Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

Vì công bằng và bình yên cho Biển Đông

Wednesday, Oct 01st

Last update09:17:37 PM GMT

You are here: Hoạt động Bài viết thành viên Trung Quốc tiến ra đại dương

Trung Quốc tiến ra đại dương

Email In PDF.

 

Đây là nguyên bản của bài viết được đăng trên SGTT ngày 15/01/2013.

Lê Vĩnh Trương tổng hợp

1-    Đối ngoại Trung Quốc

Về mặt kinh tế, từ thời điểm 2000, Bắc Kinh đặt chỉ tiêu GDP đến năm 2020 tăng 4 lần trên con số 4.3 ngàn tỷ (2000). Nếu với đà gia tăng GDP khoảng 10%/năm hiện nay thì mục tiêu này của TQ có thể đạt sớm hơn 2020.

Trong kế hoạch xây dựng hải quân biển xanh (blue water), Trung Quốc muốn vô hiệu hóa hệ thống chống tên lửa TMD của Mỹ ở Châu Á- Thái Bình Duơng bằng cách phát triển các tàu ngầm hạt nhân. Những tàu ngầm có vũ khí hạt nhân sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ  TMD của Nhật Mỹ. Trung Quốc sẽ tập trung sâu hơn vào năng lực chiến tranh bất đối xứng để chống lại sự vượt trội về kỹ thuật của Mỹ.

Phong trào đòi độc lập của Đài Loan bị thoái trào qua tuyển cửsự mơ hồ của Mỹ trong việc đảm bảo an ninh cho Đài Loan, khiến Trung Quốc tin rằng Mỹ sẽ không ủng hộ cho một tuyên bố độc lập chính thức của đảo quốc này. Dẫu vậy tháng 1/2010,Đài Loan vẫn tìm cách được mua gói vũ khí 6,4 tỷ USD cùng với các tên lửa Patriot và Harpoon tiên tiến nhất của Mỹ, [1]  không kể gói 60 chiếc F16.

Đã có nhiều nghiên cứu nhằm làm tối thiểu các khác biệt, hiểu nhầm về quan điểm của hai bên Trung Mỹ về vấn đề Đài Loan đã các bên tiến hành, một phần nhằm tránh các cuộc “cướp cò”[2] cho không chỉ ba phía liên quan.

Trung Quốc sử dụng Bắc Hàn như một sức mặc cả để phi hạt nhân hóa Đông Bắc Á. Dù tự ưu tiên phát triển năng lực bằng hạt nhân, TQ sử dụng Bắc Hàn theo từng cấp độ của “ con ngáo ộp” để hạn chế khả năng tiếp cận kỹ thuật và hạ thấp sự hợp lý của phát triển nguyên tử từ phía Nam Hàn và Nhật Bản. Như vậy, Trung Quốc nỗ lực để Bán đảo Triều Tiên và vùng biển Nhật Bản là phi hạt nhân nhưng đang vấp phải sự bất kham của Bình Nhưỡng, khi rút ra khỏi Hội Đàm Sáu Bên vào 2009.

Kế hoạch trung hạn của Bắc Kinh ở thời điểm 2012 là duy trì nguyên trạng quan hệ với các nước phương Tây: kiềm chế sao cho không bộc lộ sự đột biến trên bình diện kinh tế, quân sự và ủng hộ các sáng kiến Âu Mỹ liên quan đến vấn đề nguyên tử Iran, giảm nguy nhiễm môi trường, sở hữu trí tuệ.

Chia cắt Ấn Độ và Pakistan trong quan hệ với Mỹ thông qua ngoại giao kinh tế, siết chặt quan hệ với Pakistan để làm đối trọng với sức mạnh hạt nhân Ấn Độ, Trung Quốc phóng đại khả năng nguyên tử của Pakistan để Ấn Độ tập trung sức mạnh đối phó về huớng Tây (Pakistan). Gần đây, (2012) Trung Quốc quay sang đấu dịu với Ấn Độ và thắt chặt quan hệ kinh tế với Pakistan. Trong năm 2001, Trung Quốc cam kết viện trợ kinh tế cho Pakistan là 620 triệu USD còn năm 2009 các khoản đầu tư vào năng lượng của Trung Quốc vào Pakistan là 700 triệu USD[3].

Ve vãn Đông Nam Á và Nam Á và Iran bằng hợp tác kinh tế và ngoại giao với một loạt các gói ODA, hoặc thông qua các tổ chức quốc tế, Trung Quốc còn theo đuổi chiến lược “Chuỗi Ngọc Trai” để có đường ra cảng biển từ Đông Nam Á và Nam Á , gia tăng thương mại với Châu Phi. Năm 2007, tổng giá trị thương mại Trung –Phi Châu là 7 tỷ USD  đưa Châu Phi lên hàng đối tác thứ hai của Trung Quốc. Trung Quốc tập trung vào các nước Châu Phi giàu năng lượng và các nước không dân chủ như Congo, Nigeria và Sudan. Họ sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo An LHQ để bảo vệ các đối tác như Zimbame, như ngăn cản quốc tế cấm vận chế độ Mugabe 2008. Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng 4 lần về xung đột Dafur vào 2004, 2005 và 2006. Năm 2009 Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng cho cấm vận chống Etrirea, đối tác lâu năm của Trung Quốc. Etrirea cũng như Sudan là khu vực giàu tài nguyên, quan trọng về địa lý chiến lược và là một nước vùng biển Đỏ giáp ranh Sudan. Tại vùng Vịnh, Trung Quốc có quyền lợi vững chắc khi ủng hộ chế độ hiện thời tại Iran. Trung Quốc là nhà cung cấp vũ khí chính yếu của Iran với những thỏa thuận đối tác năng lượng quan trọng, trong đó có dự án dầu khí Yadaravan, 51% của Trung Quốc. Thỏa thuận có tổng giá trị 100 tỷ USD với giếng dầu được kỳ vọng sản xuất 300.000 thùng dầu mỗi ngày .

