Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
Trong lý thuyết chiến tranh biển, có nhiều trường phái khác nhau của các quốc gia khác nhau bàn về vận tải, tiếp vận, khí tài, phối trí lực lượng trên biển, biển- bộ, biển –bộ- không. Một trong những chiến lược mà các nhà khoa học quân sự biển từ Alfred Thayer Mahan, Sir Julian Corbett , Sergey Georgiyevich Gorshkov cho đến các bên trong chiến tranh Việt Nam đã từng bàn đến hoặc đã từng sử dụng đó là phong tỏa biển (tạm dịch từ “sea denial”).
Cả hai cuộc thế chiến đã thể hiện những đặc tính mà cả Alfred Thayer Mahan và Sir Julian Corbett chưa từng hình dung ra từ chiến sử. Cách phát hiện U-boat (Unterseeboot- tàu ngầm Đức), tình báo vô tuyến- kể cả giải mã, bảo vệ thương thuyền, đánh chận tiềm thủy đĩnh, cách né tránh va chạm dựa vào cự ly, tiến bộ khoa kỹ làm giảm sự khó tìm các đội tàu buôn hay tàu chiến, chấm dứt việc gọi biển cả là nơi trú ẩn lâu dài. Theo đó các chiến thuật kỹ thuật mới có dịp phát huy cao hơn. Trong đó có phong tỏa biển (sea denial), chống tiếp cận (anti-access) và phong tỏa khu vực (area denial).
Từ học thuyết của Bắc Hàn…
Ngay trong chiến tranh Triều Tiên và từ cuộc đình chiến 1953 về sau, Bắc Hàn đã xây dựng và tuân thủ học thuyết phong tỏa biển cho đến nay. Bỏ qua những khía cạnh khác, chỉ chọn lấy phần kỹ thuật, học thuyết ấy gồm những nội dung như:
Nếu lâm chiến, Bắc Hàn sẽ không để cho Nam Hàn cơ hội nhận tiếp viện từ ngoài vào. Bắc Hàn phải không chế trọn vẹn tất cả các cảng biển Nam Hàn.
Toàn bộ khoảng 2500 km bờ biển Bắc Hàn sẽ không thể tiếp cận bởi bất kỳ lực lượng đổ bộ nào vì không có cơ hội có đầu cầu nào để đặt chân lên bờ biển Bắc Hàn.
Không cho quân Nam Hàn và đồng minh cơ hội rút ra biển để có thể tiếp tục chiến đấu. Nếu quân Nam Hàn tựa lưng ra biển thì [quân Bắc Hàn] phải đẩy đối phương ra biển từ lục địa và dùng lực lượng biển để tiêu diệt đối phương ở vùng nửa biển nửa nước này.
Không cho phép một hải cảng nào của Nam Hàn còn hoạt động được cho nhu cầu Nam Hàn hay đồng minh.
Quả thật trong các cuộc chiến từ Triều Tiên, Việt Nam đến vùng Vịnh, hầu như tất cả sứ mệnh tiếp vận đều đến từ biển. Bắc Hàn đề cao hai cách phong tỏa biển và kiểm soát biển (sea control) bổ sung cho nhau vì nếu kiểm soát quá kỹ thì mất năng lực và không có đối phương vào trận địa để có cơ hội tiêu diệt với chiến thuật phong tỏa biển. Bắc Hàn sẽ phải phát triển năng lực nửa kín nửa hở nhằm giáng những cú nặng nề lên Nam Hàn và đồng minh ngay trong vùng duyên hải, làm thất bại nỗ lực đổ bộ người và khí tài lên Nam Hàn và làm đông cứng các hải cảng Nam Hàn đối với cả tàu hàng và tàu chiến.[1]
…đến các vận dụng và ảnh hưởng khác
Trong lý thuyết hải chiến của chính mình, Hải Quân Trung Quốc chọn cách nói tấn công tích cực từ xa nhằm đánh bại các lực lượng muốn tấn công TQ hay can thiệp vào Đài Loan.[2] Các mô tả cho thấy đây chính là các phương cách của chống tiếp cận và phong tỏa khu vực mà người Mỹ đã đúc kết.
