cách kinh tế (ở các nước kế hoạch tập trung cũ) thế hệ thứ hai (second generation economic reforms)

[2] http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6038&CategoryID=42

[3] Fukuyama: "Chất lượng đời sống, cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia, tuỳ thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn trong xã hội”http://www.viet-studies.info/THDung_VonXaHoi_PhatTrienKinhTe.htm

[4] http://www.tapchithoidai.org/TD8_THDung.pdf

 

 

Nhận xét (0)
Viết nhận xét
Your Contact Details:
Nhận xét:
:angry::0:confused::cheer:B):evil::silly::dry::lol::kiss::D:pinch:
:(:shock::X:side::):P:unsure::woohoo::huh::whistle:;):S
:!::?::idea::arrow:
Security
Hãy nhập mã xác nhận