Cân bằng lực lượng với Mỹ thông qua trục liên kết với Nga- Iran- Bắc  Hàn cũng là một trọng tâm của Trung Quốc. Trung Quốc hoặc Nga không thể đơn phương đối đầu với Mỹ bằng sức mạnh quân sự. Do vậy, cấu trúc chiến lược chi phối thế kỷ 21 là “ đối tác chiến luợc” thay vì đồng minh quân sự có ràng buộc và chính thức. Bắc Kinh và Moscow vẫn có thể thể hiện mình như những thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trên các diễn đàn khu vực và đa phương thay vì chỉ là những “kẻ phủ quyết” hay “phá bĩnh”. Bắc Hàn không thể trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng nước này là một mối nguy hiển nhiên cho bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản. Bắc Kinh đã bỏ nhiều công sức trong quan hệ với Moscow và Bình Nhưỡng và là thành viên trụ cột của nhóm SCO (Shanghai Cooperation Onganization).

Trung Quốc lôi kéo Đông Nam Á ra khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ Nhật và vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc bằng ngoại giao kinh tế. Trung Quốc tham gia vào diễn đàn ARF (1993), Hội thảo ASEAN (1996) và Thỏa thuận tự do thương mại (FTA) Trung Quốc – ASEAN (2003) đã cho phép Trung Quốc gắn kết cao hơn với Đông Nam Á. Khu vực này vốn là nơi tập trung sản xuất công nghiệp do Nhật chi  phối và hầu hết các nước ASEAN đang hợp tác với Mỹ về quân sự. Dù cho Trung Quốc đe dọa đến các năng lực của các ngành công nghiệp sơ cấp và thứ cấp của ASEAN, ngược lại FTA cho phép các nước Đông Nam Á gia tăng khả năng thâm nhập vào thị trường nội bộ lớn nhất thế giới. Bắc Kinh đã đầu tư nhiều thứ vào ngoại giao tư bản trong hai thập kỷ qua nhằm xử lý các bất đồng với các nước trong Biển Đông  như Malaysia, Philippines và Việt Nam.

2-    Chiến lược địa chính trị và triển khai hải quân

Tiếp theo những kế hoạch tổng thể trên, giới làm chính sách Bắc Kinh từng có lúc ưu tiên cho sự mềm mỏng ngoại giao, chờ đợi thời cơ, song ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc đại Hán từ xa xưa và cả thời kỳ Mao Trạch Đông[4] khiến cho chính sách của quốc gia này ngày càng tiến xa hơn trong bước phiêu lưu quân sự và xâm lấn của họ. Chính sách càng mạnh bạo,  phương cách càng bớt đi tính ngoại giao và gia tăng tính quân sự. Gia tăng quân sự ra ngoài nước trong thế giới hiện đại, tại đây phần của không quân và hải quân sẽ là chính yếu. Chính giới TQ tác động đến dân chúng TQ nhằm chuẩn bị quân lực và dân tộc hóa các hoạt động lấn chiếm của mình. Chủ nghĩa dân tộc được đưa lên một mức cao, sẽ chính là nhiên liệu đẩy sự phiêu lưu của TQ đi xa hơn, mang dáng vẻ hợp lý (nội địa) hơn cho lý do hành xử của guồng máy chính quyền.

Hải quân Trung Quốc thừa hưởng chiến lược hải quân cũ của Thống chế M.V.Frunze vào thập kỷ 1920 - trường phái Sô Viết cũ (old school) vốn cho rằng hải quân là một bộ phận của quân đội nói chung và phải hỗ trợ lục quân tại các vùng cận sông biển. Theo lý thuyết này, lãnh đạo hải quân Liên Xô Vladimir Nikolay đưa ra cách đánh “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” vào 1927. Hầu hết các sĩ quan của trường phái này đã không còn trong quân đội sau cuộc chỉnh huấn 1937 của Stalin. Tuy nhiên, ảnh hưởng của lý luận này vẫn còn đó mãi đến khi Stalin qua đời 1953.

Một thời gian từ 1949 đến 1960, thiết kế dòng chính của hải quân TQ đi theo cách của Nga Sô Viết với các đặc điểm của một chế độ mới là : cần phải trấn áp chống đối nội bộ, sẵn sàng chống lại tấn công của các nước ngoài, lưu dụng nhân sự chế độ cũ, thiếu hụt tài chính và kỹ thuật trong khi các tàu chiến thù địch lừng lững ngoài khơi. Năm 1950 Liên Xô điều 500 sĩ quan kỹ thuật sang hỗ trợ TQ, đến 1953 con số này là 2000. Ngược lại cũng có hàng ngàn sĩ quan TQ sang Liên Xô học tập trong đó có tướng Xiao Jingguang. Khi thị sát hải quân tháng 2 năm 1953 trong chiến tranh Triều Tiên, Mao phát biểu “chúng ta cần có hải quân mạnh để chống bọn đế quốc xâm lược”. Tháng 10/1953, Mao lệnh cho Hải quân các nhiệm vụ chống can thiệp của Quốc dân đảng bảo đảm thông biển, chuẩn bị chiếm Đài Loan và đề kháng tấn công từ biển. Sau đó TQ đã chiếm được các đảo nhỏ từ Đài Loan trừ Kim Môn, Mã Tổ. Giai đoạn này vẫn là giai đoạn của phòng thủ bờ biển (coastal defense) cho Hải quân TQ. Đến năm 1954, TQ mới nghĩ đến phát triển hải quân nước xanh (blue water), và vẫn chưa nói đến sự độc lập của hải quân với lục quân. Giai đoạn những năm 1950 và 1960 Bắc Kinh tập trung vào võ khí hạt nhân và tàu ngầm để phóng hạt nhân.  