Tuy vậy cũng có thể cho rằng các chiến lược gia TQ thuộc trường phái Gorskov đã mang ứng dụng của hải quân Liên Xô về cho hải quân TQ dù rằng trước đó họ đã dự định phát triển theo hướng hải quân hoàng gia Nhật (IJN) vốn cân bằng được năng lực hoạt động dành cho hải quân biển khơi (Blue-water navy, khác với littoral or brown-water navy). Cách thức này cho phép TQ thích ứng hải quân nước họ với cách phòng thủ kiểu Sô Viết theo hướng phong tỏa biển (sea-denial). Theo hướng này, hải quân TQ không chỉ tránh các chi phí tài chính, kỹ thuật và hành chánh liên quan đến xây dựng lực lượng hải quân biển khơi, mà còn phù hợp với điều kiện địa chiến lược mà TQ đối mặt vốn không khác Liên Xô ngày trước từ những mối đe dọa ngoài biển. Khung của học thuyết này rất rõ ràng là làm sao tạo được một hệ thống trinh sát đáng tin cậy từ ngoài biển xa để có thể phát hiện được các lực lượng hải quân đối phương và dùng thông tin đó để điều tàu ngầm và máy bay từ lục địa đánh chặn chúng trước khi chúng có thể tiếp cận lục địa.
Điểm khác nhau giữa tư duy Trung Quốc và Liên Xô là ở chỗ LX đề ra chiến lược phòng thủ biển ở các lằn ranh trên biển (lines-in- the-water) còn TQ định vị các vành đai phòng thủ này bằng các chuỗi đảo (first and second island chain)[3]. Ở đây không nói đến Gorskov khác Lưu Hoa Thanh như thế nào nhưng các đảo nằm trong tranh chấp hay … thậm chí chưa nằm trong tranh chấp với TQ cũng không nằm ngoài tầm ngắm của TQ!
Ngoài ra, LX đề ra chiến lược phòng thủ dựa trên căn bản 200 hải lý từ lục địa và mở rộng ra 1200 hải lý nhằm phong tỏa và tranh chiếm (deny and contest) những vùng nước hải quân Mỹ có thể tiến đến.
Vành đai phòng thủ biển của Trung Quốc kéo ra bên ngoài vùng 200 hải lý, dẫn đến đòi hỏi kiểm soát Hoàng Hải, biển Nhật Bản (East China Sea), eo Đài Loan, vịnh Bắc Bộ và ít lắm là phía bắc toàn bộ biển Đông[4]. So với vành đai của LX trước đây là 1200 hải lý, vành đai của hải quân Trung Quốc hiện nay lên đến trên dưới 1300 hải lý vì đây là khoảng cách mà TQ cho rằng tầm bắn của tên lửa hành trình Tomahawk có thể vươn đến đất TQ[5]. Khoảng không gian to lớn từ 200 đến 1300 hải lý tất nhiên bao trùm vùng biển cận Philippines và TQ cho rằng cần phải tranh chiếm để nắm giữ. Tham vọng của PLA nói chung và hải quân TQ nói riêng là làm sao có được sự kiểm soát biển (sea control) và phong tỏa biển (sea denial).
Dễ hiểu vì sao TQ viện nhiều lý lẽ và tạo ra những lý do vô căn cứ để không chỉ lấn chiếm biển Đông mà còn gây hấn với cả khu vực Hoàng Hải và biển Nhật Bản. Cơ bản là họ đã dựa trên 1 học thuyết hải chiến đầy ám ảnh bị bao vây bắt nguồn từ sự ngoại thuộc từ thời Bát Quốc Liên Quân. Sự mất cân bằng từ nỗi sợ đến từ biển dẫn đến ngụy tạo và tuyên truyền sai lệch cho dân chúng TQ về chủ quyền biển, về đường chữ U tưởng tượng. Sau đó đến lượt các chiến lược gia hải chiến bị chủ nghĩa dân tộc do chính họ tạo ra cuốn vào vòng xoáy đẩy kéo (push and pull) và bỏ qua chính sách phát triển hòa bình như gần đây (2005-2012).