Ảnh hưởng lớn của trường phái Sô Viết “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” ngày đó cũng vì lý do cơ sở vật chất và tài chính của Trung Quốc còn yếu kém. Khi sang Liên Xô năm 1958 học tại Voroshilov viện Hải Quân ở Leningrad, Lưu Hoa Thanh[5] chịu ảnh hưởng nặng Tổng Tư Lệnh Hải Quân Liên Xô S.G.Gorshkov (1956-1985). Giai đoạn này Gorshkov tranh cãi với Krushev (người đề cao vai trò võ khí hạt nhân) bằng học thuyết thống lĩnh biển (sea supremacy) quyết tâm thu hút một phần nguồn lực vốn lý ra đã đành trọn cho võ khí nguyên tử.

Gorskov khẳng định “Nhằm bảo vệ quyền lợi Liên Xô trong thế giới, hải quân cần có vai trò chiến lược và độc lập không chịu sự chỉ huy của một bộ chỉ huy lục quân– hải quân chung nhất, và hải quân phải có khả năng hoàn tất các công việc chiến lược vì quyền lợi quốc gia trên biển”.

Giai đoạn 1960 đến 1976, TQ có nỗi lo sợ từ phía Bắc do đã có những cuộc đụng độ trên bộ. Giai đoạn này hải quân TQ vẫn hoạt động như 1 trợ thủ của lục quân một khi có nguy cơ từ Liên Xô.

Trở về Trung Quốc, Lưu Hoa Thanh trở thành Tổng tư lệnh Hải Quân và mau chóng phát triển những ý tưởng của Gorshkov trong khoảng thời gian thập kỷ 1980, khi người Trung Quốc mở của và phát triển kinh tế.

Đến đầu năm 1982, Lưu Hoa Thanh ra lệnh cho Học viện Nghiên cứu Hải quân tìm hiểu về phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) và vẽ lên 2 phòng tuyến. Phòng tuyến 1 đi qua quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, Đài Loan, Philippines, Borneo và Natuna Besar. Phòng tuyến 2 bao trùm ra ngoài phòng tuyến 1 một diện tích khoảng 80% phòng tuyến 1 đã bao phủ. Từ đó trở đi, hải quân TQ đã có hẳn một không gian giả định cho việc phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) thay hẳn khái niệm phòng thủ bờ từ thời Liên Xô. 

Năm 1986, Trung Quốc tổ chức hàng loạt hội thảo để bàn luận giữa trường phái cũ (old school), hải quân nước nâu (brown water navy) phòng thủ bờ biển (coastal defense) thành ra hải quân nước xanh (blue water navy) vào tháng 2/1987 Nhật báo Quân đội Giải phóng đăng bài của Cai Xiaohong, lần đầu tiên khẳng định Hải Quân là “công cụ chiến lược” và các biển và đại dương là “không gian chiến lược mới”. Trung Quốc từ đó đã tách hẳn Hải quân ra khỏi nhiệm vụ phụ thuộc quân đội nói chung và lục quân nói riêng và khẳng định “nhằm chiến thẳng các cuộc chiến hiện đại trên biển, chúng ta phải phối hợp không quân, tàu chiến và tàu ngầm và tạo thành một mũi tiến công tổng hợp”[6]. Theo niên giám Anh: “The Military Balance” trong 10 năm lục quân Trung Quốc đã giảm tỷ lệ võ trang từ 80.9% (1980) xuống 77.97% (1985) và đến 75.9%(1992) trong khi các năm tương ứng đó (1980, 1985 và 1992) Trung Quốc tăng từ 11.01% lên 12.85% và 15.55% (cho hải quân) và 8.09% lên 9.11% và 8.58% (cho không quân). Chi tiết không được công bố nhưng theo số lượng võ khí nhập từ nước ngoài về, ưu tiên Trung Quốc dành cho hải quân và không quân là điều không khó nhận ra. Các võ khí mới có 4 khu trục hạm  Sovremenny, 4 tàu ngầm lớp Kilo, 48 máy bay SU27SK, một giấy phép sản xuất 200 chiến đấu cơ tương tự và thêm 55 chiếc SU30MKK. Trung Quốc đã nhập cả dàn S300PMU1 và Sam TorM. Tỷ lệ mua sắm cho lục quân, hải quân và không quân là ngót ngét 2:3:5. Các chuyến ra đại dương của Hải quân Trung Quốc trong vòng 10 năm (1992-2002) là 30 lần so với tổng các chuyến đi 30 năm trước cộng lại.

 

ChinaToTheSea fig1

Hình số 1: Hai tuyến phòng thủ số 1 và số 2 của TQ tự dựng.