Các tác giả Michael McDevitt, Frederic Vellucci Jr, Vijay Sakhuja đã chỉ ra sự liên đới của khái niệm phong tỏa biển không chỉ xảy ra với TQ mà còn với cả Ấn Độ và Indonesia. Bởi lẽ sea denial nơi đây bao gồm toàn bộ các khâu vô hiệu hóa lực lượng địch, diệt tiếp viện, và hoạt động tiến công tầm xa không chỉ liên quan đến S3 (sea-space-shore tức trên biển, trên bờ biển và trên không).
Hình : Nguồn http://www.globalsecurity.org/jhtml/jframe.html#http://www.globalsecurity.org/military/world/china/images/island-chains-image1.gif|||
Trong cuộc chiến Ấn Độ- Pakistan vào năm 1965, Indonesia đã đưa một đoàn tàu chiến đến ủng hộ Pakistan và ngăn chận Ấn Độ khiến nước này lúng túng vì không hề nghĩ rằng biển khi bị “đông cứng” sẽ nguy hiểm đến thế nào. Do khi ấy nguy cơ phải mở một mặt trận trên biển Andaman và đảo Nicobar khiến Ấn Độ phải chùn bước. Cũng vậy vào năm 1971, Mỹ điều động lực lượng Task Force 74 đến cùng USS Enterprise lại càng khiến Ấn Độ gia tăng hồi tưởng về những ngày họ phải đối phó với những kẻ thực dân đến từ biển.
Nếu như SLOCs là các đại lộ nối liền các châu lục, hiểm lộ (chokepoints) là những khúc ngoặt hiểm trở thì phong tỏa biển (sea denial) là một khái niệm rộng lớn hơn. Phong tỏa biển không chỉ bao gồm tiêu thổ, khước từ lưu thông, chia cắt các điểm mà còn bao gồm cả tấn công, phòng ngự chủ động không phải chỉ trên và dưới mặt biển mà còn bao gồm cả không trung và sâu trong lục địa như kho tàng, bến bãi và khu dân cư phục vụ lưu thông biển.
Nói đến câu chuyện gần đây, sự việc các cường quốc bị ám ảnh bởi các nỗi sợ hãi đến từ biển khơi, bị nghi hoặc bởi tính mù mờ của các lực lượng biển có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng. Có tác giả đã khẳng định sự yếu thế của Liên Xô tại Afghanistan dẫn đến sự tan rã quốc gia này vốn bắt nguồn từ chiến thuật sea- denial lòa lòa chớp chớp thành công vượt mức của Mỹ tải vùng biển Á Âu tiếp giap Afghanistan.[6]
Tóm lại
Cùng với các nhu cầu bảo đảm an ninh cho SLOC (sea lanes of communications- tuyến thông thương biển) nghiêng về kinh tế, thương mại đến sự cần thiết không để một thế lực nào có thể độc quyền kiểm soát hiểm lộ (chokepoints)[7], các lý thuyết hải chiến sau hai thế chiến đã phát triển lên một mức cao hơn. Các quốc gia cần tranh thủ biển nhiều hơn không chỉ do nhu cầu quốc phòng, kinh tế và từ đó những chiến lược khống chế biển bằng phong tỏa, kiểm soát, đánh chận tầm xa đã gia tăng cao độ. Các nhu cầu này có khi dẫn đến những suy nghĩ dân tộc chủ nghĩa, ích kỷ và kết quả là sự theo đuổi chính sách gây hấn, chà đạp luật quốc tế, gây căng thẳng giữa các quốc gia, trong khu vực và gây quan ngại toàn cầu như nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay.