Nguồn:  http://www.globalsecurity.org/military/world/china/plan-doctrine-offshore.htm

Giữa thập  kỷ 80, Trung Quốc đã gia tăng yêu sách chủ quyền cho vùng lãnh hải từ 12 hải lý lên 200 hải lý. Trung Quốc đòi hỏi điện tích 4.7 triệu km2 trong biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông. Trung Quốc cho rằng 30% trong tổng số 800.000 km2 Biển Đông (South China Sea) “của Trung Quốc” đã bị nước khác lấn chiếm, trong đó khoảng 420.000 km2  là do Philippines, 70.000 km2 là do Việt Nam, 270.000 km2 (Malaysia), 50.000 km2 (Indonesia) và 3.000 km2 (Brunei). Tại Biển Đông Trung Quốc (Biển Nhật Bản), và Hoàng Hải, Trung Quốc tranh chấp 30.000 km2 với Bắc Hàn, 170.000 km2 với Nam Hàn. Với Nhật Bản,Trung Quốc có vùng tranh chấp 65.000 km2, trong đó có Điếu Ngư/Senkaku và 5 đảo nhỏ cùng bãi San’an. Ngoài ra Trung Nhật còn bất đồng ở vùng thềm lục địa, liên quan 770.000 km2 mặt biển. Không muốn chia sẻ thềm lục địa với Nhật, Trung Quốc muốn lấy đường biển đi qua Okinawa làm đường ranh giới. Trong khi Nhật chấp nhận chia thềm lục điạ với Trung Quốc và lấy đường trung gian của Đảo Nanniu làm đường ranh giới. Để phản đối điều này, từ năm 1998 đến 2002 Trung Quốc đã cho tàu vào vùng EEZ của nhật đến 40 lần!

Lý do tranh giành của Trung Quốc ở biển Nhật Bản và Biển Đông là vì lợi ích kinh tế ở khu vực này. Hải quân Trung Quốc đã tuyên bố khảo sát toàn bộ Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông. Trong đó một trữ lượng 45 tỷ tấn khí tự nhiên và dầu mỏ là nằm ở Biển Đông (trị giá 1500 tỷ USD). Khu vực Trường Sa và Biển Nhật Bản là khu vực giàu dầu mỏ nhất – 13,7 đến 17,7 tỷ tấn dầu, trị giá 500 tỷ USD. Theo China Daily 13/12/1992, từ 1995 Trung Quốc đã nhập khẩu dầu. Trung Quốc đang chạy đua với thời gian để giành các vùng này.

 

ChinaToTheSea fig2

Hình số 2: Lược đồ xung đột biển giữa TQ với 29 nước xung quanh từ 1949 đến đầu thập kỷ 2010

Nguồn: http://theinternationalpolicy.com/2012/09/25/the-map-and-timeline-of-the-south-and-east-china-seas-conflicts/

Âm mưu vừa chạy đua thời gian, nhưng TQ cũng vừa sử dụng thời gian kéo dài để gia tăng vị thế. Theo khái niệm “hiệu lực thời gian” (time effect) trong Luật Quốc Tế, nếu một quốc gia quản lý thực tế một lãnh thổ tranh chấp trong 1 thời gian nào đó, quốc gia đó sẽ có thể tuyên bố làm chủ vùng lãnh thổ đó. Thông thường thời gian đó là 50 năm. Một số học giả tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc còn kêu gọi nếu Trung Quốc không nhanh chóng “giải quyết” Trường Sa, đây sẽ là mối nguy cho Trung Quốc[7]. Họ còn dự đoán chắc chắn rằng từ 10 đến 30 năm nữa sẽ phải có đụng độ lớn tại Biển Đông. Ngược lại sự gia tăng căng thẳng tại Biển Đông sẽ làm giảm nguy cơ đối đầu của Trung Quốc và Đài Loan vì có thể hai nước này có chung kẻ thù, miễn là Đài Loan không tuyên bố độc lập. Tại đây nổi bật sự hung hãn có toan tính sao cho cả trên phương diện quân sự và tận dụng luật pháp để họ có lợi tối đa.      

3-    Các hạm đội

Tháng 10/1992 tại đại hội Đảng lần thứ 14, Giang Trạch Dân nhấn mạnh “nhiệm vụ của quân đội Trung Quốc từ đây trở đi là bảo vệ thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi trên biển”. Đây là lần đầu tiên một chủ tịch quân ủy TQ nói về “quyền trên biển”. Theo các tài liệu đi cùng, nếu như “toàn vẹn lãnh thổ” trong vùng để Đài Loan không bị phá vỡ bởi ý muốn độc lập của Đài Loan, thì mục tiêu chiến đấu để tranh biển của Trung Quốc sẽ là nhằm đến các đối tượng đe dọa quyền lợi biển của Trung Quốc, tức Philippines, Việt Nam, sau đó là Nhật, Ấn. Tác giả Trung quốc còn đi xa hơn khi dự liệu Nhật và Ấn sẽ đưa hải quân vào Biển Đông để hỗ trợ các quốc gia chống lại Trung Quốc nếu xảy ra sự cố ở Biển Đông nhằm giảm áp lực của Trung Quốc ở Biển Nhật Bản và bảo vệ các khu vực mà Ấn đã khai thác cùng Malaysia và Việt Nam ở Biển Đông.

 

ChinaToTheSea fig3

Hình số 3: Các tầm bắn của của tên lửa đạn đạo đối hạm của TQ

Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

Trong thời quan chiến tranh lạnh, Hạm đội Bắc Hải (NSF- đóng tại Thanh Đảo) có nhiệm vụ ngăn chặn hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô Nam tiến, do vậy phải phối hợp chặt với lục quân. Hạm đội Đông Hải (ESP-đóng tại Ninh Ba) chủ yếu tiếp trợ hậu cần và huấn luyện. Sau khi mối nguy Sô Viết không còn nữa, đã có dấu hiệu Trung Quốc đầu tư cho ba hạm đội này đồng đều nhau. Khí tài trọng yếu nhất là các khu trục hạm lớp lớp Luhai 112 và 113 vẫn ở Hạm Đội Bắc Hải. Nhưng đã có chỉ dấu của việc chuyển hướng xuống phía Nam. Năm 2002, khu trục hạm lớn nhất Luhai 6000 tấn đã chính thức về biên chế Hạm đội Nam Hải (SSF- đóng tại Trạm Giang). Cũng trong giai đoạn 2002, Hạm đội Bắc Hải vẫn là hạm đội trang bị tốt nhất. Ít nhất 3 trong số 5 tàu ngầm hạt nhân lớp Ha và một SSBN (tàu ngầm hạt nhân có tên lửa đạn đạo) nằm trong biên chế NSF. Theo bố trí thì Hạm đội Đông Hải và Hạm Đội Bắc Hải sẽ đảm trách chặn Nhật Bản tiến về Nam. Đồng thời hạm Đội Đông Hải chịu trách nhiệm tiếp vận cho Hạm Đội Nam Hải hoạt động ở biển Đông và Ấn Độ Dương và Hạm Đội Đông Hải sẽ nhận nhiệm vụ tấn công Đài Loan. Nếu có sự biến ở eo Đài Loan, Hạm Đội Bắc Hải sẽ chặn Nhật hoặc Mỹ đến giúp Đài Loan.

Đặc biệt HQTQ đã thành lập một căn cứ tàu ngầm quy mô lớn tại đảo Hải Nam, cho phép Hạm Đội Nam Hải triển khai nhanh hơn các khu vực phía Nam, trong đó có Biển Đông.

Từ năm 2000, các khu trục hạm Luhai đã ra Ấn Độ Dương và thăm Châu Phi với các ý hướng sau:

a.     Tìm kiếm liên minh với Myanmar, Bangladesh, Srilanka và Pakistan để bao vây Ấn và giảm áp lực cho biên giới Ấn Trung.

b.    Bao vây để Hải Quân Ấn không thể tự do ra Thái Bình Dương và Biển Đông.

c.     Gia tăng ảnh hưởng Hải quân Trung Quốc vào Ấn Độ Dương, ngăn chặn Iran và

các lực lượng Hồi Giáo thâm nhập Trung Á gây tác động Tân Cương.

Do vậy, Trung Quốc sẽ gia tăng quan hệ với Pakistan và các nước rìa Ấn Độ Dương bằng các cuộc thăm viếng chiến hạm và buôn bán vũ khí.

            Ngoài các lý do dẫn đến các bố trí lực lượng trên, Trung Quốc đứng trước một số câu hỏi phải giải quyết vị thế địa lý, văn hóa, thực tế phát triển kinh tế và viễn cảnh của con đường hàng hải quan trọng nhất thế giới, nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

            Những cuộc đi biển xa xưa của Trung Quốc và các ghi chép về các vùng biển đã đi qua được mô tả lại rộng khắp. Thậm chí có tác giả còn cho rằng TQ đã tìm ra châu Mỹ trước Colombus năm 1492,[8]  chưa đủ để thuyết phục thế giới nhưng có lẽ đủ để người Trung Quốc nghĩ về mình như một cường quốc biển cổ đại. Đường lưỡi bò phi pháp của TQ cũng đã gắn với ý tưởng biển lịch sử để tuyên truyền dư luận TQ và thế giới  dù bị phản bác nhiều nơi.  

Trung Quốc có diện tích 9.85 triệu km2 so với Mỹ 9.32 triệu km2. Cả hai ở trên gần như một vĩ độ tương tự của Bắc Bán Cầu. Mỹ có đại dương  hai bên Đông và Tây còn Trung Quốc gắn liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trung Quốc có cổng chính hướng ra Thái Bình Dương và cổng sau lưng nằm trong Nội Á. Suốt lịch sử, bạn và thù của Trung Quốc không đến từ cổng chính. Người Mông Cổ, Tartars, Thổ và các bộ lạc đã đến và tấn công Trung Quốc từ cổng lục địa, không phải biển. Sự thịnh vượng và các mối phiền nhiễu đến từ cả hai cổng. Tuy nhiên, chỉ ở cổng giáp biển mà Trung Quốc đã bừng tỉnh và cải cách, và cũng chính bởi sự bừng tỉnh này đã khiến Trung Quốc tìm mọi cách để thống trị SLOC xuống Biển Đông, qua Ấn Độ Dương bằng nhiều cách. Các chiến lược chuỗi ngọc trai, chiến lược phong tỏa biển, phòng tuyến hai lớp tranh giành biển và đảo với Nhật, Bắc Hàn, Nam Hàn, các nước Đông Nam Á, cộng với đe dọa các đối tác khai thác biển của Việt Nam và phớt lờ luật pháp quốc tế chính là nhữnng mảnh nhỏ của bức tranh tổng thể. Bức tranh của một cường quốc mới nổi bị ám thị về quá khứ, lo âu về vị thế mới và được đốt nóng bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn thường xuất hiện sau thời gian dài trong vị thế nhược tiểu.

 

 ChinaToTheSea fig4

Hình số 4: Các khu vực lâm chiến giả định của ba hạm đội hải quân TQ

Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

4-    Những bất cập kỹ thuật:

Để tiến ra đại dương, các quốc gia có nhiều cách thức, từ sử dụng đia thế, đội thương thuyền, nghiên cứu khoa học, quân sự. TQ cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên, những gì TQ đã thể hiện trong thời gian gần đây cho thấy ưu tiên của họ tập trung vào quân lực. 