Phong tỏa khu vực (area- denial) không mới trong nghệ thuật chiến tranh như phong tỏa dựa vào thời tiết (Nga-Napoleon), tiêu thổ kháng chiến (Nhà Trần kháng Nguyên), phá cầu đường, chận sông hồ.[8] Tuy nhiên, ngoài các cuộc phong tỏa biển (naval blockade) của Đồng Minh góp phần chiến thắng phe Trục trong thế thứ hai, chiến lược này mang những đặc điểm khoa kỹ mới mẻ không chỉ với giới quân sự, nghiên cứu mà cả với đại chúng. Phong tỏa biển nằm trong khoa học quốc phòng, không thể tách rời các mặt khác như ngoại giao, vận tải đường không, đường bộ, nhân khẩu học, tiếp liệu…
Không khác với TQ, Việt Nam đã nhận chịu sự tấn công đến từ cả đất lẫn biển đặc biệt ở thế kỷ 10, 13 và thế kỷ 19. Nhưng có thể nói, khác với TQ, thứ nhất Việt Nam đã nhiều lần dựa thế biển bộ để chống trả thành công; và thứ hai, VN chưa ứng dụng lý thuyết sea-denial hay sea-control để tiến ra biển mà vẫn dựa vào chủ quyền pháp lý có thực và luật pháp quốc tế để khai thác biển. Để bảo vệ hòa bình và phát triển kinh tế, người Việt Nam có lẽ không thể bỏ qua nắm bắt các diễn tiến và sử dụng các quan hệ và kiến thức liên quan biển, ngư nghiệp, và đặc biệt những thủ thuật, chiến thuật trong kho chung của nhân loại về hải dương, hải chiến cho đến hôm nay.
[1] David P. Murphy and Wilfred A. Herrmann, Maritime Strategy of the Democratic People Republic of Korea. Maritime strategy in Asia- White Lotus- 2002, trg 283
[2] Geoffrey Till and Patrick C. Bratton, Sea Power and the Asia Pacific- The triumph of Neptune. Trang 76
[3] Senior Captain Xu Qi, in Erickson and Goldstein, Naval War College Review, trang 57
[4] Theo tư liệu Michael McDevitt and Frederic Vellucci Jr, The evolution of the People’s Liberation Army Navy, Xuất bản đầu năm 2012!
[5] Li Xinqi, Tan Shoulin, Li Hongxia (Second Artillery Engineering College, Xian, China), “precaution Model and simulation Actualization on Threat of Maneuver Target group of the Sea,” August 1, 2005
[6] “The politics of maritime power”, Andrew T H Tan, Routledge, 2011, trang 43 “The Soviets began involved in Afghanistan because they imagined that an insurgency against a pro-Soviet government there was part of a concerted plan to penetrate the Muslim republics in the southern Soviet Union. They saw US hands in any disturbance, although in fact the problem, although in fact the problem was local (when the Soviets overthrew the government in Afghanistan, few, if any in the West understood that they were merely trying to install one which could win this war, in a grosser version of US support for the coup that overthrew the South Vietnamese government in 1963). The reason the Soviets could imagine that the USA was involved in an insurgency so many thousands of miles from its bases was that the USA routinely used its sea power around the Eurasian periphery. The reason that Pakistan allowed itself to become the conduit for aids to the insurgents was that its government had an entirely reasonable expectation that, should the Soviets try to neutralize it, US forces could come by sea to its rescue. If Afghanistan was the straw that broke the Soviet back, sea power made Afghanistan possible”
[7] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-09-23-cac-cuong-quoc-hai-duong-sloc-va-cac-hiem-lo-tren-bien
[8] Carl von Clausewitz dành 2 chương về Pháo đài (fortresses) trong Chiến Luận (On War) để bàn việc này.