Cho dù là một lực lượng hải quân mạnh nhất nhì châu Á với tầm ảnh hưởng lớn ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương,  hải quân TQ vẫn đang đứng trước những bất cập kỹ thuật mà giới hải dương học gần đây từng đề cập đến.

Chính HQTQ nhận ra các thiếu sót về khí tài và những khó khăn để điều chỉnh mặt thiếu sót này. Tướng Tào Cương Xuyên, chủ nhiệm Tổng cục Quân khí và sau này là Bộ trưởng Bộ quốc Phòng TQ đã từng than phiền rằng lương bổng thấp đã khiến quân đội nước này khó giữ các nhà khoa học và nghiên cứu giỏi và ông này cũng cho rằng công việc phát triển khí giới là một công việc không dễ dàng[9]

Công tác bảo trì và cung ứng cho các thiết bị đang có mặt bên ngoài hậu phương, kể cả với các tàu Luzhou và Luyang cũng có khó khăn vì có nhiều hạng mục nhập từ nước ngoài. Trong đó có các hệ thống cảm ứng và chân vịt. Tàu chiến của HQTQ có nhiều nguồn từ Pháp, Hà Lan, Ukraina, Nga, Mỹ, Ý và theo đó gieo ảnh hưởng về thiết kế đến các tàu TQ mới đóng. Do vậy huấn luyện nhân sự để bảo trì, tiếp liệu và kể cả thử vận hành đều gặp các thách thức không nhỏ.

Những thiếu sót này làm giảm hiệu năng của hệ thống tàu chiến và càng trầm trọng hơn khi TQ có thói quen xây dựng các lớp tàu nhỏ từng loạt từ hai đến bốn chiếc. Giới hải quân TQ đang ra sức cải tiến tính phù hợp của hệ thống và mẫu số chung để bảo trì thiết bị cũng như các hệ quả của mua sắm trong hạn chế ngân sách, xây dựng tàu với thiết bị hỗn tạp và hạn chế bảo trì đại trà do lượng sản xuất các lớp tàu quá ít. Sự cố tàu ngầm lớp Ming 361 làm tổn thất 70 thủy thủ nằm 2003[10] cũng được quy cho công tác bảo trì chưa đạt chuẩn. Vào năm 2004 HQTQ đã có một đợt tổng bảo trì, đại tu thiết bị và tái đào tạo nhân lực tuy vậy đã gây phản ứng gay gắt từ các sĩ quan của các tàu chiến này vì đã giảm tính sẵn sàng của họ.

Về khả năng đối chọi trên không, muốn được xem là siêu cường biển hiện đại thì phải mạnh về không lực, cả máy bay có và không người lái, cũng như  về tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. HQTQ  đã cố gắng nâng cấp bằng cách đưa vào hoạt động tàu Luyang II lớp DDG. Hệ thống dạng Aegis của con tàu này là loạt đầu tiên của HQTQ có thể cung cấp năng lực không đối không trên diện rộng tốt hơn cho họ. Những chiến hạm đời trước chỉ có khả năng tự vệ điểm. Hệ thống phòng thủ điểm (point-defense) được thiết kế để tự vệ đối với chính các con tàu trang bị hệ thống còn hệ thống phòng thủ diện (area-defense) sẽ có khả năng bảo vệ một nhóm các con tàu. Khác biệt nằm ở chỗ hệ thống phòng thủ diện có tầm và khả năng phát hiện, tiến đánh nhiều mục tiêu cùng lúc. Các tàu lớp Luda và Jianghu không có hệ thống đối không (surface to air); và bốn con tàu lớp Sovremenny mua từ Nga có hệ thống SA-N-7 phòng thủ điểm. Các tàu lớp Luhu, Luhai, Jiangwei trang bị tên lửa Crotale của Pháp hay phiên bản TQ, tức HQ-6/7 cũng là những hệ thống phòng thủ điểm. Còn các tàu lớp Luyang I và Luzhou rồi Luyang II dù có tên lửa AAW, nhưng cũng thiếu khả năng phòng thủ diện rộng.     

Khả năng đánh tàu ngầm (ASW) cũng là một điểm yếu của HQTQ. Khả năng phát hiện tàu ngầm, đặc biệt là từ phía tàu trên  mặt nước là không đơn giản. HQTQ chưa có khả năng tận dụng các kỹ thuật ASW có sẵn, đặc biệt trong điều kiện phát hiện thụ động dù các kỹ thuật này đã có mặt 40 năm. Dù có các tiến bộ trong việc dùng radar có hỗ trợ từ vệ tinh để phát hiện tàu ngầm và cả chùm laser từ phi cơ để phát hiện tàu ngầm dưới nước sâu, sóng âm xuyên nước (sonar: thanh nạp[11]) vẫn là cách đáng tin cậy nhất để tìm tàu ngầm.

Có hai loại sonar là sonar thụ động và sonar chủ động. Sonar thụ động lắng nghe những tiếng động dưới biển do tàu ngầm phát ra. Sonar chủ động lợi dụng âm thanh dội ngược lại từ thân tàu ngầm khi phát ra tín hiệu âm thanh. Quá trình truyền dội này không theo đường thẳng và âm thanh bị “cong” do độ sâu, độ mặn, luồng lạch và nhiệt độ. Cả hai loại sonar này đều phải được gắn liền thân tàu hoặc kéo cùng với cáp đi theo tàu. Các tàu của HQTQ hầu như dùng các thiết bị sonar chủ động, gắn trên thân tàu, tần sóng trung bình. Ban đầu với hai tàu Luhus, hạ thủy năm 1993 và 1996, HQTQ đã có thêm các thiết bị kéo cùng bên dưới tàu (variable depth) bổ sung cho sonar liền thân. Ngoài ra HQTQ không có các nguồn lực chống tàu ngầm trên không (airborne ASW): họ chỉ có vài chục máy bay theo nhiệm vụ này (ASW). Các thông tin được công bố cho thấy HQTQ chưa triển khai hệ thống dò âm thanh tại vùng biển của họ. Một hệ thống ASW chuẩn sẽ bao gồm tất cả các hệ thống này (biển, không trung, bờ biển), được kết hợp và vận dụng đúng mức và đúng lúc bằng kỹ thuật thông tin.

Việc hợp nhất các hệ thống cũng là một bài toán lớn cho HQTQ. Một chiến hạm  là một hệ thống của các hệ thống và HQTQ đang trong giai đoạn đầu tiên nhằm tích hợp các hoạt động thông qua các khung cảnh chiến tranh phức tạp. Sự kết hợp này bao gồm điều hành hiệu quả các hoạt động vận hành tàu, không vận, tiếp liệu, dự báo thời tiết và các hoạt động trong lục địa nhằm đạt mục tiêu vận hành hiệu quả. Trước khi ra mắt các tàu chiến lớp Luhu và Jiangwei, các tàu chiến TQ hầu như không hề có kết hợp hệ thống mà chỉ có hệ điều khiển chiến đấu cơ bản ở trung tâm. Kể từ 2000, HQTQ đã cải tiến trong việc kết nối cảm ứng với khí tài, các chức năng hiệu lệnh và điều khiển. Quá trình này không đơn giản vì TQ quen đóng tàu bao gồm các thiết bị nước ngoài sản xuất. TQ sản xuất cho chạy trong cùng 1 hệ thống, ví dụ như hệ thống tên lửa hành trình của Pháp đi cùng với radar thám không do TQ sản xuất!

Bên cạnh việc kết hợp các hệ thống là nhu cầu kết nối các đơn vị nhỏ lẻ nhằm tối đa hóa hợp lực của chi tiết và tổng thể của 1 đơn vị, một lực lượng hay 1 hạm đội. Các hoạt động chiến tranh dùng mạng làm trung tâm (net-centric warfare) đã phổ biến với nhiều lực lượng trên thế giới, tuy vậy TQ vẫn còn đang trong giai đoạn thấp của chương trình tích hợp này. Những tác vụ nhiều bên cần sự kết hợp liên quân, liên ngành và những hệ thống ăn ý. Các điểm yếu này của HQTQ xuất hiện ở các công việc thời bình cho đến các công việc có thể xảy ra trong thời chiến. Các hoạch định huấn luyện và thao dượt quan sát cho thấy HQTQ vẫn còn đang khó khăn với các công việc chồng chéo và các cuộc điều động chiến đấu đa diện.     

 Về phương diện tình báo, khảo sát và trinh sát (ISR), cách xử lý sự vụ có tính tập trung về trung ương cao độ và cơ chế ra lệnh cứng nhắc cũng tạo trở ngại cho việc ứng chiến dựa vào mạng (net-centric). Ngoài ra, các thách thức từ công tác truy tầm tàu ngầm, tác vụ trực thăng OTH và nguồn lực từ đất liền cũng gia tăng lượng việc phải làm cho HQTQ.

            Trong hai thập kỷ qua, TQ đã cố gắng cải tiến hạ tầng thông tin. Các cải tiến  kỹ thuật đã tạo động lực cho thương mại hóa khoa học và họ đã cố kết hợp những tiến bộ này với thương mại, ngân hàng, vận tải và gia tăng sức vận hành của các mạng thông tin hàng không, hàng hải, tàu lửa trên cơ sở điện toán. Những mạng cáp quang nối các tỉnh thành cũng được gắn kết các nhiệm vụ dự trù cho quân sự. Chiến tranh mạng cũng được quan tâm với các tác giả như Shen Weiguang- với cuốn Information Warfare. Những tác giả và độc giả của khuynh hướng này liên tục trao đổi về võ khí của Mỹ và đồng minh, vai trò của vệ tinh, chiến tranh mạng (net-centric),  các hệ thống điện tử, các hệ thống và kỹ thuật tấn công chính xác, trinh tham bằng vệ tinh, vai trò của hệ điều khiển và cảnh báo trên không (AWACS), hàng không mẫu hạm…Nỗ lực khuyến khích của TQ với các trao đổi thông tin trên mạng cùng với các khảo cứu của các tác giả TQ như Zhang Zhaozhong (“Ai sẽ thắng cuộc chiến sắp tới?”, “Chiến tranh cách chúng ta bao xa?”,  “Ai sẽ là mục tiêu kế tiếp?”…) không ngoài mục đích dân tộc chủ nghĩa và tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ từ xã hội rộng rãi, bù đắp cho các thiếu sót của các cơ quan nghiên cứu.

            Năm 1986, TQ thành lập Chương trình Quốc gia Phát triển và Nghiên cứu Kỹ thuật cao (CT 863) bao gồm 20 lĩnh vực trong đó trọng tâm là kỹ thuật sinh học, thông tin, tự động hóa,năng lượng, không gian và hải dương. Công nghiệp điện tử phục vụ chiến tranh của TQ dành ưu tiên cho radar trên tàu, các thiết bị và hệ thống thám báo điện tử đi cùng tàu chiến. Công ty Xuất nhập khẩu điện tử TQ và Công ty Xuất nhập khẩu cơ giới chính xác TQ phải hỗ trợ đặc biệt cho phát triển tên lửa cho HQTQ.

5-    Kết luận:

            Tính từ khi vẫn còn trao đổi khoa học kỹ thuật với Liên Xô và ứng dụng học thuyết phòng thủ bờ biển (coastal defense) đến nay 2012, TQ đã lập ra một hệ thống lý luận liên quan hải dương, hải quân bao gồm kỹ thuật, tầm bắn, lý do kinh tế, địa chính trị, tuyên truyền để ủng hộ cho việc khống chế biển và cả các đại dương. Trong đó, TQ cũng chuẩn bị những công việc liên quan pháp luật TQ và cử học giả bảo vệ ý đồ của mình, dẫu rằng các lý lẽ về đường chữ U và quyền lịch sử là hoàn toàn không phù hợp với UNCLOS.

            Với những định vị ban đầu của chính mình trong một tổng thể, Trung Quốc không giấu việc muốn ngoi lên vị trí một siêu cường bằng kinh tế, quân sự, địa chính trị và cả sức mạnh mềm. TQ đã tự cho phép mình vẽ lên và thực hiện những vành đai trên biển, trên không và trên bộ sao cho đạt được các mục đích họ đã đề ra.

Chủ nghĩa dân tộc được đưa dâng cao, làm nhiên liệu thúc đẩy và làm có vẻ hợp lý cho các hoạt động bất chấp luật pháp quốc tế nhìn từ trong nội bộ TQ. Điều này diễn ra cực kỳ nguy hiểm vì TQ đang trượt trên một con đường khác đa phần thế giới, lại thiếu sự chấp nhận phản biện, nên cuộc phiêu lưu đó sẽ vẫn tiếp diễn. Việt Nam là nước bên cạnh TQ sẽ phải chuẩn bị rất nhiều thứ để bảo vệ chính mình trước chuỗi hành động lấn chiếm chưa có dấu hiệu chấm dứt trong tương lai.  

Từ những thông tin của đội quân có ảnh hưởng đến an ninh của châu Á và thế giới, các nước Đông Nam Á có thể có những đánh giá xác đáng và hiệu quả hơn trong công tác bổ sung, trang bị quốc phòng, bảo trì và hậu cần cho phù hợp với tình hình bảo vệ và duy trì an ninh, an toàn hàng hải tại các vùng biển Đông Nam Á và rộng hơn là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Hiểu được chiến lược tổng quát, các hoạch định kinh tế, khoa học, nhân lực, khí tài và những diễn biến, khả năng cải tiến của đối phương sẽ giúp chủ động cảnh giác cao trong các tình huống bất ngờ, những tình huống ảnh hưởng đến lợi ích và chủ quyền quốc gia Việt Nam.

Tham khảo

- Tư liệu Hội thảo Biển Đông KS Sheraton, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam, 18-21/11/2012

- Tướng Daniel Schaeffer, Quá trình chiếm đoạt Biển Đông của TQ thông qua việc hiện thực hóa đường chín đoạn, 12/2012

- Geoffrey Till and Patrick C. Bratton, Sea Powers and the Asia Pacific, Routledge 2012

- Shiping Hua, Sujian Guo, China in Twenty First Century,Palgrave , Macmilan, 2012.

- Jurgen Schwarz, Wilfried A.Herrmann & Hanns- Frank Seller, Maritime Strategies in Asia, White Lotus, 2002

- Vijay Sakhuja ,Asian Maritime Power in the 21rst century, 2011, SEAS

-Bernard D Cole, The Great Wall at sea, Naval Institute, 2012

-  Michael K.Connors, Remy Davidson and Jorn Dosch, The new global politics of the Asia pacific, Routledge 2012

- Gavin Menzies,1421 The year China discovered the world, Bantam Books, 2007

- Peter Nolan, Is China buying the world, Polity 2012

 



[1] Reuter (2010) “Obama proposes his arm sales to Taiwan”, 29 Jan 2010, www.reuters.com/article/2010/01/29/taiwan-arms-usa-idUSN2914735520100129 (đọc 15/1202012) và “China says defence spending rise slows to 7.5 percent”, 4 march 2010

[2] Gregory J.Moore, The role of misperceptions and perceptual gaps in the Taiwan Strait Crisis of 1995-1996, Shiping Hua, Sujian Guo, China in Twenty First Century,Palgrave , Macmilan, 2012.  Trang 181

 

[3] Asia Economic News 2001, “China pledges $620 million in aid to Pakistan:official”, 21 May 2001

[4] http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20121213-quan-he-viet-trung-viet-nam-duoi-cai-nhin-cua-%E2%80%9Cthien-trieu%E2%80%9D-trung-quoc

[5] Lưu Hoa Thanh là người đề ra lý thuyết hai phòng tuyến và chuỗi ngọc trai của TQ.

[6] Tạp chí Conmilit tháng 4/1992, trang 35

[7] Maritime Strategies in Asia, trang 225

[8] Gavin Menzies,1421 The year China discovered the world, Bantam Books, 2007

[9] Defense white paper, 2008, http://xinhuanet.com/english/2009-01/20/content_10688124.htm (17/6/2009) 

[10] http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/3001099.stm

[11] Có nơi dịch là “nạp thanh”,  theo chúng tôi có lẽ là “thanh nạp”, theo cách hacker= hắc khách.

 

Nhận xét (0)
Viết nhận xét
Your Contact Details:
Nhận xét:
:angry::0:confused::cheer:B):evil::silly::dry::lol::kiss::D:pinch:
:(:shock::X:side::):P:unsure::woohoo::huh::whistle:;):S
:!::?::idea::arrow:
Security
Hãy nhập mã xác nhận